Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022
ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CỦA ĐẢNG TA
Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Thời gian gần đây, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng tiếp tục tiến hành đồng bộ, kịp thời phát hiện, xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, đặc biệt là liên quan đến vụ án Việt Á. Ông Chu Ngọc Anh (Nguyên ủy viên BCHTW - Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội, Nguyên Bộ trưởng Bộ KHCN) và Ông Nguyễn Thanh Long (Nguyên Ủy viên BCHTW - Bộ trưởng Bộ Y tế) đã bị xử lý bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng, cắt hết tất cả chức vụ chính quyền. Điều đó tiếp tục nhấn mạnh rằng công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là “không có ngoại lệ, không có vùng cấm”; đặc biệt là thu hồi lại những tài sản thất thoát của Nhà nước, giữ vững lòng tin của nhân dân vào chế độ.
Thế nhưng các thế lực thù địch tiếp tục tìm mọi cách để nói xấu Đảng ta, cho rằng đó là cuộc thanh trừng nội bộ, đấu đá tranh giành quyền lực. Đó là âm mưu hòng làm giảm uy tín của Đảng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ nội bộ ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chúng ta khẳng định, đó là do những cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, thiếu rèn luyện, xa sút ý chí, thoái hóa, biến chất nên xa ngã vào các thói hư, tật xấu, tham ô, tham nhũng… nên phải chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là đúng đắn, kịp thời, chuyển từ thế phòng ngự sang tiến công; thể hiện bản chất dân chủ, công bằng, văn minh của chế độ XHCN mà chúng ta đang xây dựng.
HỒNG PHÚC ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC TA CÒN LỚN!
Trong thời gian vừa qua, liên tục các tướng lĩnh trong công an, quân đội bị cách chức, kỷ luật, bị đưa vào vành móng ngựa. Điều này thể hiện ý chí, quyết tâm sắt đá của người cộng sản chân chính, kiên trung Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các cộng sự của mình.
Tất cả những sự cố gắng, quá trình đốt lò một cách công minh và mẫu mực đã đưa đất nước vượt qua cơn nguy biến. Lòng tin của nhân dân vào Đảng đã được lấy lại và củng cố, Nhân dân đoàn kết, đồng lòng tiếp tục tiến về phía trước, đến tương lai tươi sáng với một vị thế Việt Nam hùng cường hơn.
Với quyết tâm chính trị cao độ làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, bằng tinh thần thượng tôn pháp luật, những sâu bé sâu to, hổ báo cáo chồn gì cũng bị lôi ra ánh sáng để chịu tội trước pháp luật. Tới đây, sẽ còn nhiều kẻ nữa sẽ phải ra trước tòa chịu tội với pháp luật và sự phán xét của nhân dân. Và những người khác, “nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm thì hãy biết sớm tự gột rửa”, để không phải nhục nhã trong tội lỗi…
Không ít người cảm thấy tiếc thay với những giọt nước mắt muộn màng của những người phạm tội. Đó cũng là lẽ thường tình, là một biểu hiện của tính nhân bản, nhân văn. Có điều rằng, tình cảm đó đã bị lợi dụng và lèo lái sang chiều hướng khác, đó là các nhóm lợi ích còn trong bóng tối muốn giúp đỡ trốn tránh trách nhiệm. Thậm chí, đã có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy bàn tay của các tổ chức phi chính phủ NGO, giật dây cảm xúc để tiếp tục lũng đoạn chính trị Việt Nam, phục vụ cho những âm mưu nguy hiểm của chúng.
Đúng là ai cũng sẽ có trăn trở khi đồng chí, đồng đội mình đứng trước vành móng ngựa. Nhưng đừng bao giờ để tình cảm lấn át lý trí, nước mắt không thể làm nhòe công lý. Có như vậy thì đội ngũ mới trong sạch và vững vàng, bởi cơn nguy biến đã qua nhưng rất nhiều những nguy cơ vẫn đang rình rập phía trước, đang âm ỉ chờ phát tác từ những kẻ đang cuộn mình vào kén giấu thân chờ thời, đe doạ sự tồn vong không chỉ của chế độ mà cả sự tồn vong của dân tộc này.
Việt Nam không tin vào những giọt nước mắt, nếu nó rơi chỉ vì động lòng trắc ẩn trước những lời hoạt ngôn dân túy, hãy dành nước mắt đó cho những cảnh đời đói nghèo, đáng thương được gây ra bởi chính vấn nạn tham nhũng, lãng phí.
HIỂU CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN
LÀ PHẢI SỐNG VỚI NHAU CÓ TÌNH CÓ NGHĨA
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi làm việc với đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 17 tháng 6 năm 1968, về việc xuất bản cuốn sách “Người tốt, việc tốt” nhằm tuyên truyền, nêu gương những nhân tố tích cực, những cách ứng xử đúng đắn, đối đãi với nhau chân tình. Người đã dặn: Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định giá trị, bản chất cách mạng, khoa học, tính nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin mà mỗi người nói chung, cán bộ, đảng viên Ban Tuyên huấn Trung ương nói riêng phải ra sức học tập để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả vào quá trình công tác, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Hiện nay kinh tế, xã hội đất nước có bước phát triển mới, tốt hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; song lời dạy “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa” của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công tác giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên; là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận, đi đôi với việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo và giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn đặt ra.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là đội quân vô địch, quyết chiến, quyết thắng. Một trong những nhân tố để tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù, đó chính là quân đội ta luôn thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội; được nhân dân tin yêu, đùm bọc, chở che, giúp đỡ; không ngại gian khổ, hi sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Trong giai đoạn cách mạng mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải ra sức học tập lý luận chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; tích cực huấn luyện, rèn luyện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ; tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, thương yêu, quý trọng đồng chí, đồng đội, đoàn kết, giúp đỡ, chia sẻ với nhau trên tình thương yêu giai cấp ở mọi lúc, mọi nơi, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân trao tặng.
Nhiều nguoi cố tình 'đi lạc' vào làn thu phí không dừng
Các tài xế thấy làn thu phí tự động trống là chạy vào, dù xe không dán thẻ ETC, gây ùn tắc.
Thu phí không dừng từng bị đánh giá ì ạch, cơ quan triển khai nói rằng do áp dụng công nghệ mới nên phải có thời gian thử nghiệm, vừa làm vừa khắc phục lỗi.
Nhưng về yếu tố người sử dụng, tôi thấy rất nhiều bác tài nói rằng họ rất bực mình khi một số tài xế khôn lỏi, xe không dán thẻ ETC nhưng vẫn cố tình đi vào làn thu phí không dừng. Điều này gây ảnh hưởng đến những ôtô đã dán ETC đi ở phía sau.
Nhân viên trạm đã yêu cầu ôtô khách này lùi lại để vào làn thu phí thủ công. Cách xử lý này xem ra cũng thẳng tay, nhưng lại ảnh hưởng thời gian, quyền lợi của những ôtô đã dán thẻ ETC.
Trong clip, chỉ có một ôtô phía sau phải lùi. Thử hỏi, nếu có 2,3 ôtô nữa thì tất cả cũng phải lùi hay chăng?
Đã có quy định rõ về hành vi "Điều khiển xe không đủ điều kiện để thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng đi vào làn đường dành riêng thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng tại các trạm thu phí" sẽ bị phạt tiền 1-2 triệu đồng.
Hãy phạt những tài xế lái ôtô không dán thẻ ETC nhưng vẫn cố tình đi vào làn thu phí không dừng để họ chừa.
NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng là một yêu cầu quan trọng trong bất cứ hoàn cảnh nào của mỗi người, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Bởi chỉ khi nào có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chính trị nhạy bén thì lúc đó mới có khả năng nhìn nhận, đánh giá và xem xét vấn đề trên nhiều khía cạnh, nhận diện được cái đúng, cái sai và có tư duy, lý luận để bảo vệ cái đúng, phủ nhận, đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xuyên tạc, bóp méo sự thật.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trên không gian mạng xuất hiện nhiều nguồn tin không chính thống, các luồng tin giả, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử dân tộc, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…thì càng đòi hỏi mỗi cá nhân phải nâng cao hơn nữa nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để lựa chọn, phản bác, đấu tranh và góp phần xây dựng một không gian “tin sạch” và chính thống.
Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch vẫn đấu tranh một cách mạnh mẽ, công khai xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bóp méo thậm chí làm sai lệch các dữ kiện lịch sử, bôi nhọ lịch sử dân tộc Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là sự nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng đã làm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tình cảm của một số quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin, hoặc chưa có đầy đủ nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để nhìn nhận và tiếp nhận thông tin một cách chính xác, khách quan và qua những nguồn tin chính thống, có sự kiểm duyệt.
Trước thực trạng đó, bên cạnh việc kiểm duyệt nguồn tin, xây dựng một không gian tin chính thống, có nguồn gốc và độ tin cậy cao, tìm các giải pháp để đấu tranh, ngăn chặn và loại bỏ các luồng tin xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực thì một trong những biện pháp quan trọng đó là việc nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên để có thể tạo ra “sức đề kháng” trước các luồng tin xấu, tin không chính thống, bóp méo lịch sử, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch trên không gian mạng hiện nay.
Để có thể nâng cao được bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiện nay, nhất thiết cần phải chú ý một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo.
Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.
Thứ hai, cần giáo dục và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc nâng cao nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.
Nội dung này rất quan trọng, nên phải tiến hành một cách khoa học, có hệ thống và có sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban ngành của hệ thống chính trị và tất cả mọi người dân không trừ một ai. Bởi chỉ khi nào có sự tác động vào nhận thức, làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thay đổi theo hướng tích cực, có sự định hướng thì khi đó mỗi một hành động trong việc tiếp nhận thông tin mới có sự chọn lọc và loại bỏ được các thông tin mang tính chất tiêu cực, thông tin sai lệch, xuyên tạc, không chính thống.
Bên cạnh đó, cần quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.
Thứ ba, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa tất cả các cơ quan, banh ngành trong hệ thống chính trị từ cấp trung ương đến cơ sở để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.
Thứ tư, phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông, để tạo ra môi trường thông tin chính thống, dễ dàng tiếp nhận, dễ hiểu, dễ nghe và có tính thuyết phục cao đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Tóm lại, nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử dân tộc chính là một nội dung quan trọng trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay. Làm tốt vấn đề này sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra là: “chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vê độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”./
TỰ NGUYỆN DÂNG HIẾN, HY SINH VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN!
Tự nguyện đi theo con đường cách mạng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đã chọn. Đúng như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra một trong những nét đặc trưng nổi bật của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là “chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”.
1. Trong muôn vàn sự lựa chọn, có lẽ chọn sự hy sinh là cao cả và thiêng liêng nhất. Bởi hy sinh là chấp nhận khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, thậm chí mất mát. Nhưng không có sự hy sinh nào là vô nghĩa, nhất là hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì đồng đội, gia đình. Với quân nhân, lời thề danh dự thiêng liêng, cao quý đầu tiên chính là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam!”. Thế nên những người lính khi đã cất bước “ra đi đầu không ngoảnh lại”, nguyện một lòng một dạ “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Có những câu chuyện, những tấm gương hy sinh sẽ mãi được lịch sử ghi lại, các thế hệ đời đời nhớ ơn.
Mỗi khi nói đến sự hy sinh thì câu chuyện về những đồng đội ở đơn vị tôi vẫn luôn nhắc nhớ về bài học tri ân. Tôi vẫn nhớ như in một ngày giữa tháng 6-2016, trời chang chang nắng. Cái nắng lửa như thiêu đốt ruột gan thêm cồn cào, nhức nhối. Tôi cùng rất nhiều đồng đội dõi mắt lên bầu trời và đợi chờ. Thời gian như ngưng đọng, những gương mặt đăm chiêu mong ngóng người trở về. Nhưng không, máy bay Casa số hiệu 8983 thực hiện nhiệm vụ bay cứu hộ-cứu nạn đã nằm lại giữa biển khơi. Cả 9 người con ưu tú của Lữ đoàn 918 (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã ra đi mãi mãi. Biển biếc quê hương đã ôm trọn các anh vào lòng. 9 con người ra đi để lại phía sau là hậu phương, gia đình. Có vợ liệt sĩ đang mang bầu, có con liệt sĩ mới chập chững biết đi, có bố mẹ liệt sĩ mái đầu bạc trắng nhớ thương. Sự hy sinh, mất mát là rất lớn, để lại niềm tiếc thương cho đồng chí, đồng bào cả nước. Những cánh chim quả cảm đã hóa thân vào bầu trời Tổ quốc. Chuyến bay dở dang, ước nguyện chưa thành. Thế nhưng sự hy sinh của các anh đã truyền lửa tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để đồng đội tiếp tục cất cao cánh bay giữ trời Tổ quốc.
Có thể thấy giá trị nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hun đúc bởi nhiều yếu tố, trong đó đức hy sinh có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ấy là hành động nhận gian khó về mình để người khác được hưởng niềm vui, sẵn sàng hy sinh bản thân để người khác được hưởng bình yên, hạnh phúc. Trong xã hội, nếu “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”. Trả lời câu hỏi ấy, bộ đội sẽ không hề do dự. Họ sẵn sàng xung phong dấn thân vào nơi gian khổ, hiểm nguy với tinh thần “Vui gì hơn làm người lính đi đầu” (Tố Hữu). Người lính nhận về mình sự thiệt thòi để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội. Tinh thần đó, lý tưởng đó, hành động đó thật đáng trân trọng biết bao!
Sự hy sinh của bộ đội đã tạc vào lòng nhân dân hình ảnh vô cùng đẹp đẽ. Mới đây, đại dịch Covid-19 quét qua là lúc người lính xông pha diệt “giặc” nguy hiểm này. Một lần nữa, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ lại tỏa sáng, truyền thêm niềm tin cho cộng đồng xã hội. Nhân dân nhìn thấy bộ đội là thấy an lòng. Khi các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, bộ đội đến từng nhà trao quà an sinh, chữa bệnh, giúp tiêm vaccine, tuần tra, bám chốt, lo hậu sự cho người dân qua đời vì Covid-19... Chính trong thời điểm khó khăn, gian khổ đó lại càng tỏa sáng đức hy sinh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Biết bao cán bộ, chiến sĩ phải gác lại việc riêng, ngày đêm dầm mình trong sương gió canh gác, chốt chặn, phòng, chống dịch. Có nhiều đồng chí vì nhiệm vụ mà người thân ra đi không thể về chịu tang, đành vái vọng từ xa. Những sự hy sinh thầm lặng đó đâu dễ gọi tên.
2. Giữa thời bình, niềm vui ngập tràn trên từng nẻo đường, góc phố. Bình yên hiện hữu trên mỗi gương mặt người. Hạnh phúc nhân lên trong từng mái ấm. Thế nhưng xin hãy nhớ rằng, nơi biên cương, hải đảo, ở những đồn biên phòng, kho quân khí, trạm radar, nhà giàn xa xôi vẫn có những người lính ngày đêm lặng thầm thực hiện nhiệm vụ. Họ công tác, sinh hoạt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa bàn xa xôi, phức tạp, cơ sở vật chất khó khăn, thiếu thốn. Nhiều đồng chí đã gắn bó cả thanh xuân nơi miền biên viễn hay ngoài trùng khơi. Đâu chỉ khó khăn về điều kiện công tác, họ còn thiếu thốn tình cảm, hơi ấm gia đình. Những khi mọi người sum họp bên người thân, họ chỉ biết đứng lặng dõi về quê hương; những khi mọi người được vui chơi, ca hát, họ phải dầm mình trong màn sương gió lạnh; những khi mọi người quần áo tinh tươm dạo bước nơi phố phường thì họ lặng lẽ hành quân giữ chắc tay súng...
Đôi khi niềm ước mong của bộ đội rất giản dị, chỉ là một bữa cơm bên gia đình, một cái ôm thật chặt với con yêu. Ở chiều ngược lại, nơi hậu phương là sự khắc khoải đợi chờ, con mong cha, vợ ngóng chồng ngày về sum họp. Thế nên, không những người lính hy sinh mà gia đình, người thân của họ cũng phải chịu thiệt thòi. Nói đến hy sinh đâu chỉ là mất mát, ra đi, mà sự hy sinh còn biểu hiện sinh động từ những điều rất nhỏ. Ấy thế nhưng nếu không đủ mạnh mẽ, chúng ta cũng không dễ hy sinh những điều nhỏ như thế.
3. Thời nay, khi cuộc sống xã hội phát triển, sự so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa được và mất, thiệt và hơn càng rõ nét hơn, không phải ai cũng dễ dàng nhận lấy phần khó khăn, gian khổ. Bộ đội cũng không nằm ngoài những tác động từ đời sống xã hội, những áp lực vô hình ảnh hưởng đến tâm tư, nguyện vọng của mỗi người. Phía sau niềm vinh dự, tự hào vẫn còn những nỗi niềm trăn trở của người lính khi phải hy sinh những lợi ích bản thân vì nhiệm vụ chung. Bởi vậy, bộ đội rất cần sự quan tâm và chia sẻ từ xã hội. Sự động viên thể hiện ở các chính sách hỗ trợ thiết thực đối với bộ đội, nhất là chế độ về đất ở, nhà ở, tiền lương, nghỉ phép, trợ cấp... để quân nhân và gia đình họ có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn.
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi quân nhân cũng ít nhiều chịu sự chi phối bởi các mối quan hệ. Hậu phương là một trong những nỗi lo của người lính khi xa nhà. Cha mẹ, vợ con bộ đội đang cần những sự quan tâm thiết thực như bao gia đình khác, nhưng vì điều kiện công tác xa nhà mà không phải lúc nào quân nhân cũng lo toan chu đáo, vẹn tròn. Thế nên, để bộ đội yên tâm công tác, để mỗi tổ ấm của người lính thực sự là bến neo đậu bình yên của họ, mong sao có sự chăm lo nhiều hơn nữa từ các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương. Thật ý nghĩa biết bao khi gia đình quân nhân khó khăn được kịp thời giúp đỡ, tổ ấm quân nhân hạnh phúc được tôn vinh, con em bộ đội được khuyến khích, tạo điều kiện trong học tập, công tác. Mỗi hành động, việc làm ý nghĩa từ xã hội sẽ là động lực để cán bộ, chiến sĩ quân đội và gia đình họ có thêm niềm tin vượt mọi khó khăn, tiếp tục phấn đấu, cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc và nhân dân./.
Yêu nước ST.
Vun trồng cho nguyên khí thịnh
Khi trí thức suy thoái
Trong vụ án tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á, y tế và khoa học công nghệ là những ngành bị thiệt hại nặng nề nhất về nguồn nhân lực khi có hàng loạt trí thức và đảng viên trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam phục vụ công tác điều tra. Trong số đó, nhiều người có học hàm, học vị cao, có trình độ cao cấp lý luận chính trị; được phong tặng danh hiệu cao quý; giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp ở bộ, ngành, địa phương. Nghiên cứu quá trình học tập, công tác của những trí thức thuộc lớp tinh hoa này, dư luận xã hội không khỏi tiếc nuối. Tiếc là bởi, trước khi các hành vi tham nhũng, tiêu cực bị phát hiện, họ từng có quá trình học tập, công tác, cống hiến đáng ngưỡng mộ. Nhiều đề tài khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các cá nhân và nhóm tác giả có họ tham gia đều có tính ứng dụng, giá trị thực tiễn cao. Không ít người đang là “hạt giống đỏ”, nằm trong quy trình cơ cấu, bổ nhiệm các chức vụ cao hơn trong công tác cán bộ. Nếu biết giữ mình trong sạch, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những trí thức ấy thực sự là tài sản quý góp phần làm nên nguyên khí quốc gia. Họ không chỉ đóng góp cho khoa học trên cương vị, chức trách được giao mà còn tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực kế cận và kế tiếp cho đất nước.
Cũng chính vì có cảm giác tiếc nuối ấy nên trong dư luận xã hội đã có không ít ý kiến nhận xét, đánh giá mang tính cực đoan, võ đoán, tiêu cực. Họ cho rằng, tham nhũng, tiêu cực là do cơ chế quản lý. Rằng, muốn chống tham nhũng, tiêu cực thì phải thay đổi từ gốc, tức là từ cơ chế quản lý của Nhà nước, từ chủ trương, đường lối của Đảng. Nếu chỉ chống bằng điều tra, bắt bớ, thì “tra đâu sai đó”, “khui đâu dính đó”... Thậm chí, một số người nhân danh “đấu tranh phản biện” còn cho rằng, trí thức Việt Nam đang vào thời kỳ “mạt vận”, rằng nếu cứ bắt nhiều như thế, đất nước sẽ rất khó thu hút, giữ chân hiền tài...
Đảng ta rất coi trọng vai trò của đội ngũ trí thức, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức là một trong những quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, khi hàng loạt trí thức, trong đó có nhiều trí thức giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt vướng vào vòng lao lý, các phần tử cực đoan có tư tưởng chống đối đã nhân cơ hội “té nước theo mưa”. Những quan điểm cực đoan, sai trái từ một số đối tượng trong nước và đối tượng lưu vong ở nước ngoài đã được các thế lực thù địch tập trung khai thác. Họ lấy đó làm cái cớ để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền, công kích, chống phá Đảng và Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị, cổ xúy đa nguyên, đa đảng, kích động đội ngũ trí thức từ bỏ Đảng, quay lưng với lợi ích quốc gia-dân tộc...
Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của suy thoái
Danh sĩ Thân Nhân Trung từ thế kỷ 15 đã khái quát: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp...”. Bên cạnh đề cao vai trò của hiền tài, danh sĩ nổi tiếng thời hậu Lê cũng đã chỉ ra những nguy cơ, biểu hiện sa ngã, tiêu cực có thể khiến hiền tài trở thành tội đồ của đất nước. Ông viết: “... Trong số đó cũng có kẻ vì hối lộ mà hư hỏng, hoặc sa ngã vào cùng loại với bọn gian ác... Thảng hoặc chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học, hạnh kiểm sa sút, danh giáo nhuốc nhơ...”.
Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy, sự tha hóa đạo đức trong đội ngũ hiền tài không chỉ là mặt trái của xã hội thời nay mà nó đã tồn tại, diễn biến song song với sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội, các triều đại lịch sử. Bởi trí thức là tầng lớp được xã hội trọng vọng, nên nếu không giữ vững tư cách, phẩm chất, không thấy rõ bổn phận, trách nhiệm phụng sự quốc gia, phụng sự nhân dân thì rất dễ sa ngã. Và khi sa ngã là trí thức đã tự đẩy mình xuống “cùng loại với bọn gian ác”, “danh giáo nhuốc nhơ”... Nguyên nhân là bởi: “Chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học...”.
Ngẫm thông điệp của ông cha, soi rọi trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay mới thấy, đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Sự suy thoái của trí thức và đảng viên trí thức cũng chính từ căn nguyên ấy mà ra. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân".
Chăm lo vun trồng, diệt trừ sâu bệnh
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, mở rộng cơ chế, tạo điều kiện để các nhà khoa học, đội ngũ trí thức tham gia ngày càng nhiều hơn, sâu hơn vào các hoạt động kinh tế-xã hội, giữ các cương vị chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp, nhất là ở các bộ, ngành. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học... Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học”... Đảng ta chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài.
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức, trọng dụng nhân tài là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa, phát triển tư tưởng của tiên tổ, ông cha, lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên, củng cố sự bền vững của quốc gia... Với tinh thần lấy xây để chống, xây kết hợp với chống, muốn vun trồng cho nguyên khí hưng thịnh, bên cạnh các chính sách trọng dụng, đãi ngộ ngày càng cao, Đảng luôn coi trọng phòng, chống suy thoái, tiêu cực. Diệt trừ sâu bệnh là việc không thể thiếu trong quá trình vun trồng, chăm sóc cho nguyên khí quốc gia.
Với những nỗ lực và kết quả đạt được hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta đã mở rộng phạm vi xây dựng, chỉnh đốn cả trong hệ thống chính trị. Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 27-4-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đưa thêm yếu tố tiêu cực vào chứ không phải chỉ có phòng, chống tham nhũng. Tiêu cực ở đây rất rộng nhưng chủ yếu là sự suy thoái về phẩm chất, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay đã bám sát quan điểm chỉ đạo được nêu rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đó là: Kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội...
Như vậy, việc đấu tranh để lôi ra những thành phần suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức là chủ trương được thể hiện rất rõ trong các nghị quyết của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh nhằm làm trong sạch đội ngũ, để trí thức Việt Nam thực sự là đội ngũ vừa có đức, vừa có tài, là cách vun trồng cho nguyên khí thịnh. Những luận điệu suy diễn, lấy cớ nhiều trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam do tham nhũng, tiêu cực rồi quy chụp, chỉ trích do Đảng lãnh đạo, cơ chế quản lý yếu kém là thủ đoạn đánh tráo khái niệm của các thế lực thù địch và các phần tử phản động. Trước các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động kiểu “nội công ngoại kích” nhắm vào đội ngũ trí thức, nhằm làm phân hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, có biện pháp đấu tranh, phản bác. Chúng ta cần nhận thức đúng bản chất vấn đề để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sạch và củng cố vị thế, vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường.
Bảo vệ biển Việt Nam là bảo vệ luật pháp quốc tế
Giá trị của Luật Biển Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 trong việc phân định, quản lý, bảo vệ biển cũng như việc bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên biển và giải quyết các vấn đề trên biển tiếp tục được phân tích rõ hơn trong cuộc trả lời phỏng vấn của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng với Báo Quân đội nhân dân.
Phóng viên (PV): Sự ra đời của Luật Biển Việt Nam có thể được coi là kết quả của quá trình nội luật hóa UNCLOS. Thượng tướng có thể cho biết chủ trương, nguyên tắc của Việt Nam khi áp dụng hai văn bản pháp lý này vào việc phân định, quản lý biển và giải quyết các vấn đề trên biển?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Trước hết, để sử dụng, bảo vệ và hoạt động trên vùng biển của Việt Nam, chúng ta dựa vào hai công cụ pháp lý cơ bản, về quốc tế là UNCLOS và về nội bộ là Luật Biển Việt Nam năm 2012. Hiện thế giới có nhiều công ước, luật quốc tế hoặc văn bản pháp lý nhưng không phải do tòa án đưa ra mà xuất phát từ cam kết của các nước có biển. Do đặc điểm của UNCLOS như vậy mà mỗi nước cần phải có luật biển của riêng mình, song về cơ bản đều phải tuân thủ và dựa trên cơ sở công ước này.
Phải nói thêm rằng, các công ước hoặc luật quốc tế nói chung chứ không riêng về biển, đều ít nhiều có sự lỏng lẻo, trước hết là không có tính chế tài và chỉ là cam kết chính trị giữa các quốc gia. Bên cạnh đó, các nước có thể diễn giải các công ước và luật quốc tế liên quan tới biển và đại dương theo ý chủ quan hay vì lợi ích của họ. Nhưng suy cho cùng, UNCLOS và một số luật quốc tế vẫn đạt được yêu cầu tối thiểu, đó là nêu ra “những vấn đề chung không thể diễn giải khác đi được”. Ví dụ, UNCLOS quy định về thềm lục địa của mỗi quốc gia có biển, các quy tắc ứng xử trên biển... Chúng ta bám vào những điều này để đấu tranh bảo vệ chủ quyền.
Việc tham gia UNCLOS giúp chúng ta có khái niệm về biển Việt Nam, nhưng khái niệm đó chỉ được “cân, đong, đo, đếm” nhờ sự ra đời của Luật Biển Việt Nam vào năm 2012. Trong đó, việc đầu tiên là chúng ta xác định ranh giới biển Việt Nam, bao gồm đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo... Trên cơ sở UNCLOS, chúng ta đưa ra quy định về Cồn Cỏ, Trường Sa hay Phú Quốc... một cách cụ thể, tỉ mỉ. Nói cách khác, việc cụ thể hóa UNCLOS vào điều kiện của Việt Nam giúp chúng ta từ chỗ mường tượng về biển đã xác định rõ ranh giới, bản đồ cụ thể về biển Việt Nam để tổ chức lao động hòa bình, tự do thương mại, bảo vệ chủ quyền trên biển.
Thế nhưng, thách thức mà Luật Biển Việt Nam hay luật biển của các nước đang đối mặt là một số khu vực biển chồng lấn lên nhau, hoặc có sự lý giải khác nhau giữa các nước, khiến việc phân định trên biển rất khó khăn. Luật Biển Việt Nam giúp chúng ta xác định những khu vực chồng lấn, những khu vực có các quan điểm khác nhau giữa các nước để từng bước giải quyết.
Ngoài ra, sự ra đời của Luật Biển Việt Nam đã bác bỏ toàn bộ, rõ ràng, tuyệt đối những tuyên bố, yêu sách phi lý mà một số nước đưa ra. Thực hiện Luật Biển Việt Nam không chỉ là quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam mà còn là bảo vệ luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS.
PV: Một trong những đặc điểm của UNCLOS là quy định quyền và sự bình đẳng cho các nước. Vậy khi có quốc gia cố tình áp dụng sai, thậm chí là trái ngược hoàn toàn với những quy định của UNCLOS để đưa ra các yêu sách về chủ quyền và cách hành xử phi lý, các nước bị vi phạm quyền và lợi ích cần giải quyết theo hướng nào, thưa Thượng tướng?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Như tôi đã nói, UNCLOS là văn kiện không mang tính chế tài, nhưng vẫn có những điều không thể giải thích khác đi được, nhất là đối với những nước đã tham gia vào công ước này. UNCLOS đặc biệt có tác dụng với những nước tham gia bởi tính đa số và tính quốc tế hóa của nó.
Trong quan hệ với những quốc gia không tham gia UNCLOS thì chúng ta áp dụng Luật Biển Việt Nam để làm chế tài. Họ phải chấp nhận và tôn trọng Luật Biển Việt Nam, tuân thủ quy định của chúng ta về quản lý thềm lục địa, thềm lục địa kéo dài, xuất nhập cảnh... Nếu không thực hiện các quy định này nghĩa là họ xâm phạm lợi ích quốc gia-dân tộc của chúng ta. Luật Biển Việt Nam dựa trên cơ sở UNCLOS và bởi vậy, UNCLOS vẫn có ý nghĩa và sức nặng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.
Bảo vệ chủ quyền trên biển trên cơ sở những quy định của UNCLOS trên hết là nuôi dưỡng biển như một ngôi nhà chung. Bảo vệ biển là bảo vệ môi trường biển, bảo vệ lao động hòa bình trên biển, bảo vệ thương mại tự do, vận tải biển, và hiện nay còn là bảo vệ trên mặt biển, dưới mặt biển, trên không trong khu vực biển. Chúng ta bảo vệ biển Việt Nam cũng là đóng góp vào việc bảo vệ biển chung của thế giới và bảo vệ luật pháp quốc tế.
Ngoài ra, chúng ta cần bảo vệ pháp luật trên biển, bao gồm luật quốc tế và luật của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã tham gia vào nhiều luật quốc tế trên các lĩnh vực như tự do hàng hải, bảo vệ môi trường biển hay chống cướp biển...
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, chúng ta đưa các vấn đề liên quan tới biển ra quốc tế không phải để quốc tế lên án một quốc gia nào đó, mà vì biển là tài sản chung, cần sự chung tay xử lý của cộng đồng quốc tế. Những luận giải vì lợi ích cục bộ, vì tham vọng chủ quyền trên biển đều có thể bị bác bỏ bởi chính UNCLOS và do đó, UNCLOS là công cụ đấu tranh bảo vệ biển chung cho nhân loại và cho từng nước.
Ngoài ra, Việt Nam xác định không dùng “sức mạnh cơ bắp” mà lựa chọn giải pháp đấu tranh hòa bình để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên biển. Sử dụng “sức mạnh cơ bắp” chỉ là phương án cuối cùng.
PV: Việc bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên biển và triển khai các hoạt động kinh tế biển của Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đang đứng trước những thách thức gì, thưa Thượng tướng?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Đánh bắt, tận diệt tài nguyên biển bằng thuốc nổ, hóa chất, lưới vét, lưới cào hay đánh bắt vào mùa sinh sản của sinh vật biển là một vấn nạn nguy hiểm. Nhưng chớ quên, còn những vấn đề hủy hoại môi trường biển khác, chẳng hạn như phá hoại các nền tảng san hô.
Hiện nay, ở khu vực quần đảo Trường Sa có một hiểm họa cho môi trường biển, đó là việc một số bên khai thác san hô biển một cách thái quá để làm căn cứ quân sự hoặc sân bay. Ngoài tác động tiêu cực về mặt an ninh, việc thay đổi cấu trúc đáy biển và hủy hoại san hô-vốn được coi như “đất của biển”-đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, mà theo ngôn ngữ khoa học gọi là những thay đổi làm triệt hạ môi trường biển không có khả năng tự phục hồi. Đây là vấn đề cần đấu tranh và là trách nhiệm của không riêng quốc gia nào.
Đánh bắt cá theo luật pháp cũng là vấn đề mà các nước cần quan tâm. Trên thực tế, một số ngư dân chưa nắm được giới hạn biển của nước mình đến đâu, hoặc đôi khi vì cuộc sống mà họ cố tình khai thác thủy sản ở ngoài khu vực biển của nước mình. Trách nhiệm của mỗi quốc gia là cần tăng cường giáo dục ngư dân, đồng thời cương quyết xử lý những trường hợp vi phạm. Với ngư dân Việt Nam, chúng ta đã giáo dục, hỗ trợ họ đánh bắt đúng luật bằng nhiều cách, ví dụ như tổ chức các lớp tập huấn, lắp máy định vị miễn phí cho ngư dân, cho họ vay vốn đóng tàu và có cẩm nang, sổ tay hướng dẫn họ đánh bắt đúng khu vực quy định... Với ngư dân các nước khác đánh bắt trái phép trong vùng biển của Việt Nam, chúng ta cương quyết nhưng thông cảm, bao dung và đặc biệt không sử dụng vũ lực với họ. Thậm chí, chúng ta còn cấp gạo, nước, dầu để họ trở về an toàn. Dĩ nhiên, chúng ta cũng yêu cầu các nước đối xử với ngư dân Việt Nam như vậy.
Tuy nhiên, việc một số quốc gia dung túng cho ngư dân sang đánh bắt cá trái phép tại vùng biển nước ngoài, trong đó có vùng biển của Việt Nam, là điều không thể chấp nhận được.
Đấu tranh với các hành động cố ý phá hoại môi trường biển, tận diệt các loài thủy sinh chính là hành động bảo vệ biển Việt Nam. Tất nhiên trong thực tế vẫn còn nhiều trở ngại nhưng chúng ta không bao giờ buông bỏ vấn đề này.
PV: Theo Thượng tướng, các mô hình hợp tác quản lý và bảo vệ biển cần bám sát nguyên tắc nào nhằm đạt được mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trên biển?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Hiện nay có nhiều nước, cặp nước, nhóm nước tổ chức ra những mô hình để bảo vệ biển trong các vấn đề về môi trường, tự do thương mại, chống cướp biển, chống buôn lậu, chống buôn người trên biển. Nhưng hãy nhớ rằng, những sự hợp tác đó cần phải tuân thủ luật biển quốc tế vì biển là tài sản chung, không phải của riêng nước nào và nhóm nước nào.
Thực tế cũng cho thấy các quốc gia trong khu vực đã và đang hợp tác ở cả bình diện song phương và đa phương về các vấn đề nói trên. Điều quan trọng là sự hợp tác đó phải xuất phát từ thực tâm và tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế.
Theo dấu chân Người
- Ngày 23-6-1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.
Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng... Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa...”.
Cuối cùng, Người kết luận: “Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!”
- Ngày 23-6-1946, tiếp tục cuộc thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pháp, tiếp bà con Việt kiều trong đó có nhiều cháu nhi đồng.
- Ngày 23-6-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Quốc trưởng Campuchia Nôrôđôm Xihanúc nhân dịp nước ta và Vương quốc Campuchia chính thức lập quan hệ ngoại giao và đánh giá “đó là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, một nhân tố tích cực trong việc giữ gìn hòa bình ở Đông Dương và Đông - Nam Á”.
- Ngày 23-6-1969, Bác gửi thư tới Đại sứ quán Liên Xô nhờ chuyển lời cảm ơn tới nữ Anh hùng Liên xô Irina Levtchenko đã tặng sách và qua Tổng Lãnh sự Ấn Độ cảm ơn bà Inđira Ganđi đã gửi biếu Bác một quả xoài Ấn Độ. Buổi chiều ngày hôm đó, mặc dù sức khoẻ đã yếu, Bác đến thăm tận nơi ở của Phái đoàn Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Trong câu chuyện thân tình với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Bác cho biết: “Tôi đã bỏ thuốc lá rồi, cụ ạ!... Tôi cũng phải đấu tranh với bản thân ghê gớm lắm mới bỏ được thuốc lá đó, cụ ạ!”.
“NHÂN DÂN LÀ TAI MẮT CỦA ĐẢNG”
Trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ tình trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, diễn ra rất khó khăn, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chúng ta phải làm nhiều việc. Đặc biệt, cần thấy rõ vai trò rất quan trọng của “tai mắt” nhân dân trong cuộc đấu tranh này.
Bàn về mục tiêu lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, muốn hoàn thành mục tiêu lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh, Đảng phải gắn bó máu thịt với dân. Đảng phải biết dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân.
V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Quan điểm ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Chính phong trào đấu tranh của nhân dân là cái nôi mà Đảng ta sinh ra và tôi luyện để Đảng ta phát triển. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, chính nhờ được nhân dân chở che, đùm bọc, bảo vệ và hiến kế mà Đảng ta ngày càng trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dân tộc Việt Nam ta đã đánh bại những kẻ xâm lược hung bạo nhất, lập nên những chiến thắng lừng lẫy, những mốc son chói lọi, viết nên những trang sử hào hùng. Yếu tố quyết định để có điều ấy là Đảng ta đã quy tụ và phát huy được sức mạnh của lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
Những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trong hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước càng chứng minh rõ vai trò to lớn của nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc, quý báu mà Đảng ta rút ra từ sự nghiệp đổi mới là: Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc...
Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm gần đây càng thêm khẳng định vai trò của nhân dân. Tâm tư, nguyện vọng; những kiến nghị, đề xuất; những phát minh, sáng kiến nảy sinh từ thực tiễn lao động sản xuất và chiến đấu của nhân dân là yếu tố quan trọng góp phần hình thành, hoàn thiện đường lối, chủ trương, quyết sách của Ðảng. Không chỉ góp phần hình thành, hoàn thiện mà chính nhân dân còn là nguồn lực, sức mạnh để biến những chủ trương, quyết sách của Đảng đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực.
Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng. Không ít biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là nhiều hiện tượng tiêu cực, hành vi tham nhũng của cán bộ, đảng viên đã được phát hiện qua tai mắt nhân dân. Một yếu tố rất quan trọng tạo nên những kết quả ấy là Đảng ta đã biết phát huy tai mắt của nhân dân.
Từ thực tiễn, có thể khẳng định rằng: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, mà là trách nhiệm của toàn dân, của toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát và khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Đặc biệt, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói riêng, nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đúng như lời Người đã dạy dù khó khăn, phức tạp mấy có nhân dân giúp đỡ, được nhân dân đồng tình, ủng hộ nhất định Đảng ta sẽ vượt qua và cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra./.
st
11
10 LƯU Ý CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC KHI SỬ DỤNG FACEBOOK
Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội kèm theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021.
Điều 5 Bộ quy tắc ban hành kèm theo Quyết định này quy định về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi sử dụng mạng xã hội.
Theo đó, 10 lưu ý dành cho cán bộ, công chức, viên chức khi sử dụng facebook như sau:
1. Trước khi đăng ký, tham gia facebook cần tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng;
2. Nên sử dụng họ, tên thật của mình khi đăng ký tài khoản facebook để xác thực đầu mối liên lạc khi tham gia, sử dụng facebook;
3. Tự quản lý, bảo mật tài khoản facebook và nhanh chóng thông báo tới các cơ quan chức năng, nhà cung cấp dịch vụ khi tài khoản bị mất quyền kiểm soát, bị giả mạo, lợi dụng và sử dụng vào mục đích không lành mạnh;
4. Chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy.
5. Có các hành vi, ứng xử phù hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam; không sử dụng từ ngữ gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt vùng miền, giới tính, tôn giáo.
6. Không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm ảnh hưởng đến các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép...
7. Khuyến khích sử dụng facebook để tuyên truyền, quảng bá về đất nước - con người, văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, chia sẻ thông tin tích cực, những tấm gương người tốt, việc tốt.
8. Vận động người thân trong gia đình, bạn bè, những người xung quanh tham gia giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội một cách an toàn, lành mạnh.
9. Thực hiện nội quy của cơ quan, tổ chức về việc cung cấp thông tin lên facebook;
10. Thông báo tới cơ quan chủ quản để kịp thời có hướng xử lý, trả lời, giải quyết khi có những ý kiến, thông tin trái chiều, thông tin vi phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực quản lý của cán bộ, công chức, viên chức.
Đồng thời, khi sử dụng facebook phải tuân thủ các quy tắc ứng xử chung như: Tôn trọng, tuân thủ pháp luật; An toàn, bảo mật thông tin; Trách nhiệm.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 17/6/2021.
HỘI NGHỊ BỘ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG CÁC NƯỚC ASEAN LẦN THỨ 16 THÔNG QUA TUYÊN BỐ CHUNG !
Trưa 22-6, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) lần thứ 16 đã bế mạc. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung của ADMM-16 về “Đoàn kết vì một nền an ninh hài hòa”.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn Đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự hội nghị.
Tại hội nghị, các đại biểu đã trao đổi về tình hình an ninh, quốc phòng khu vực và quốc tế. Các đại biểu nhất trí tăng cường hợp tác xử lý các thách thức khác ở khu vực, như: Khủng bố, thảm họa thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, an ninh mạng, xây dựng lòng tin và các vấn đề liên quan đến an ninh biển, an toàn tự do hàng hải và hàng không. Các đại biểu cũng đề cập tới việc thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giữa các nước ASEAN. Hội nghị cũng nhất trí công nhận vai trò của các tổ chức quốc phòng trong giải quyết các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN với tư cách là động lực chính trong cấu trúc an ninh khu vực đang phát triển.
Liên quan đến an ninh biển, các đại biểu nhắc lại tầm quan trọng của việc sớm hoàn thiện Bộ Quy tắc về ứng xử ở Biển Đông (COC), đánh giá cao tiến bộ trong đàm phán COC thời gian qua và khẳng định cam kết của tất cả các bên trong thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận về vấn đề tăng cường chia sẻ thông tin giữa sáng kiến Hợp tác thực thi pháp luật trên biển khu vực Đông Nam Á (SEAMLEI) và ADMM+ trong lĩnh vực an ninh hàng hải; về việc nghiên cứu lịch sử quân sự nhằm thúc đẩy hòa bình bền vững. ADMM-16 cũng thông qua hoạt động hợp tác với các nước Cộng và đề cập đến một số nội dung khác như chuẩn bị cho Hội nghị hẹp Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM Retreat) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) lần thứ 9 sẽ được tổ chức vào tháng 11-2022.
Hội nghị ADMM-16 đã thông qua các sáng kiến mới trong ADMM như: Tài liệu khái niệm về tăng cường hợp tác giữa lực lượng quốc phòng các nước ASEAN trong kiểm soát dịch bệnh xuyên biên giới; Tài liệu khái niệm về tăng cường cơ chế hỗ trợ nữ quân nhân ASEAN tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình; Tài liệu khái niệm về thiết lập quan hệ hợp tác giữa các học viện quốc phòng ASEAN (ADEIC); Điều khoản tham chiếu Trung tâm Chất lượng cao ADMM về an ninh mạng và thông tin (ACICE); Tầm nhìn Phnom Penh về vai trò của cơ quan quốc phòng các nước ASEAN trong hỗ trợ phục hồi sau dịch Covid-19.
Hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung của ADMM-16 về “Đoàn kết vì một nền an ninh hài hòa”. Tuyên bố chung của ADMM-16 tái khẳng định việc tuân thủ các nguyên tắc và mục tiêu cơ bản được nêu trong Hiến chương ASEAN và Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) nhằm tăng cường vai trò trung tâm, sự đoàn kết của ASEAN và duy trì trật tự khu vực dựa trên các luật lệ phù hợp với luật pháp quốc tế vì lợi ích của người dân; cũng như vai trò trung tâm của ASEAN là động lực chính trong việc tăng cường hợp tác quốc phòng-an ninh và các biện pháp xây dựng lòng tin với các đối tác bên ngoài, với mục tiêu chung là duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong một cấu trúc khu vực rộng mở, minh bạch và dung nạp.
Tuyên bố chung của ADMM-16 nhấn mạnh sự cần thiết duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho việc sớm hoàn tất một COC hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Tuyên bố chung đồng thời nhấn mạnh việc thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC, hoan nghênh các sáng kiến xây dựng lòng tin và các hoạt động trong khuôn khổ khác DOC nhằm tăng cường thông tin liên lạc và sự tin cậy lẫn nhau.
* Cũng trong ngày 22-6, Bộ trưởng Phan Văn Giang cùng trưởng đoàn các nước tham dự hội nghị đã tới chào xã giao Thủ tướng Chính phủ Campuchia Hun Sen. Tại cuộc gặp, Bộ trưởng Quốc phòng Brunei Bin Haji Md Yussof đã thay mặt trưởng đoàn các nước ASEAN báo cáo về kết quả Hội nghị ADMM-16. Thủ tướng Campuchia Hun Sen đánh giá cao và hoan nghênh Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN đã đến Campuchia để tham dự Hội nghị sau thời gian gián đoạn do dịch Covid-19. Những kết quả mà hội nghị lần này đạt được, đặc biệt là sự tham gia đầy đủ của lãnh đạo Bộ Quốc phòng 10 nước ASEAN, thể hiện nỗ lực của Bộ Quốc phòng các nước ASEAN trong việc tăng cường hợp tác thiết thực, khẳng định sự đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








