Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Quy định về chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố.

 Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Võ Văn Thưởng vừa ký Quy định số 67-QĐ/TW, ngày 2-6-2022 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tạp chí Xây dựng Đảng xin trân trọng giới thiệu toàn văn Quy định.



- Căn cứ Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII;

- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIII;

- Căn cứ Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực;

Ban Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban Chỉ đạo cấp tỉnh) như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này quy định về chức năng, phạm vi chỉ đạo, nguyên tắc hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

2. Quy định này áp dụng đối với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh (viết tắt là Cơ quan Thường trực) và cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan.

Điều 2. Chức năng của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

Ban Chỉ đạo cấp tỉnh do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương thành lập, chịu trách nhiệm trước ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (viết tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương) trong việc chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ở địa phương).

Điều 3. Phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

1. Chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở địa phương.

2. Trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Điều 4. Nguyên tắc làm việc

1. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ; đồng thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

2. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể thảo luận, Trưởng ban kết luận và chỉ đạo thực hiện.

3. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; tuân thủ quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tôn trọng, không làm cản trở hoạt động bình thường và không làm thay nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Chương II

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY

Điều 5. Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

1. Tham mưu, đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ xây dựng, ban hành nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch để cụ thể hoá và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoặc tham mưu, đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kết luận, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và kết luận, kiến nghị của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

3. Chỉ đạo, đôn đốc, điều hoà phối hợp, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

4. Chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ thông qua hoạt động theo phạm vi trách nhiệm được giao làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục sai phạm; đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật có liên quan.

5. Chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng và các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

6. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và cấp uỷ viên, đảng viên có thẩm quyền trong xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng, tiêu cực và xử lý thông tin về vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp, kiến nghị.

7. Chỉ đạo tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; định hướng cung cấp thông tin về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin, đưa tin về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và những hành vi lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ.

8. Tổ chức sơ kết, tổng kết, định kỳ và đột xuất báo cáo ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương và kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

9. Thực hiện các nhiệm vụ khác do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Chỉ đạo Trung ương giao.

Điều 6. Quyền hạn của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

1. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền của địa phương báo cáo công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng, tiêu cực; việc thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền lãnh đạo, quản lý.

2. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo xem xét lại việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý khi có căn cứ cho rằng việc kết luận, xử lý chưa khách quan, chính xác, nghiêm minh.

3. Yêu cầu các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của địa phương kết luận, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Trực tiếp chỉ đạo về chủ trương xử lý đối với một số vụ án, vụ việc cụ thể hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền xem xét lại việc giải quyết hoặc giải quyết lại nhằm bảo đảm việc xử lý nghiêm minh, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong trường hợp cần thiết quyết định thành lập các tổ công tác liên ngành để chỉ đạo thực hiện, phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

4. Kiến nghị với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ xem xét, quyết định hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra, xử lý kịp thời theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước khi có căn cứ cho rằng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng, vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực hoặc có hành vi cản trở, gây khó khăn đối với hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

5. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và các cơ quan chức năng của địa phương trong quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, cấp uỷ các cấp quản lý thì kịp thời báo cáo cho Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, cấp uỷ quản lý cán bộ đó để chỉ đạo xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ, thành uỷ, uỷ ban kiểm tra thuộc cấp uỷ quản lý cán bộ đó để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng. Trường hợp phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý thì kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương theo quy định, đồng thời báo cáo thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ và Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh. Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, thi hành án, nếu phát hiện sai phạm có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc mới chuyển.

6. Trực tiếp làm việc với cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; khi cần thiết, được sử dụng bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và phương tiện của các cơ quan, tổ chức có liên quan của địa phương để phục vụ nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Điều 7. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

1. Chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch công tác và giải quyết các công việc phát sinh giữa hai phiên họp của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

2. Giải quyết hoặc kiến nghị Ban Chỉ đạo cấp tỉnh giải quyết các đề xuất, kiến nghị của thành viên Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

3. Quyết định việc sử dụng bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và phương tiện của các cơ quan, tổ chức có liên quan của địa phương để phục vụ nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh khi cần thiết.

4. Chỉ đạo về chủ trương, định hướng xử lý đối với một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khi cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền xem xét lại hoặc giải quyết lại nhằm bảo đảm việc xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật; chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và các cơ quan chức năng của địa phương trong việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

5. Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra, xử lý kịp thời theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước khi có căn cứ cho rằng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý có hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng, vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, cản trở, gây khó khăn đối với hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hoặc không đủ năng lực để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được giao.

6. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoặc báo cáo Ban Chỉ đạo cấp tỉnh để tham mưu, đề xuất ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kết luận, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương, kiến nghị của thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương và kết luận, kiến nghị của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

Điều 8. Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

1. Tham gia và cùng chịu trách nhiệm lãnh đạo tập thể của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh. Trực tiếp thực hiện và chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và Trưởng ban về nhiệm vụ được phân công.

2. Chủ động đề xuất, kiến nghị với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và Trưởng ban các chủ trương, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; bổ sung vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo dõi, chỉ đạo, nhất là trong lĩnh vực, địa bàn, chuyên đề được phân công theo dõi, quản lý, phụ trách.

3. Cùng với tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo nơi công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của tỉnh uỷ, thành uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

4. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong địa bàn, lĩnh vực, chuyên đề được phân công theo dõi, quản lý, phụ trách.

Điều 9. Nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng ban

1. Lãnh đạo, điều hành hoạt động của Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; phân công nhiệm vụ cho các thành viên, chịu trách nhiệm trước ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Chỉ đạo Trung ương về hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

2. Chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

3. Chủ trì, định hướng thảo luận, kết luận các phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

4. Khi cần thiết, trực tiếp làm việc với cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc phát hiện, xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

5. Trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp không họp được Ban Chỉ đạo cấp tỉnh hoặc Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, trực tiếp quyết định và chỉ đạo thực hiện một số công việc cần thiết để đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, chịu trách nhiệm về quyết định của mình và báo cáo Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tại phiên họp gần nhất.

6. Chỉ đạo xử lý các vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ quản lý do các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan chức năng phát hiện, báo cáo theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xử lý cán bộ vi phạm.

7. Quyết định những vấn đề khác liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương và hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Điều 10. Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Trưởng ban

1. Phó Trưởng ban:

Ngoài nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo quy định tại Điều 8 Quy định này, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh còn có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

a) Giúp Trưởng ban điều phối hoạt động của các thành viên theo phân công của Trưởng ban.

b) Thay mặt Trưởng ban thực hiện một số công việc, chủ trì một số phiên họp của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh khi được Trưởng ban uỷ quyền.

c) Giúp Trưởng ban chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc phát hiện, xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương theo phân công của Trưởng ban.

2. Phó Trưởng ban thường trực:

Ngoài nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 1, Điều 10, Phó Trưởng ban thường trực còn có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

a) Giúp Trưởng ban trực tiếp chỉ đạo, điều phối hoạt động, phân công công việc cho các thành viên; chỉ đạo, phối hợp, triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo phân công của Trưởng ban.

b) Giúp Trưởng ban chỉ đạo chuẩn bị nội dung, chương trình, tài liệu và triệu tập các phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; xử lý công việc hằng ngày, thường xuyên của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chủ trì một số cuộc họp và ký một số văn bản của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo phân công của Trưởng ban.

c) Trực tiếp quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Cơ quan Thường trực; quyết định các vấn đề thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thường trực.

d) Giúp Trưởng ban chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc phát hiện, xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

đ) Làm việc với cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; yêu cầu báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan để nắm nội dung, tiến độ, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương, để kịp thời báo cáo Trưởng ban.

e) Chỉ đạo Cơ quan Thường trực xây dựng báo cáo định kỳ, đột xuất của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về kết quả hoạt động, tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương.

Điều 11. Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan Thường trực

1. Giúp Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chuẩn bị nội dung, tài liệu phục vụ các phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

2. Đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trong việc phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

3. Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, đề xuất với Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về chủ trương, định hướng xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương; chỉ đạo, hướng dẫn xử lý một số vụ án, vụ việc được Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh giao.

4. Trong trường hợp cần thiết, đề xuất với Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo hoặc Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về những giải pháp cụ thể (trong đó có giải pháp thành lập tổ công tác liên ngành) để chỉ đạo thực hiện, phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương.

5. Chủ trì hoặc phối hợp nghiên cứu, đề xuất Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chỉ đạo hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, khắc phục những sơ hở, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật có liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

6. Khi cần thiết, hỗ trợ thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo phân công.

7. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và Trưởng ban giao.

8. Cơ quan Thường trực được đề nghị và tiếp nhận cán bộ biệt phái từ các cơ quan: Công an, viện kiểm sát, toà án tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thực hiện nhiệm vụ. Việc biệt phái và tiếp nhận biệt phái do ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo thực hiện.

9. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan Thường trực được làm việc với cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan; yêu cầu báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ; được sử dụng con dấu của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh khi ban hành các văn bản với tư cách là Cơ quan Thường trực.

Điều 12. Tổ chức bộ máy Ban Chỉ đạo cấp tỉnh gồm:

1. Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh: Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ.

2. Các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh:

a) Phó bí thư thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ.

b) Trưởng ban nội chính tỉnh uỷ, thành uỷ.

c) Trưởng ban tổ chức tỉnh uỷ, thành uỷ.

d) Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ, thành uỷ.

đ) Giám đốc công an tỉnh, thành phố.

Trưởng ban nội chính tỉnh uỷ, thành uỷ là Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

3. Các Uỷ viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh:

a) Trưởng ban tuyên giáo tỉnh uỷ, thành uỷ.

b) Chánh văn phòng tỉnh uỷ, thành uỷ.

c) Chánh án toà án nhân dân tỉnh, thành phố.

d) Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố.

đ) Chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh.

e) Giám đốc sở tư pháp tỉnh, thành phố.

g) Chánh thanh tra tỉnh, thành phố.

h) Chủ tịch uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố.

i) Phó trưởng ban nội chính tỉnh uỷ, thành uỷ.

4. Ngoài thành phần, cơ cấu nêu trên, trường hợp thật cần thiết phải điều chỉnh về cơ cấu thành viên của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh thì ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ báo cáo, xin ý kiến của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương trước khi quyết định.

5. Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh gồm Trưởng ban và các Phó Trưởng ban.

6. Ban nội chính tỉnh uỷ, thành uỷ là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Chương III

CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC

Điều 13. Chế độ làm việc

1. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh làm việc theo chương trình hằng năm, họp thường kỳ 3 tháng một lần, họp đột xuất khi cần. Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh họp thường kỳ hằng tháng, họp đột xuất khi cần.

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, Trưởng ban quyết định triệu tập các phiên họp đột xuất của Ban Chỉ đạo, cuộc họp đột xuất của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

2. Kết luận các phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh được thông báo bằng văn bản đến các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương và cá nhân có liên quan để thực hiện.

3. Khi cần thiết, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổ chức hội nghị của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc hội nghị chuyên đề về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ.

4. Định kỳ hằng tháng và khi cần thiết, các thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh báo cáo bằng văn bản với Trưởng ban về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công.

5. Trong thời gian Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh không họp, nếu có vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền của Ban Chỉ đạo hoặc Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh cần phải giải quyết khẩn trương, kịp thời, Cơ quan Thường trực có trách nhiệm gửi văn bản xin ý kiến các thành viên Ban Chỉ đạo hoặc Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và tổng hợp, báo cáo Trưởng ban xem xét, quyết định; đồng thời thông báo kết quả tới các thành viên Ban Chỉ đạo hoặc Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Điều 14. Quan hệ công tác

1. Với Ban Chỉ đạo Trung ương: Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương theo quy định.

2. Với Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương (Ban Nội chính Trung ương): Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc của Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; việc thực hiện kết luận, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương.

3. Với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ: Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ theo quy định.

4. Với các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh uỷ, thành uỷ, các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh, thành uỷ: Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh uỷ, thành uỷ, các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh uỷ, thành uỷ, các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ chấp hành sự chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; định kỳ, đột xuất báo cáo với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định.

5. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan ở Trung ương trong chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với các cơ quan, tổ chức của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và trong chỉ đạo triển khai thực hiện các kết luận, kiến nghị của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương.

Trường hợp ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh khác với ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương trong việc phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực thì các cơ quan chức năng của địa phương thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo đầy đủ việc phát hiện, xử lý vụ án, vụ việc với Ban Chỉ đạo Trung ương.

6. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh trao đổi thông tin cần thiết với các cơ quan, tổ chức; mời đại diện các cơ quan, tổ chức của địa phương tham dự các hội nghị có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh.

Điều 15. Chế độ báo cáo

1. Định kỳ hằng quý và khi có yêu cầu, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương, kết quả hoạt động và định hướng công tác trong thời gian tiếp theo với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương.

2. Định kỳ hằng tháng và khi có yêu cầu, uỷ ban kiểm tra, ban tổ chức, ban tuyên giáo tỉnh uỷ, thành uỷ; ban cán sự đảng toà án nhân dân, ban cán sự đảng viện kiểm sát nhân dân, đảng uỷ công an, đảng uỷ bộ đội biên phòng, đảng uỷ quân sự tỉnh, thành phố, Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh; thanh tra tỉnh, sở tư pháp, cục thi hành án dân sự, chi cục kiểm lâm, chi cục kiểm ngư, cục quản lý thị trường, cục thuế, cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cấp uỷ, tổ chức đảng có liên quan báo cáo Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh (qua Cơ quan Thường trực) bằng văn bản về việc tổ chức thực hiện các kết luận của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và các nội dung có liên quan; kịp thời báo cáo với Trưởng ban, Phó Trưởng ban được phân công chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực về tiến độ, khó khăn, vướng mắc và về kết quả thực hiện các kết luận, ý kiến chỉ đạo của Trưởng ban, Phó Trưởng ban đối với vụ án, vụ việc.

3. Định kỳ quý I, 6 tháng, 9 tháng, năm và khi có yêu cầu, các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ, các cơ quan, tổ chức có liên quan báo cáo Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Điều 16. Con dấu, tài khoản và kinh phí hoạt động

1. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh có con dấu riêng theo quy định và sử dụng tài khoản của văn phòng tỉnh uỷ, thành uỷ để phục vụ hoạt động.

2. Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh do văn phòng tỉnh uỷ, thành uỷ bảo đảm theo quy định.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 17. Quyết định thành lập và Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh

Căn cứ Quy định này và Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương, ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh xây dựng, ban hành Quy chế làm việc.

Điều 18. Hiệu lực thi hành

1. Quy định này có hiệu lực từ ngày ký.

2. Các tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan có trách nhiệm thi hành Quy định này.

3. Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan có liên quan hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Quy định này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định./.

NỰC CƯỜI CÂU CHUYỆN “VIỆT TÂN” LẬP QUỸ GIÚP DÂN

 Nghe câu chuyện tổ chức khủng bố “Việt Tân” tổ chức dạ tiệc để lập quỹ giúp dân thì khác nào việc trao bảng trinh tiết cho bà Phó Đoan. Từ lúc tôi biết dùng facebook đến giờ, tôi chả thấy bao giờ tổ chức khủng bố “Việt Tân” làm được bất kỳ việc gì (kể cả việc nhỏ con con) giúp ích của đất nước và nhân dân Việt Nam cả. Nếu “Việt Tân” mà là tổ chức hữu ích, thiện chí với Việt Nam thì đã không là tổ chức khủng bố rồi.

Tôi thấy ở Việt Nam các cơ quan, ban ngành khi tổ chức buổi gây quỹ từ thiện thường tổ chức các buổi giao lưu, cuộc họp, tổ chức văn nghệ… chứ chả thấy ai tổ chức liên hoan, đánh chén để gây quỹ cả. Đúng là cách làm của “Việt Tân” là đời, ngược với người dân Việt Nam.

Tổ chức đánh chén bù khú vẫn vẫnlòe bịp tiền của những người ở hải ngoại để phục vụ mục đích cá nhân, mưu đồ chống phá đất nước, phá rối an ninh trật tự, bình yên của tổ quốc thì kể ra “Việt Tân” cũng biết làm kinh tế đấy. Khôn như “Việt Tân” quê tớ đầy!

Thực tế thấy rằng “Việt Tân” không hề sử dụng tiền để hỗ trợ những người dân gặp hoàn cảnh khó khăn ở trong nước như những gì tổ chức k.h.ủ.ng b.ố này vẫn thường rêu rao. Cái gọi là “giúp đỡ người dân” thực chất là việc “Việt Tân” sử dụng tiền để đào tạo, tuyển lựa những “chân rết”; hậu thuẫn cho những kẻ chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống chính quyền; lừa bịp, kêu gọi người dân tham gia biểu tình phá rối an ninh, trật tự mà thôi. Những gương mặt mà “Việt Tân” “tài trợ” chính là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam như Nguyễn Văn Hóa, Châu Văn Khảm, Lê Đình Lượng,...

Cựu Phó Tổng thống ngụy Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ từng nói về cái gọi là quyên góp của “Việt Tân” rằng: “Ở cái xứ hải ngoại này nó buồn cười lắm... kinh nghiệm hơn 30 năm cho thấy: Nếu mà tất cả tiền tụ lại cho một anh thì anh ấy ôm tiền đi... TRỐN LUÔN”.

Bản chất của “Việt Tân” như thế nào thì chắc chẳng cần phải bàn nữa làm gì cả. Tôi chỉ nhắc bà con ở Hải Ngoại cảnh giác với chiêu trò bịp bợm của “Việt Tân” cũng như người dân ở trong nước tránh bị những trò mèo này lừa bịp mà liên quan đến tổ chức thì thiệt thân mà thôi.

KHÔNG THỂ VINH DANH TÊN BÁN NƯỚC NGUYỄN ÁNH.

 Lịch sử là nguồn rễ, là cội nguồn, sợi dây nối quá khứ và hiện tại, liền mạch như dòng sông chảy mãi không ngừng. Hơn 200 năm, mỗi khi nói đến Nguyễn Ánh - vua Gia Long/1802 thì người ta nghĩ đến một tên bán nước, " cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ ".

Nguyễn Ánh sinh năm 1762, con trai của Vương tử Nguyễn Phúc Luân, cháu nội Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa đời thứ 8 của Đàng trong. Nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn và lập nhà Nguyễn, khi đó cương vực, lãnh thổ của nước ta đã có như ngày hôm nay. Không có chuyện Nguyễn Ánh có công khai phá và mở mang lãnh thổ phía Nam. Trong suốt cuộc đời mình Nguyễn Ánh cậy nhờ ngoại bang để củng cố quyền lực, phạm nhiều tội ác với thân tộc, đất nước. Trong bài " nên học sử ta " đăng trên Báo Độc lập " ngày 1/2/1942 Nguyễn Ái Quốc viết ' nước Việt Nam, khi vua Gia Long bán nước ta cho tây, nước ta là nước độc lập. Vì muốn làm vua nên Nguyễn Ánh bán nước ta cho tây. Thế là giang sơn gấm vóc tan tác, tiêu điều, con lạc, cháu Hồng hoá làm trâu ngựa ". Trong bài diễn ca " Lịch sử nước ta " do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2/1942 Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau :

Gia Long lại dấy can qua

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài

Tự mình đã chẳng có tài

Nhờ tây qua cứu, tính bài giải vây

Nay ta mất nước thế này

Cũng vì vua Nguyễn rước tây vào nhà

Khác gì cõng rắn cắn gà

Rước voi giày mả, thiệt là ngu si.

Trong bài dân ca về vua Tự Đức, Nguyễn Ái Quốc đã điểm ra những cột mốc quan trọng " năm 1794 Gia Long thông với tây; năm 1847 tây bắt đầu đánh nước ta và năm 1862 vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng tây. Năm 1862 vua Tự Đức ký Hiệp ước bán nước, cắt nhượng 3 tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cho giặc Pháp. Ngày 3/4/1949 Hồ Chí Minh viết về Bảo Đại - vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau " Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy can tâm bán nước, Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc ". Trong quyển " Thường thức chính trị " do Nhà xuất bản sự thật ấn hành đầu năm 1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ : " Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta đông người, nhiều của, bèn dùng vũ lực cướp nước ta. Giai cấp phong kiến ( vua, quan ) thì hủ bại hèn nhát, chỉ bán nước, không dám chống giặc ".

Lịch sử phải công tâm, khách quan, trung thực, không thể ngụy biện. Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, công và tội của chúa Nguyễn và vua Nguyễn cũng rất công tâm. Người phê phán kịch liệt vua Gia Long đã nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn ( 1787 ), cầu viện vua Xiêm đánh nước ta ( 1784 ), tiếp tế gạo cho quân Thanh xâm lược nước ta ( 1788 ) và mở đường cho Pháp đô hộ nước ta gần 100 năm. Theo Đại Nam thực lục, biên khảo Nguyễn Duy Chính ghi lại : cần phân biệt chúa Nguyễn và nhà Nguyễn. Chúa Nguyễn, khởi đầu là chúa Tiên - Nguyễn Hoàng ( con trai của tướng nhà Hậu Lê là Nguyễn Kim ) vào cai quản đất Thuận Hóa năm 1558 theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm " Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân " nghĩa là: một dải núi ngang, có thể dung thân muôn đời. 9 đời chúa Nguyễn tại vì kế tục nhau đến năm 1777 khi Nguyễn Phúc Thuần thua quân Trịnh phải chạy vào Gia Định và bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Công lao của chúa Nguyễn là mở mang bờ cõi vào phía Nam. Đó là sự thật.

Đến nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802 khi Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn, thì cương vực, lãnh thổ của nước ta đã có, như ngày hôm nay. Vậy nên, nói nhà Nguyễn có công khai phá và mở mang lãnh thổ đất phương Nam là lý luận của kẻ bất trí, phản trắc. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm ( 1802 - 1945 ) có 13 vị vua, thì 8 tên bán nước hoặc là thần phục ngoại bang. Vua, Minh Mạng tiếp nối sự nghiệp vua Gia Long; vua Thiệu Trị chưa làm được gì, ở ngôi 7 năm thì mất. Còn các vua Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại thì hoàn toàn bán nước ta cho Pháp. Ngày 5/6/1862 vua Tự Đức hèn hạ ký Hiệp ước Nhâm Tuất với đại diện Pháp và Tây Ban nha với 12 điều, dâng nam kỳ lục tỉnh cho Pháp và đến năm 1884 thì chính thức vong quốc, bù nhìn cho Pháp, để tàn hại dân tộc. Đây là hiệp ước đầu tiên triều Nguyễn ký với nước ngoài, thừa nhận và mở đầu cho quá trình đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Ấy vậy, mà nhiều năm qua những kẻ nhân danh là sỹ phu, là nhà sử học, là những kẻ có học hàm, học vị " tột đỉnh vinh quang " - Giáo sư, Tiến sĩ, lại cố tình phá hoại lịch sử dân tộc " bôi Sơn, trát phấn, cạo lông, rửa mặt " cho Nguyễn Ánh và cả vương triều Nguyễn. Một vương triều đồi bại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhà Nguyễn có 13 đời vua thì có 8 tên bán nước hoặc thần phục ngoại bang. Chỉ có 3 ông vua ( Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân ) là đề cao tinh thần yêu nước. Nguy hại hơn họ lại đặt tên Nguyễn Ánh ngang hàng với Nguyễn Huệ. Mới đây tại Nam Phương Linh Từ, người ta còn thờ chung vua Quang Trung và Nguyễn Ánh. Hiện hữu Nguyễn Phước tộc muốn, cố gắng rửa mặt cho tội đồ dân tộc, tội nhân thiên cổ Nguyễn Ánh - Gia Long, bằng toạ đàm ngày 31/5/2022 về " công lao và những đóng góp quan trọng của Gia Long " nhân kỷ niệm 220 năm vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn lên ngôi hoàng đế. Đó là việc làm của Hội đồng trị sự " Nguyễn Phước tộc ". Nhưng, dư luận không khỏi ngạc nhiên, bất bình và phản đối khi vị giám đốc sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu. Vị giám đốc cho rằng : " với 18 năm ở ngôi hoàng đế, vua Gia Long đã có những đóng góp to lớn cho lịch sử phát triển của đất nước và dân tộc, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh trong khu vực lúc bấy giờ ". Cũng theo vị giám đốc : với những công trạng trên, vua Gia Long xứng đáng được tôn vinh ở địa phương và tầm quốc gia, nhưng trước hết là trên vùng đất Thừa Thiên Huế nơi triều Nguyễn đã để lại những di sản vô cùng lớn mà ngày nay chúng ta đang kế thừa. Di sản cố đô Huế là xương máu của nhân dân, " thành xây xương lính, hào đào máu dân " thưa vị giám đốc sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế ạ. Đúng là có sự tổ chức thực hiện của nhà Nguyễn, nhưng là vì dòng tộc. Ca ngợi, vinh danh Nguyễn Ánh thì dân tộc, nhân dân Việt Nam không bao giờ. Vì, hắn là tên bán nước cho tây, " cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ " ./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 25/6


“Muốn chống tham ô lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ, gây tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người“.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất, ngày 25 tháng 6 năm 1952. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương sự cố gắng của ngành Hậu cần Quân đội trong bảo đảm đời sống cho bộ đội, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và Bác yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, kiên quyết chống tham ô, lãng phí. Đồng thời, Người chỉ rõ cách để phòng chống tham ô, lãng phí tốt nhất, hiệu quả nhất là phải thực hành dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người. Thực hiện lời dạy của Bác, ngành Hậu cần Quân đội đã nêu cao ý thức phục vụ, thực hành tiết kiệm, bảo đảm tốt chế độ, tiêu chuẩn cho bộ đội, kinh tế công khai minh bạch, không để xảy ra tham ô, lãng phí làm thất thoát tài sản của Đảng, Nhà nước, quân đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Hiện nay, trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; lời dạy của Bác càng có ý nghĩa quan trọng giúp cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của dân chủ, tự phê bình và phê bình trong chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Qua đó, xác định rõ trách nhiệm của mỗi quân nhân trong thực hành dân chủ, thực hành tự phê bình và phê bình; bảo đảm đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội; tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí có hiệu quả. Quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, qui định của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phòng chống tham nhũng, lãng phí; các cơ quan, đơn vị cần đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, mở rộng dân chủ, minh bạch chế độ, chính sách; bồi dưỡng, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về công tác xây dựng Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
186
4 bình luận
27 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU “NẮN DÒNG DƯ LUẬN”

 Gần đây, trên không gian mạng, các đối tượng thù địch, phản động lại tập trung công kích, xuyên tạc lịch sử đất nước một cách trắng trợn. Âm mưu của chúng là nhằm “nắn dòng dư luận”, gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang, phá hoại tư tưởng trong Nhân dân.

Trong khi dư luận trong nước đang tranh luận xem nên hay không nên để môn Lịch sử là môn học tự chọn cho cấp học THPT từ năm học 2022-2023 theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì bên kia “đại dương”, một số đối tượng có liên quan đến tổ chức khủng bố Việt Tân lại tranh thủ tiến hành xuất bản cuốn sách “ĐÔI DÒNG SỬ VIỆT”. Điều đáng nói là nhiều nội dung trong cuốn sách đã xuyên tạc trắng trợn vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ bảo vệ đất nước.

Trên một số trang mạng xã hội như “Tiếng dân”, “Tivi tuần san”... thông qua các hình thức đăng tải video clip, bình luận theo chuyên đề, các đối tượng thù địch đã lộ rõ âm mưu “bắn đại bác vào quá khứ” với chiêu bài “mưa dầm thấm lâu”. Chúng lật lại những thông tin, sự kiện cũ rồi suy diễn, xuyên tạc bằng “cái nhìn mới” để kích thích, gây hoang mang cho người nghe, người xem, trong đó tập trung nhiều nhất là vào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nói về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, những kẻ cơ hội chính trị này đã đánh tráo, cho rằng thành quả Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là sự ăn may. Việc xuyên tạc lịch sử của chúng thực chất là mưu đồ chính trị của những người bất mãn với chế độ chính trị, muốn phủ nhận ý nghĩa, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành quả của cuộc cách mạng. Cần phải khẳng định, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa. Cách mạng thành công đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, từ đây Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tự thân mỗi người đều biết, quyền dân chủ không phải là một khái niệm vô hạn và không có quyền dân chủ nào được phép vu cáo, xuyên tạc, phỉ báng cả một dân tộc, xâm hại quyền, lợi ích của một đất nước, bởi vậy thực chất của những luận điệu trên chính là nhằm phá hoại về mặt tư tưởng, làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ. Mục tiêu việc làm này là nhằm hình thành một thế hệ có suy nghĩ đòi xét lại lịch sử, trong đó có nhiều thành phần “trở cờ”, nếu nhiều người trong chúng ta cả tin, chỉ biết tiếp nhận thông tin mà không có sự suy xét, đối chứng thì liệu lịch sử sẽ rất dễ dàng bị xuyên tạc, bóp méo.

Mặc dù đã có không ít trường hợp vi phạm bị xử lý theo quy định pháp luật, nhưng dường như vẫn chưa thực sự đủ sức răn đe. Vì vậy, để đấu tranh hiệu quả với thủ đoạn, chiêu trò của các thế lực thù địch cần thiết phải xử lý nghiêm minh, xét xử công khai, có hình phạt thích đáng để làm gương. Mặt khác, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch. Cần phải kiên trì xây dựng mỗi công dân trở thành một chiến sĩ trên mặt trận bảo đảm an ninh mạng, nhất là cần kiểm chứng thông tin và chia sẻ, lan toả thông tin tích cực.

NHỮNG NÉT MỚI TRONG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

 Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng ở đủ mọi đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân thường. Thủ đoạn mới chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch được biểu hiện ở những nét cơ bản sau:

Thứ nhất: chúng thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chính là tìm cách tác động vào tư duy của con người, về những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực; giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến cán bộ, đảng viên. Chúng đánh vào tư tưởng bằng những việc đơn giản, mang tính thực tế với người dân như các chế độ, chính sách, việc làm cụ thể liên quan đến đời sống của nhân dân ta để “so sánh” với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ làm cho người dân thấy “xã hội Việt Nam đang có vấn đề”, dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Từ đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng dễ rơi vào bẫy “trò chơi dân chủ” của các thế lực thù địch dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng cán bộ, đảng viên. Tình trạng đó, nếu không kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ nhanh chóng biến đổi về chất, dẫn đến thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống chuyển hóa sang lập trường tư tưởng phương Tây.

Thứ hai: chuyển hướng từ công kích trực diện, cứng nhắc sang tác động phân hóa từ nội bộ. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch thường cứng nhắc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, trắng trợn xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4 hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Kết quả chúng không thực hiện được là bao; từ đó, buộc các thế lực thù địch phải điều chỉnh thủ đoạn chống phá cho phù hợp. Vì lẽ đó, một mặt chúng công nhận thể chế chính trị, tăng cường mối quan hệ với Đảng và Nhà nước ta, mặt khác chúng tiếp tục kích động làm mâu thuẫn, phân hóa nội bộ đảng, tác động làm tha hóa từng người cán bộ, đảng viên, từng bộ phận người dân, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong của chúng.

Thứ ba: cách thức tác động vào các đối tượng rất tinh vi, xảo quyệt, rất nguy hiểm.

Đối với cán bộ, đảng viên, thường là thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của một số cán bộ, đảng viên; chúng khai thác có hiệu quả những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng nhằm mục đích đánh đồng với cán bộ, đảng viên tốt làm cho có sự lẫn lộn, không phân biệt được giữa người tốt và người xấu.

Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, chúng móc nối, lôi kéo số sinh viên học tập, công tác ở nước ngoài để tập trung tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng một lớp người có tư tưởng phủ định với Chủ nghĩa Mác-Lênin; biện pháp của chúng là đẩy mạnh việc tăng học bổng, liên kết đào tạo nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này sẽ làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong thời gian không xa.

Đối với nhà văn, nhà báo, thủ đoạn chủ yếu của chúng là làm thay đổi nhận thức, quan điểm thông qua các hình thức hợp tác, đào tạo, hội thảo khoa học, triển lãm, tham quan tiếp cận lôi kéo những nhà báo, nhà văn trẻ có tư tưởng tự do, phóng khoáng, dễ giao lưu. Lợi dụng luật quốc tế tự do báo chí, xúc tiến thành lập cái gọi là “Hội nhà báo tự do”, kích động văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tác, tự do công bố các tác phẩm văn hóa nghệ thuật, phản đối sự kiểm duyệt của các cơ quan quản lý Nhà nước; mua giấy phép xuất bản, mua các công trình phát sóng, hợp tác sản xuất các chương trình, ban đầu chỉ là về kỹ thuật chuyên ngành … nhằm thay đổi nhận thức, cơ sở hóa quan điểm theo tiêu chí tự do dân chủ kiểu phương Tây.

Đối với các tầng lớp nhân dân, lợi dụng khả năng nhận thức của người dân có hạn, điều kiện cập nhật, tiếp cận những thông tin hạn chế chúng tác động về tư tưởng theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu”. Tạo ra “khoảng trống” trong tư tưởng người dân, dẫn tới hoài nghi về chế độ với Đảng, Nhà nước; kích động, gây rối, biểu tình nhất là vào các thời điểm như đất nước gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt, tham nhũng, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Chúng tăng cường xuyên tạc, thổi phồng, cường điệu hóa, bóp méo sự thật, đưa ra những lời bình luận chỉ trích chính sách của Đảng và Nhà nước, đổi lỗi cho chính quyền, tập trung vào cán bộ, đảng viên tạo bức xúc, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, gây bè phái, cục bộ.

Trước những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường sẽ còn tác động đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, song về thực lực của chúng chưa đủ khả năng làm chuyển hóa hệ tư tưởng của ta theo ý đồ của chúng. Nhưng, nếu chúng ta mất cảnh giác, không thấu hiểu hết sự việc, xem nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng thì sẽ dẫn đến hậu quả không thể nào lường trước được./.

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA DƠ BẨN!

 Mới đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

Rõ ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính, hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì thật là đau buồn!

Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày 12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác toàn diện.

Tuy nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam.

Đầu tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những người anh hùng...

Trong một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay họ thực hiện???

Mỹ đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.

Để thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm ngầm hoặc công khai.

Hàng năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia, Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tai sai đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam băng chính những đồng USD dơ bẩn