Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở ĐÂU TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG?
Chủ tịch Quốc hội gặp mặt cộng đồng người Việt Nam tại Hungary
Chủ tịch Quốc hội gặp mặt cộng đồng người Việt Nam tại Hungary
Chủ
tịch Quốc hội ghi nhận các kiến nghị của cộng đồng người Việt Nam tại Hungary
về việc cần có luật về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thu hút đầu tư vào các
lĩnh vực công nghệ, khởi nghiệp...
Theo
đặc phái viên TTXVN, chiều 26/6 (theo giờ địa phương), trong khuôn khổ chuyến
thăm chính thức Hungary, tại thủ đô Budapest, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ
và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam và
gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hungary.
Trò
chuyện với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và bà con, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Chủ tịch Quốc hội gửi tới toàn thể bà con tại Hungary, cán bộ, nhân viên
Đại sứ quán Việt Nam và gia đình những tình cảm ấm áp từ quê hương.
Chủ
tịch Quốc hội Vương Đình
Huệ cho biết đây là lần đầu tiên ông thực hiện chuyến thăm
chính thức đến Hungary trên cương vị Chủ tịch Quốc hội Việt Nam theo lời mời
của Chủ tịch Quốc hội Hungary Kövér László.
Chủ
tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ chuyến thăm nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ
Đối tác toàn diện Việt Nam-Hungary trên các lĩnh vực, từ cấp trung ương đến địa
phương, thúc đẩy hợp tác Nghị viện giữa hai nước.
Điểm
lại những kết quả nổi bật trong quan hệ hai nước thời gian qua, Chủ tịch Quốc
hội nhấn mạnh trong thành tựu chung đó có sự đóng góp không nhỏ của cán bộ,
nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary và cộng đồng người Việt Nam tại
Hungary - cầu nối hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.
Chủ
tịch Quốc hội cho rằng những kết quả hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư
giữa hai nước vẫn còn khiêm tốn so với quan hệ chính trị tốt đẹp và tiềm năng
hợp tác. Dư địa để mở rộng và thúc đẩy quan hệ song phương, nhất là quan hệ
kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, lao động... giữa hai nước vẫn còn rất
lớn.
Chủ
tịch Quốc hội nhấn mạnh cộng đồng người Việt tại Hungary với khoảng 6.000 người
nhưng bà con luôn đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, gìn giữ và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, khẳng định được vị trí trong đội ngũ trí thức của Hungary, góp mặt
trong các lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục, khoa học, công nghệ ở sở tại và tích
cực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực này.
Chủ
tịch Quốc hội cảm ơn cộng đồng người Việt Nam tại Hungary nói riêng và cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung thời gian qua đã luôn hướng về quê
hương, nhất là trong giai đoạn đại dịch COVID-19, bà con đã có những đóng góp
cả về vật chất và tinh thần cho công cuộc phòng, chống dịch ở trong nước.
Đặc
biệt, qua ý kiến tại cuộc gặp cho thấy bà con rất quan tâm theo dõi hoạt động
của Quốc hội, ủng hộ các quyết sách đặc biệt, đặc cách, đặc thù của Quốc hội
trong hơn một năm qua, nhất là việc ban hành Nghị quyết 30/2021/QH15, việc tổ
chức Kỳ họp bất thường để quyết định ngay gói chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ
trợ thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, việc phê
duyệt cùng lúc 5 dự án giao thông trọng điểm trong một kỳ họp vừa qua... để tạo
điều kiện cho Chính phủ, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân vượt
qua khó khăn của dịch bệnh, nhanh chóng phục hồi kinh tế-xã hội. Chủ tịch Quốc
hội khẳng định Quốc hội sẽ làm hết sức mình vì lợi ích của đất nước, của nhân
dân.
Tại
cuộc gặp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã ghi nhận các kiến nghị của cộng
đồng người Việt Nam tại Hungary về việc cần có luật về đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi
nghiệp để tạo ra các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao; tiếp tục hoàn thiện thể
chế pháp luật về đầu tư, kinh doanh; sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
để bảo vệ tốt hơn cho trẻ em; tăng cường đầu tư phát triển các phong trào thể
dục, thể thao để nâng cao sức khoẻ thể chất cho người dân...
Chủ
tịch Quốc hội cho biết nhiều nội dung trong các kiến nghị của bà con đã được
Quốc hội nghiên cứu, xem xét. Đơn cử như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã
được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 vừa qua.
Quốc
hội đã xác định rõ các nhiệm vụ lập pháp trong cả nhiệm kỳ, trong đó có hệ
thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh sẽ được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển trong giai đoạn mới…
Về
việc đàm phán, xây dựng khuôn khổ hợp tác để kết nối hai nền kinh tế Việt
Nam-Hungary, Chủ tịch Quốc hội cho biết ngay trong khuôn khổ chuyến thăm chính
thức Hungary lần này, Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Hungary sẽ ký Thỏa thuận
hợp tác mới nhằm nâng tầm hợp tác nghị viện song phương, tăng cường phối hợp
giám sát quá trình triển khai thực hiện các thoả thuận hợp tác giữa hai Chính
phủ, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng luật pháp...
Việc
xây dựng và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn cầu đang được Chính
phủ triển khai thực hiện. Chính Quốc hội cũng đang xây dựng một mạng lưới sáng
kiến Quốc hội Việt Nam để huy động sự tham gia của các chuyên gia trong nước,
chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia người nước ngoài quan tâm
đến Việt Nam đóng góp trí tuệ cho Quốc hội...
Nhân
dịp này, Chủ tịch Quốc hội biểu dương Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary đã thực
hiện rất trách nhiệm công tác lãnh sự và bảo hộ công dân trong thời gian qua.
[Chủ tịch
Quốc hội thăm doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp tại Hungary]
Chủ
tịch Quốc hội khẳng định Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời, là nguồn lực của cộng đồng
dân tộc và là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị
giữa Việt Nam với các nước.
Ngày
12/8/2021, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 12-KL-TW về công tác người Việt Nam ở
nước ngoài trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh tình cảm và trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước trong công tác chăm lo cho cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời tiếp tục khuyến khích,
tạo điều kiện để đồng bào hướng về quê hương.
Kết
luận 12 khẳng định việc tiếp tục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm trong
công tác thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc đối với người Việt Nam
ở nước ngoài; giải quyết nhu cầu chính đáng của kiều bào ta liên quan đến quốc
tịch phù hợp với quy định của Hiến pháp, pháp luật và tinh thần của Nghị quyết
36-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; hoàn thiện cơ chế tiếp nhận,
xử lý, phản hồi, vận dụng và phát huy hiệu quả các sáng kiến, ý kiến đóng góp
của trí thức, chuyên gia và doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài; đổi mới, nâng cao
hiệu quả, phương thức tổ chức dạy và học tiếng Việt...
Chủ
tịch Quốc hội đề nghị cán bộ, nhân viên Đại sứ quán tiếp tục làm tốt công tác
người Việt Nam tại Hungary; mong muốn cộng đồng người Việt tại Hungary tiếp tục
phát huy truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, tuân thủ các quy định pháp
luật của Hungary, gìn giữ và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
trong mắt bạn bè sở tại, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của cả Hungary và
Việt Nam.
Chủ
tịch Quốc hội đề nghị các hội đoàn người Việt tiếp tục phát huy vai trò hạt
nhân trong hoạt động xây dựng cộng đồng ngày càng ổn định và phát triển, trở
thành cầu nối vững chắc cho quan hệ Đối tác toàn diện Việt
Nam-Hungary
Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
Thứ nhất, chủ thể
và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng,
phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn
biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh
lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng
bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích,
ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của
các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào
vòng kiềm tỏa của mình.
Thứ hai, đối tượng
chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến
hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những
nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn
chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là
không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc
lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự
chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc
tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay
là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng,
phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh
chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan
xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ
này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác,
phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.
Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.
Thứ tư, đối với
biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng
“công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà
rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất
linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các
nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy,
xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn
diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ
mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh
tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc,
tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần
chiến tranh”.
Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc.
SỰ NGHẸN NGÀO CỦA TỔNG BÍ THƯ KHI 2 ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG BỊ KỶ LUẬT.
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG TIÊU CỰC
KIỂM TRA, GIÁM SÁT PHẢI LÀ “THANH BẢO KIẾM” CỦA ĐẢNG
Việt Nam tăng 39 hạng trên bảng đánh giá chất lượng cuộc sống toàn cầu
Việt Nam tăng 39 hạng trên bảng đánh giá chất lượng
cuộc sống toàn cầu
Việt Nam đã nâng 39 hạng trên bảng xếp hạng gồm 165
quốc gia đóng góp nhiều nhất vào GDP thế giới do tạp chí thương mại CEOWORLD
lập ra.
Bảng
xếp hạng chỉ số chất lượng cuộc sống của các quốc gia được CEOWORLD lập ra dựa
trên nhiều tiêu chí như: mức giá cả sinh hoạt; nền kinh tế - chính trị ổn định;
môi trường làm việc; bình đẳng về thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế…
Trong đó, mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá dựa trên thang điểm 100.
“Việt
Nam có tổng điểm là 78,49 và xếp thứ 62/165 quốc gia”, theo đánh giá của
CEOWORLD.
Thứ
hạng của Việt Nam được cải thiện đáng kể so với năm 2020, khi nước ta chỉ đứng
thứ 101/171 quốc gia có mức sống tốt nhất. Bảng xếp hạng mới cho thấy Việt Nam
đang có những cải thiện quan trọng về chất lượng cuộc sống.
Phần
Lan là nước có chỉ số chất lượng cuộc sống tốt nhất thế giới với 99,06 điểm.
Tiếp theo là Đan Mạch với 98,13 điểm và Na Uy với 96,75 điểm.
Nhật
Bản là quốc gia có chỉ số chất lượng cuộc sống tốt nhất châu Á - đạt 91,23 điểm
và nằm trong top 10 quốc gia có chất lượng cuộc sống tốt nhất trên toàn cầu.
So
sánh chỉ số chất lượng sống của các nước trong khu vực Đông Nam Á, đứng đầu các
nước có chỉ số chất lượng sống cao nhất là Singapore với 87,64 điểm, tiếp đến
là Thái Lan với 82,69 điểm. Các quốc gia có chỉ số chất lượng sống cao hơn Việt
Nam là Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.
Trong
khi đó, xếp ở vị trí cuối cùng của bảng xếp hạng các quốc gia có chất lượng
sống tốt nhất thế giới là Comoros (33,19 điểm), Montserrat (32,06 điểm), Sudan(
31,67 điểm) và Syria (31,55 điểm).
Truyền thông nâng cao nhận thức về biển đảo
Truyền thông nâng cao
nhận thức về biển đảo
Chương trình truyền thông về biển và
đại dương đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm mục tiêu
nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tạo sự đồng thuận, huy động sự tham gia
của cả hệ thống chính trị cùng toàn thể người dân và cộng đồng quốc tế trong
việc bảo vệ biển đảo và phát triển bền vững kinh tế biển.
Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên 28
địa phương có biển, tại một số quốc gia có số lượng lớn người Việt Nam sinh
sống, làm việc, và một số quốc gia có quan hệ hữu nghị truyền thống với Việt
Nam.
Nội dung tập trung truyền thông các chính sách pháp luật có liên
quan biển đảo (gồm cả pháp luật quốc tế), về vị trí, vai trò của biển và đại
dương cũng như các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Ðông, các thông tin
về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo... Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện
Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045 chỉ đạo toàn diện việc tổ chức triển khai chương trình truyền thông về
biển và đại dương đến năm 2030.
Nước ta có chiều dài bờ biển 3.260km, đứng thứ 27/157 quốc gia
ven biển, quốc đảo và vùng lãnh thổ trên thế giới. Với diện tích ven biển lớn
như vậy, vấn đề bảo vệ biển đảo và phát triển kinh tế biển luôn được Ðảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, công tác truyền thông trong những năm
vừa qua vẫn còn một số hạn chế, dẫn đến một bộ phận người dân và cộng đồng quốc
tế chưa hiểu biết đầy đủ về quyền và lợi ích của Việt Nam liên quan biển, hải
đảo và đại dương.
Vì thế, chương trình truyền thông về biển và đại dương tầm nhìn
2030 được xây dựng nhằm chuyển tải đầy đủ và toàn diện các kiến thức liên quan
để mọi người dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng
của biển và đại dương trong bảo vệ chủ quyền quốc gia và trong phát triển kinh
tế.
Chương trình huy động mọi nguồn lực từ ngân sách nhà nước, xã
hội hóa, hợp tác quốc tế, phát huy cao nhất nội lực của từng địa phương, cơ
quan, bộ, ngành, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.
Các thông tin được chuyển tải thường xuyên, liên tục, có trọng tâm trọng điểm,
chính xác và hấp dẫn đến từng nhóm đối tượng, giúp người dân dễ dàng nhận diện
và bác bỏ những thông tin sai lệch, các quan điểm xuyên tạc về biển và đại
dương, từ đó khích lệ, cổ vũ người dân tích cực, chủ động tham gia các hoạt
động bảo vệ biển đảo, đại dương.
Cụ thể: Ðến năm 2025, tất cả các cơ quan báo chí Trung ương và
địa phương, báo đối ngoại có chuyên trang, chuyên mục về biển và đại dương,
100% số bộ, ngành có liên quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo, các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương có chuyên mục về biển và đại dương trên trang
thông tin điện tử của cơ quan. Tất cả phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên,
lãnh đạo cơ quan báo chí, truyền thông, xuất bản ở Trung ương và địa phương,
cán bộ thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại được tập huấn cập nhật về hệ thống
chính sách pháp luật kiến thức cơ bản về biển và đại dương, xây dựng một thư
viện cấp ngành, một bảo tàng chuyên đề về biển và đại dương.
Ðến năm 2030, tất cả các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục
quốc dân, tư thục và quốc tế thực hiện hoạt động truyền thông về biển và đại
dương thông qua việc lồng ghép nội dung liên quan trong chương trình đào tạo,
hơn 80% số tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội các cấp, các tập đoàn kinh tế lớn
của Nhà nước tham gia hoạt động truyền thông về biển và đại dương.
Ðể hoàn thành tốt các mục tiêu của Chương trình truyền thông về
biển và đại dương đến năm 2030 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đòi hỏi mỗi
bộ, ngành, địa phương, mỗi tổ chức, đơn vị phải chủ động đề xuất các chương
trình, dự án phù hợp, không ngừng nỗ lực đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng
hiệu quả công tác truyền thông, tăng cường kiểm tra giám sát, kịp thời xử lý
các thông tin sai lệch liên quan vấn đề biển và đại dương.
Các chiến lược truyền thông cần bám sát thực tế biển đảo trong
từng thời điểm cụ thể, và phải được triển khai một cách bài bản, toàn diện, có
tính đột phá từ Trung ương đến địa phương. Biển đảo và đại dương là vấn đề sống
còn đối với an ninh quốc gia. Làm tốt công tác tuyên truyền các vấn đề liên
quan biển đảo và đại dương sẽ giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người
dân trong bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch
nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các
nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự.
Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”,
có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu
phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực
tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập
niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành,
những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến
công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát
triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa
bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các
nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức
tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này,
“diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành
một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt
trên ngăn chặn”.
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới
hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối
lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội
nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình
tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản
về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình,
khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm
thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương
mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn
lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.
Hành trình chống tham nhũng
Tiếp xúc với cử tri Hà Nội ngày 23/6, Tổng bí thư nhắc lại câu nói 'kỷ luật nhiều như thế lấy ai để làm làm việc'. Câu nói này xuất phát từ một vị lãnh đạo Quốc hội trước đây và từng gây xôn xao dư luận.
CẢNH GIÁC VỚI PHÁP LUÂN CÔNG
“Pháp Luân Công” hay còn gọi “Pháp luân đại pháp” là một giáo phái do Lý Hồng Chí, sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc thành lập năm 1992 dưới hình thức tập luyện khí công dưỡng sinh. Sau đó, Pháp Luân Công đã có nhiều hoạt động phức tạp ảnh hưởng đến an ninh chính trị Trung Quốc, bị Chính phủ Trung Quốc cấm hoạt động và bị coi là tà giáo.
“Pháp Luân Công” xâm nhập trái phép vào Việt Nam từ năm 2000. Mấy năm trở lại đây, “Pháp Luân Công” truyền bá mạnh mẽ ở Việt Nam. Với vỏ bọc là một môn luyện công rèn luyện sức khỏe, nhưng thực tế, mục đích của những người đứng đầu tổ chức “Pháp Luân Công” là muốn lôi kéo đông đệ tử nhằm thực hiện các hoạt động gây rối để công khai hóa tổ chức đúng như kịch bản đã thực hiện ở Trung Quốc. Hiện nay, “Pháp Luân Công” đã lôi kéo được khá nhiều người dân Việt Nam tham gia. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, có khoảng 7.000 người tham gia tại 565 điểm luyện tập thuộc 62 tỉnh, thành phố, với các thành phần tham gia khác nhau và khá phức tạp.
Phương thức hoạt động chủ yếu dưới hình thức nhóm, câu lạc bộ dưỡng sinh. Ngoài ra, những người theo “Pháp Luân Công” còn lập ra nhiều trang web, facebook, blog, rải tờ rơi phát tán tài liệu tuyên truyền về “Pháp Luân Công” để quảng bá và thu hút các đệ tử :
Bên cạnh một số mặt tích cực của việc tập luyện “Pháp Luân Công” (như: rèn luyện sức khỏe, giảm stress, cân bằng xúc cảm, gia tăng năng lượng, thư giãn…), đằng sau đó là rất nhiều tư tưởng mê tín, phản khoa học. Ví dụ học viên “Pháp Luân Công” được tuyên truyền rằng, ai tập “Pháp Luân Công” sẽ được Pháp Thân của Lý Hồng Chí bảo hộ. Hoặc Pháp Thân của Lý Hồng Chí sẽ làm tịnh hóa thân tâm của người tập “Pháp Luân Công”…… Học viên “Pháp Luân Công” tin rằng, cái gì họ làm cũng là nhờ ơn của sư phụ Lý Hồng Chí, ngay cả đến tranh luận với người bên ngoài cũng tin là sư phụ Lý Hồng Chí của họ sắp xếp để họ tranh luận và “Người tập “Pháp Luân Công” làm cho con người đạt đến khai công, khai ngộ, công thành viên mãn, linh hồn bất diệt; ai ngăn cản là ma quỷ”; hoặc “nguyên nhân của bệnh tật là do những việc xấu của kiếp trước, nếu tin tưởng vào luyện công, dừng ngay việc uống thuốc, không cần khám chữa trị tự nhiên có người chữa trị cho…”.
Vì vậy, mọi người cần chú ý rằng, việc luyện công rèn luyện sức khỏe của “Pháp Luân Công” dù có đem lại lợi ích sức khỏe đi nữa, cũng không liên quan gì đến pháp thân của Lý Hồng Chí. Đừng thấy sự tiến bộ trong quá trình tập luyện để tin theo một thứ tà đạo nguy hiểm, sự lừa dối, sảo trá, phản khoa học. Mặc dù luôn cho rằng, tuyên truyền là để thu hút đệ tử tập luyện nâng cao trí tuệ, sức khỏe nhưng thực chất là tán phát tài liệu trái phép tuyên truyền, kích động, gây rối trật tự công cộng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần cảnh giác, nhìn nhận rõ chân tướng và vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động của những đối tượng lợi dụng pháp luân công để kích động chống Đảng, Nhà nước gây mất ổn định chính trị./.
NQR
Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”
Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:
Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.
Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó, phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.
Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.
Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.
Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.
Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành 4 Nghị quyết quan trọng
CẦN CẢNH GLỢI DỤNG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG XẤU