Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác kiểm tra, giám sát

 Nhiều nhiệm kỳ qua, Trung ương đã tập trung chỉ đạo tiến hành quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Trong đó, tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tại Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tại Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Điều lệ Đảng quy định, kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, đòi hỏi chất lượng ngày càng cao đối với công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ. Qua đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, chấn chỉnh những nơi thực hiện chưa tốt, đồng thời phổ biến, nhân rộng những cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả.

Tăng cường kiểm tra nội bộ Đảng

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã sớm thành lập các đoàn kiểm tra việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương. Theo chương trình kiểm tra năm 2021, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập 10 đoàn kiểm tra, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đối với 20 cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương về lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định về trách nhiệm nêu gương.

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy không chỉ kiểm tra việc học tập, quán triệt nghị quyết mà phải kiểm tra việc cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết; chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật…

Qua kiểm tra, Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm tồn tại. Cụ thể là, tiến độ tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt ở một số nơi còn chậm; bí thư cấp ủy chưa trực tiếp làm báo cáo viên; thảo luận còn hình thức, vẫn còn biểu hiện “khoán trắng” cho hệ thống tuyên giáo cấp ủy; chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn chung chung, chưa sát thực tế, chưa rõ vai trò, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, cơ quan chủ trì, cơ quan tham mưu, phối hợp trong tổ chức thực hiện, chưa rõ lộ trình thực hiện.

Người đứng đầu một số cấp ủy, tổ chức đảng còn thiếu gương mẫu, có biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không nắm chắc tình hình địa bàn, cơ quan, đơn vị. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa hiệu quả; một số cấp ủy chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và các quy định về nêu gương.

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy không chỉ kiểm tra việc học tập, quán triệt nghị quyết mà phải kiểm tra việc cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết; chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật…

Mới đây, tại buổi làm việc với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, triển khai Quyết định của Bộ Chính trị về kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nêu rõ, điểm mới trong nhiệm kỳ này là trên cơ sở tham mưu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, công tác kiểm tra triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng không chỉ đối với các ban cán sự, đảng đoàn, đảng ủy các cơ quan Trung ương mà còn đối với các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy... Quá trình tham mưu, hoàn thiện các văn bản là bước rất cơ bản, quan trọng để thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng.

Kiểm tra lĩnh vực mới, nhạy cảm, trách nhiệm người đứng đầu

Góp phần tích cực vào kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua, có nỗ lực của ngành Kiểm tra đảng. Công tác kiểm tra đã chủ động, quyết liệt khi có dấu hiệu vi phạm và đã tạo bước đột phá trong thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này. Có những việc mới, việc khó, phức tạp, nhạy cảm, kéo dài, liên quan nhiều cấp, ngành, nhiều địa phương, gây bức xúc xã hội đã được kiểm tra, kết luận rõ và xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Nhiều tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị vì không giữ được trong sạch, liêm chính để tay nhúng chàm, đã phải trả giá bằng những hình thức kỷ luật nghiêm khắc về đảng và sự trừng phạt của pháp luật.

Trong giai đoạn từ 2012 đến tháng 3/2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.741 tổ chức đảng, hơn 167.748 cán bộ, đảng viên.

Trong đó có 7.393 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 6/2022, đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII).

Trong 10 năm kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (nay là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực), có gần 1.000 vụ án, vụ việc được đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ.

Trong đó, trực tiếp theo dõi, chỉ đạo là 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; đã đưa ra xét xử sơ thẩm 120 vụ án, 1.083 bị cáo, trong đó có 37 cán bộ diện Trung ương quản lý, bị xử lý hình sự.

Qua kiểm tra, xét xử các đại án như Mobifone mua 95% cổ phần của AVG; cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn; Dự án mở rộng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn II; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2… và mới đây là các vụ liên quan Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), FLC, Tân Hoàng Minh… đã chỉ rõ tính chất, mức độ, hành vi vi phạm của tổ chức đảng và người đứng đầu ở một số bộ, ngành, đơn vị, địa phương, với quy mô và ảnh hưởng tiêu cực ở phạm vi lớn.

Kết quả kiểm tra cũng chỉ rõ mức độ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một số cá nhân với vai trò là người đứng đầu, đã vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước, làm suy giảm niềm tin trong nhân dân.

Gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á trong việc “thổi giá” bộ kít xét nghiệm Covid-19, thu lợi bất chính hàng nghìn tỷ đồng. Đây cũng là lĩnh vực khó và mới, song với sự vào cuộc chủ động, khẩn trương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ đạo các đoàn tích cực kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và đạt nhiều kết quả trong thời gian ngắn.

Cấp có thẩm quyền đã thi hành kỷ luật đảng mức độ cao nhất; truy cứu trách nhiệm hình sự, bắt tạm giam nhiều cán bộ, đảng viên, người đứng đầu vi phạm. Trong đó, có hai Ủy viên Trung ương khóa XIII, nhiều cán bộ, đảng viên diện Ban Bí thư quản lý.

Diễn biến mới nhất của vụ án, liên quan những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban cán sự đảng UBND tỉnh Hải Dương, sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã quyết định thi hành kỷ luật nghiêm khắc các tổ chức đảng và cá nhân vi phạm; đình chỉ sinh hoạt đảng, đình chỉ các chức vụ trong Đảng và trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí Phạm Xuân Thăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.

Trong ngày làm việc thứ nhất của Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII đang diễn ra tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết, quyết định khai trừ Đảng đối với đồng chí Phạm Xuân Thăng.

Qua 20 kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ cho thấy, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã phối hợp hiệu quả với cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, tập trung kiểm tra, giám sát nhiều tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra sai phạm; giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc tồn đọng, nổi cộm, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tại kỳ họp thứ 20 vừa qua, sau khi xem xét kết quả kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Viện và một số cá nhân; Bộ Chính trị đã xem xét, thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với đồng chí Bùi Nhật Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, do những vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo; thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm trong công tác cán bộ; quản lý, sử dụng tài chính, tài sản, đầu tư công; quản lý nghiên cứu khoa học; đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện không nghiêm chỉ đạo, kết luận của các tổ chức đảng cấp trên.

Tại Hội nghị đang diễn ra, Trung ương đã biểu quyết, thống nhất để 3 đồng chí Bùi Nhật Quang, Nguyễn Thành Phong và Huỳnh Tấn Việt thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Hoàn thiện chế tài xử lý kỷ luật đảng

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ XIII. Do đó, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kịp thời tham mưu, trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị xem xét, ban hành nhiều văn bản quan trọng, nhằm cung cấp bộ công cụ hữu hiệu trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

Trong đó có Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, và nhiều quy định, quy trình, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát với nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp triển khai nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Và mới nhất là Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Nêu rõ những điểm mới trong Quy định số 22 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, đồng chí Trần Văn Rón, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho biết, Quy định 22 kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định 30 và bổ sung một số nguyên tắc, nội dung quan trọng để cụ thể hóa các quy định của Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, về công tác phòng, chống tham nhũng.

Đồng thời, Trung ương căn cứ những vấn đề nảy sinh trong nhiệm kỳ qua, những vấn đề có tính bản chất, phổ biến hoặc còn thiếu, nhằm phát huy đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng…

Về các nguyên tắc trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, Quy định 22 đã bổ sung một nguyên tắc rất quan trọng, đó là, công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe, giáo dục.

Quy định số 69 được xem là quy định về kỷ luật của Đảng lớn nhất và hoàn thiện nhất từ trước đến nay. Quy định số 69 hệ thống tương đối toàn diện, đầy đủ, cụ thể và bao quát các phương diện trong đời sống xã hội.

Nội dung này cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vừa thể hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng là nhằm phát huy ưu điểm, lấy “xây” là chính; vừa thể hiện quan điểm của Đảng khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên tìm tòi, năng động, sáng tạo; đề cao bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, bảo vệ những cán bộ hết mình vì sự nghiệp chung; đồng thời, khắc phục tư tưởng ỷ lại, cho rằng việc xử lý các vụ việc qua công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, công tác phòng, chống tham nhũng đã làm nhụt chí phấn đấu của cán bộ, đảng viên…

Quy định số 69 được xem là quy định về kỷ luật của Đảng lớn nhất và hoàn thiện nhất từ trước đến nay. Quy định số 69 hệ thống tương đối toàn diện, đầy đủ, cụ thể và bao quát các phương diện trong đời sống xã hội.

Các vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên được đặt trong một quy định thống nhất, đồng bộ để xác định cụ thể các hành vi và chế tài xử lý làm căn cứ để kỷ luật. Điểm mới trong quy định này tập trung ở 3 nội dung chính, đó là, quy định các hành vi mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo về các vi phạm; tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ chế tài đối với hành vi vi phạm; xác định rõ động cơ, mục đích, hậu quả của hành vi làm căn cứ áp dụng chế tài phù hợp với thực tiễn và đồng bộ với quy định mới của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Các quy định mới được ban hành và có hiệu lực ngay sau đó, cho thấy, Ban Chấp hành Trung ương xác định rõ hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, tăng thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn cách mạng mới.

Các đài trạm ra đa thuộc Trung đoàn ra đa 351, Vùng 3 Hải quân đóng quân trên các đỉnh núi cao ven biển và trên một số đảo gần bờ. Các đài ra đa được ví như những “mắt thần”, ngày đêm quan sát, theo dõi các hoạt động trên biển, góp phần giữ vững bình yên, chủ quyền biển đảo quê hương. Bảo quản anten ra đa tại Trạm 550 Thực hiện nhiệm vụ quan sát, theo dõi các mục tiêu trên biển và trên không phận tầm thấp, trong khu vực biển miền Trung, Trung đoàn ra đa 351, được biên chế nhiều khí tài, trang bị mới hiện đại. Cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn đã tích cực học tập, huấn luyện, nhanh chóng làm chủ trang bị kỹ thuật mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Năm 2022, Trung đoàn ra đa 351 được Vùng 3 Hải quân lựa chọn là đơn vị điểm về công tác huấn luyện làm chủ VKTBKT mới, hiện đại. Đảng ủy Trung đoàn đã ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ huấn luyện làm chủ trang bị, khí tài mới. Theo đó, chỉ huy Trung đoàn xây dựng kế hoạch thực hiện gắn với thực hiện công tác huấn luyện trong năm, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ then chốt trong công tác huấn luyện năm 2022 và những năm tiếp theo. Thượng tá Nguyễn Văn Duy, Phó Trung đoàn trưởng phụ trách về kỹ thuật, Trung đoàn 351 cho biết: “Trong quá trình huấn luyện làm chủ trang bị kỹ thuật mới chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn như: Trang bị khí tài mới, hiện đại có hàm lượng trí tuệ cao trong khi đó đội ngũ cán bộ, nhân viên trình độ không đồng đều, trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế. Các trang bị vừa phải thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, vừa tổ chức huấn luyện làm chủ nên gặp nhiều khó khăn…”. Trước đó, cùng với việc trang bị hệ thống ra đa, khí tài mới, cơ quan chức năng Quân chủng Hải quân đã phối hợp với các đối tác tổ chức tập huấn cho cán bộ, nhân viên ra đa trong toàn Quân chủng. Sau khi hoàn thành lớp tập huấn, Trung đoàn đã xây dựng kế hoạch huấn luyện làm chủ trong khai thác, sử dụng và bảo quản, bảo dưỡng ra đa. Các đồng chí có kết quả tập huấn giỏi, xuất sắc được lựa chọn vào tổ giáo viên để tổ chức huấn luyện cho cán bộ, nhân viên ra đa trong toàn Trung đoàn. Thiếu tá Hoàng Bá Sỹ, Chủ nhiệm Kỹ thuật Trung đoàn 351 chia sẻ: “Trong quá trình lắp đặt trang bị, khí tài tại các đơn vị, Trung đoàn đã cử các đồng chí cán bộ kỹ thuật, cán bộ, nhân viên trạm ra đa tham gia từ khâu lắp đặt, hiệu chỉnh, kiểm tra tham số đến thao tác sử dụng trang bị kỹ thuật. Nhờ vậy, ngay sau khi bàn giao trang bị, khí tài, cán bộ, nhân viên các trạm đã có thể khai thác sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng nhanh chóng đưa trang bị vào hoạt động”. Theo phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, Trung đoàn chỉ đạo các trạm ra đa chủ động xây dựng giáo án, tổ chức huấn luyện từ lý thuyết đến thực hành, huấn luyện thuần thục từng vị trí trắc thủ đến hiệp đồng phiên ban toàn trạm. Chỉ huy các trạm thường xuyên kiểm tra, nắm chắc trình độ, chuyên môn của từng trắc thủ, trên cơ sở đó phân công các đồng chí có kết quả giỏi kèm cặp, giúp đỡ các đồng chí trung bình, yếu và các đồng chí mới về đơn vị nhận công tác. Huấn luyện làm chủ trang bị kỹ thuật tại Trạm 535 Năm 2020, Thiếu úy QNCN Võ Văn Sơn tốt nghiệp Trường Cao đẳng kỹ thuật Hải quân về nhận nhiệm vụ trắc thủ tại Trạm ra đa 3511, Trung đoàn 351. Trang bị kỹ thuật mới hiện đại khiến Sơn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Được sự quan tâm, hướng dẫn theo cách “cầm tay chỉ việc” của chỉ huy trạm và các đồng chí có kinh nghiệm, Sơn nhanh chóng nắm chắc quy trình thao tác, khai thác sử dụng thuần thục trang bị khí tài tại vị trí được phân công. “Máy ra đa và khí tài mới sử dụng công nghệ hiện đại và có độ tích hợp cao. Đặc biệt màn hình hiển thị khác biệt so với những loại ra đa chúng tôi đã từng học trong trường. Việc huấn luyện trực tiếp trong các phiên ca giúp chúng tôi nhanh chóng nắm chắc quy luật hoạt động các mục tiêu trong khu vực biển được phân công. Đây chính là cơ sở để mỗi trắc thủ xác định kiểu loại, hành động của tàu thuyền trên biển, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Võ Văn Sơn chia sẻ. Trong quá trình huấn luyện, chỉ huy trạm chú trọng huấn luyện thực hành, huấn luyện kết hợp trong các phiên ca. Hàng tuần, chỉ huy các trạm tổ chức rút kinh nghiệm huấn luyện khai thác làm chủ trang bị kỹ thuật. Cơ quan chức năng của Trung đoàn sẽ tổng hợp các nội dung, sau đó phổ biến rút kinh nghiệm trong toàn Trung đoàn nhằm nâng cao chất lượng khai thác sử dụng trang bị, kỹ thuật. Thiếu tá Ngô Văn Hùng, Trạm trưởng Trạm 3511 cho biết: “Rút kinh nghiệm huấn luyện, chúng tôi giải đáp những câu hỏi, thắc mắc của cán bộ, nhân viên. Những nội dung khó, chúng tôi nhờ các chuyên gia của phía đối tác hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện. Trong quá trình khai thác, sử dụng bảo quản, bảo dưỡng trang bị kỹ thuật, chúng tôi tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyệt đối không được làm tắt, làm ẩu, không để máy móc hỏng hóc do chủ quan hay do thiếu trách nhiệm”. Các tài liệu hướng dẫn khai thác, sử dụng của trang bị, khí tài mới phần lớn bằng tiếng Anh và chưa được dịch ra tiếng Việt dẫn tới việc huấn luyện làm chủ của Trung đoàn gặp rất nhiều khó khăn. Cùng với việc tổ chức các lớp tiếng Anh, lớp tin học cơ bản tại các trạm, chỉ huy các cấp đã động viên, khuyến khích cán bộ, nhân viên tự học, tự nghiên cứu tin học, ngoại ngữ. Đến nay, cán bộ, nhân viên Trung đoàn đã dịch toàn bộ hướng dẫn sử dụng từ tiếng Anh sang tiếng Việt và xây dựng quy trình khai thác sử dụng của từng vị trí trong hệ thống trang bị, khí tài mới. Thiếu tá Hoàng Bá Sỹ cho biết thêm: “Các trang bị vừa phải thực hiện nhiệm vụ chiến đấu vừa tổ chức huấn luyện làm chủ nên gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục điều này cán bộ, nhân viên đã nghiên cứu xây dựng các mô hình, mô phỏng huấn luyện như: “Phần mềm mô phỏng ra đa”; “Mô phỏng hoạt động máy phát điện”; “Phần mềm mô phỏng máy thông tin”… để huấn luyện cho bộ đội”. Nhờ làm tốt công tác huấn luyện, cán bộ, nhân viên Trung đoàn đã nhanh chóng khai thác, sử dụng an toàn, hiệu quả, phát huy đầy đủ tính năng kỹ-chiến thuật, làm chủ các trang thiết bị kỹ thuật mới, hiện đại được biên chế. Nhiều năm qua, Trung đoàn ra đa 351 luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ quan sát, phát hiện các mục tiêu trong khu vực biển được phân công, không bị bất ngờ trong mọi tình huống.

 Phương thức lãnh đạo của Ðảng luôn hướng đến mục tiêu động viên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó khẳng định, bảo đảm, tăng cường năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Ðảng. Phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, tạo cơ chế và vận động nhân dân tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền, các địa phương có nhiều cách làm hay, hiệu quả, góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Ðảng với nhân dân.

Người dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, kiến nghị tại cuộc gặp mặt tiếp xúc đối thoại với Bí thư Tỉnh ủy ngày 12/9/2022 (Ảnh: Mạnh Hùng).
Người dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, kiến nghị tại cuộc gặp mặt tiếp xúc đối thoại với Bí thư Tỉnh ủy ngày 12/9/2022 

Ðịnh hướng, xác định mục tiêu đúng đắn, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, có uy tín để vận động, thuyết phục nhân dân là phương thức lãnh đạo được thể hiện thường xuyên, trong công tác hằng ngày của các cấp ủy đảng.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, các cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở, bám sát nguyên tắc từ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", đến "dân giám sát, dân thụ hưởng", đổi mới phương pháp tuyên truyền, vận động, qua đó khơi dậy tinh thần làm chủ, huy động sức dân vào nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Coi trọng quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

Trưởng khu dân cư số 4, xã Thọ Văn, huyện Tam Nông (Phú Thọ) Hán Thị Hải hồ hởi dẫn khách tham quan Nhà văn hóa khu dân cư có khuôn viên gần 1.000 m2 mới hoàn thành.

Chị cho biết, công trình là kết quả của việc tăng cường triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở. Sau nhiều năm không có nhà văn hóa, năm 2021, Chi bộ và lãnh đạo Khu dân cư số 4 tổ chức họp và nêu vấn đề để nhân dân góp ý. Khi được tham gia bàn bạc, biết khó khăn của thôn, bác Hoàng Công Thương đã chủ động hiến 1.000 m2 đất của gia đình làm nhà văn hóa. Noi gương bác Thương, các gia đình trong khu tự nguyện góp thêm gần 200 triệu đồng.

Nhắc đến việc làm cụ thể này của cấp ủy cơ sở, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Tam Nông, Nguyễn Chí Thắng chia sẻ: Với mong muốn phát huy cao nhất vai trò làm chủ của nhân dân, chúng tôi luôn quán triệt các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị thể hiện sự trọng dân, mọi việc đều đưa ra nhân dân bàn bạc, góp ý.

Bài học sáng tạo khi thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở mang lại hiệu quả cũng vừa xuất hiện tại huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình). Dự án đầu tư nâng cấp tuyến đường huyện ÐH78 dài 5,5 km, vốn đầu tư 34,8 tỷ đồng tại Quỳnh Phụ được giải phóng mặt bằng "thần tốc" trong 5 ngày và 100% số hộ trong diện di dời đều tự nguyện hiến đất với hình thức thỏa thuận góp quyền sử dụng đất cho Nhà nước không đòi lại. Tuyến đường này đi qua ba xã và có 161 hộ thuộc diện thu hồi đất.

Ngoài việc công khai quy hoạch, kế hoạch triển khai và các hộ bị ảnh hưởng, Huyện ủy Quỳnh Phụ chỉ đạo các đơn vị tập trung tuyên truyền về quyền lợi nhân dân sẽ được hưởng khi triển khai dự án, đồng thời ban hành chính sách xã nào có 100% số hộ dân trên tuyến đường đồng thuận, tự nguyện góp quyền sử dụng đất thì ưu tiên hỗ trợ xây dựng, cây trồng và tái định cư cho người dân có nhu cầu. Nhờ đó, dự án có thời gian giải phóng mặt nhanh nhất của tỉnh, đồng thời giảm cho Nhà nước gần 10 tỷ đồng đầu tư.

Theo Bí thư Huyện ủy Ðinh Trọng Xá, đây cũng là kết quả của việc làm tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó ngoài thực hiện nghiêm nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" thì huyện nhấn mạnh nội dung "dân thụ hưởng" trong tuyên truyền và cơ chế khuyến khích.

Ðể phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lựa chọn cán bộ, một số địa phương như tỉnh Quảng Ninh đã đổi mới quy trình công tác bầu cử người đứng đầu thôn, bản, khu phố theo hướng "dân tin, đảng cử".

Chi bộ lựa chọn những đảng viên tiêu biểu giới thiệu để nhân dân tín nhiệm bầu làm trưởng thôn, bản, khu phố. Sau đó, những đảng viên này sẽ được cấp ủy giới thiệu bầu làm bí thư chi bộ.

Ðến nay, Quảng Ninh có 100% số bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố. Với phẩm chất đạo đức tiêu biểu, tinh thần gương mẫu, được nhân dân tín nhiệm, đội ngũ này đang trở thành cánh tay đắc lực của cấp ủy, chính quyền tại cơ sở và là cầu nối hiệu quả giữa Ðảng với nhân dân.

Sâu sát cơ sở, gắn bó với thực tiễn là điểm nổi bật trong đổi mới phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân của các cấp ủy đảng tại các địa phương.

Hay mô hình chính quyền thân thiện đã được nhiều địa phương triển khai như tại tỉnh Hà Nam và mang lại hiệu quả tích cực.

Việc đổi mới từ chính quyền mệnh lệnh, hành chính sang phục vụ nhân dân đã đề cao tinh thần làm chủ của người dân, khuyến khích người dân tham gia tích cực vào các nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương.

Có thể thấy rõ qua kết quả phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Từ một địa phương thuần nông, luôn phải nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương thì đến năm 2022, Hà Nam đã vững vàng tự chủ ngân sách, đời sống vật chất, tinh thần nhân dân trong tỉnh ngày càng nâng cao.

Sâu sát cơ sở, gắn bó với thực tiễn là điểm nổi bật trong đổi mới phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân của các cấp ủy đảng tại các địa phương mà chúng tôi ghi nhận được.

Chẳng hạn như Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre có kế hoạch phân công các đồng chí tỉnh ủy viên, ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội của tỉnh trực tiếp theo dõi, hỗ trợ các xã, phường, thị trấn, với tinh thần "tỉnh nắm tới xã; huyện nắm tới ấp, khu phố; xã nắm tới hộ gia đình".

Tỉnh quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ đi cơ sở, nội dung, mức độ nắm, theo dõi, hỗ trợ đối với từng cán bộ được phân công và các mối quan hệ với cơ sở. Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ có quy định về trách nhiệm của các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Ðảng bộ thành phố dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư được phân công phụ trách, theo dõi; dự sinh hoạt với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, băn khoăn của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hay các mô hình: "Ban tuyên vận xã, phường, thị trấn", "Tổ tuyên vận thôn, bản, tổ dân phố" của tỉnh Lào Cai; "Hội nghệ nhân dân gian" của tỉnh Hà Giang; "5 có, 5 không" của tỉnh Sơn La... đã giúp xóa bỏ các hủ tục, đổi mới tập quán sản xuất, áp dụng khoa học-kỹ thuật, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Mở rộng cơ chế nhân dân góp ý xây dựng Đảng, chính quyền

Ðầu năm 2021, người dân xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La) phấn khởi khi kiến nghị tại cuộc đối thoại với lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh được giải quyết nhanh và thỏa đáng. Ðó là việc một số cán bộ, đảng viên trong xã đã được đề nghị tặng Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh Sơn La", từ năm 2010 nhưng chưa nhận được hiện vật khen thưởng.

Ngay sau buổi đối thoại, Giám đốc Sở đã phối hợp UBND huyện Mộc Châu chỉ đạo rà soát quy trình, xác định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan. Kết quả UBND huyện Mộc Châu đã thu hồi tiền thưởng đối với 46 cá nhân do chi sai; đồng thời tổ chức trao tặng, chi trả tiền thưởng kỷ niệm chương cho 115 cá nhân với tổng số tiền hơn 68 triệu đồng.

Hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại với nhân dân là một giải pháp giúp giải quyết nhiều vướng mắc giữa chính quyền và nhân dân, đồng thời tạo niềm tin, khuyến khích người dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền.

Ðây chỉ là một trong số nhiều ý kiến mà Sở Nội vụ Sơn La giải quyết cho người dân thông qua đối thoại trực tiếp. Hình thức này mới được Sở tăng cường triển khai sau khi có rất ít các ý kiến của người dân kiến nghị, phản ánh thông qua cổng thông tin điện tử hoặc hòm thư góp ý.

Hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại với nhân dân là một giải pháp giúp giải quyết nhiều vướng mắc giữa chính quyền và nhân dân, đồng thời tạo niềm tin, khuyến khích người dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền. Qua khảo sát cho thấy, các địa phương có cán bộ đứng đầu cấp ủy, chính quyền nghiêm túc thực hiện việc định kỳ trao đổi, đối thoại với nhân dân, doanh nghiệp, ở đó việc lãnh đạo của cấp ủy và điều hành của chính quyền thuận lợi, nhân dân tin tưởng, đồng thuận thực hiện các chủ trương, chính sách.

Ðã nhiều năm nay, Tỉnh ủy Quảng Nam chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp chính quyền, cơ quan, đơn vị mở các diễn đàn nhân dân tham gia góp ý và nhận được nhiều đóng góp thiết thực.

Tại diễn đàn "Nhân dân góp ý xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức" năm 2022 của xã Ðại Minh, huyện Ðại Lộc, người dân thẳng thắn chỉ ra việc giải quyết các thủ tục hồ sơ hành chính còn chậm; một số cán bộ, công chức chưa chấp hành nghiêm túc giờ giấc làm việc.

Tại huyện Thăng Bình, diễn đàn "Nhân dân góp ý xây dựng Ðảng, xây dựng chính quyền năm 2022", nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn trong công tác phát triển đảng viên mới, quản lý đảng viên đi làm xa được nhân dân nêu ra và cùng bàn bạc, góp ý. Người dân cũng mạnh dạn góp ý việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều vướng mắc; thủ tục, hồ sơ rườm rà, gây phiền hà.

Ðồng chí Nguyễn Thanh Phong, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Thăng Bình cho biết, thông qua ý kiến của nhân dân từ các diễn đàn, các cấp ủy, chính quyền nhận định sát tình hình, đánh giá tổ chức đảng, đảng viên, triển khai tốt hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Ðể nhân dân có thêm cơ sở góp ý, nhiều cấp ủy đảng chú trọng triển khai Quyết định số 99-QÐ/TW, ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư ban hành hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Huyện ủy Tam Nông (tỉnh Phú Thọ) chỉ đạo quyết liệt việc công khai các nội dung theo Quyết định số 99-QÐ/TW tại các kỳ sinh hoạt chi bộ, trên các phương tiện truyền thông của huyện, xã, công khai niêm yết tại trụ sở, thông qua các buổi tuyên truyền của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội tại các xã, thị trấn, tại các buổi họp khu dân cư. Các cấp chính quyền trong huyện cũng thực hiện nền nếp việc ghi nhận các ý kiến góp ý thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, tiếp xúc cử tri, hòm thư góp ý, gửi văn bản... Huyện ủy duy trì tốt việc đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình trước nhân dân tại khu dân cư.

Sau 5 năm triển khai, các cấp ủy đảng và chính quyền huyện Tam Nông thực hiện 1.125 cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, đối thoại... và nhận được 29.181 lượt ý kiến của nhân dân.

Tại Cần Thơ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, HÐND và UBND thành phố ký quy chế phối hợp công tác nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp thông tin và cùng tham gia các hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức và đại biểu dân cử trên địa bàn. Trong năm 2020, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã góp ý 3.215 loại văn bản quy phạm pháp luật, 10.695 dự thảo các chương trình, đề án và văn bản khác của cấp ủy, chính quyền cùng cấp; phối hợp tổ chức 2.450 cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân.

Sự thấu hiểu, đồng thuận của nhân dân trong triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng là thước đo hiệu quả, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của các cấp ủy đảng. Từ thực tế cách làm của các địa phương, dễ dàng nhận thấy cấp ủy đảng các cấp luôn chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị theo hướng sát dân, vì dân, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Ðảng với nhân dân, qua đó phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền.

Tuy nhiên, ở một số nơi việc thực hiện quy chế dân chủ chưa được coi trọng, vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân... Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc vẫn còn mờ nhạt. Một số nơi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội có biểu hiện hành chính hóa. Một số cấp ủy đảng chưa khẳng định rõ vai trò lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc cùng cấp đồng thời là thành viên của tổ chức này...

Ðề cập chủ đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị theo hướng ngày càng phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Ðảng, chính quyền, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Thông, nguyên Phó Tổng Thư ký kiêm Ủy viên Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng cần bám sát quan điểm chỉ đạo của Ðại hội Ðảng lần thứ XIII về quy chế dân chủ cơ sở đã được bổ sung hoàn thiện thêm hai thành tố mới, đồng thời nhanh chóng cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật làm cơ sở triển khai thực hiện. Kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định cũ, có nhiều hạn chế như Quyết định số 218-QÐ/TW ngày 27/12/2013 của Bộ Chính trị về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, xây dựng chính quyền.

Theo Tiến sĩ Tạ Văn Sỹ, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần đề cao hơn nữa vai trò nêu gương của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ theo hướng lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo chất lượng công việc. Ðề cao trách nhiệm người đứng đầu cũng như có chế tài đủ mạnh để việc tiếp công dân, giải quyết tố cáo, khiếu nại, khiến nghị của công dân đi vào nền nếp, hoạt động hiệu quả.

Thành quả của đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng thể hiện ở kết quả của nhiều lĩnh vực. Quá trình lãnh đạo, cấp ủy đảng các cấp cùng với việc kịp thời ban hành đường lối, chủ trương, nghị quyết, sát sao chỉ đạo thực hiện, cần sâu sát nhân dân để tuyên truyền, vận động sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống, đồng thời coi trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Làm được như vậy, việc đổi mới các phương thức lãnh đạo của Ðảng trở nên nhuần nhuyễn trong công việc hằng ngày của các tổ chức cơ sở đảng.

Và như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Ðảng, thì Ðảng mới giành được địa vị lãnh đạo".

Thành quả của đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng thể hiện ở kết quả của nhiều lĩnh vực. Quá trình lãnh đạo, cấp ủy đảng các cấp cùng với việc kịp thời ban hành đường lối, chủ trương, nghị quyết, sát sao chỉ đạo thực hiện, cần sâu sát nhân dân để tuyên truyền, vận động sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống, đồng thời coi trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Làm được như vậy, việc đổi mới các phương thức lãnh đạo của Ðảng trở nên nhuần nhuyễn trong công việc hằng ngày của các tổ chức cơ sở đảng.

Những “mắt thần” canh biển

 Các đài trạm ra đa thuộc Trung đoàn ra đa 351, Vùng 3 Hải quân đóng quân trên các đỉnh núi cao ven biển và trên một số đảo gần bờ. Các đài ra đa được ví như những “mắt thần”, ngày đêm quan sát, theo dõi các hoạt động trên biển, góp phần giữ vững bình yên, chủ quyền biển đảo quê hương.

Bảo quản anten ra đa tại Trạm 550

Thực hiện nhiệm vụ quan sát, theo dõi các mục tiêu trên biển và trên không phận tầm thấp, trong khu vực biển miền Trung, Trung đoàn ra đa 351, được biên chế nhiều khí tài, trang bị mới hiện đại. Cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn đã tích cực học tập, huấn luyện, nhanh chóng làm chủ trang bị kỹ thuật mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Năm 2022, Trung đoàn ra đa 351 được Vùng 3 Hải quân lựa chọn là đơn vị điểm về công tác huấn luyện làm chủ VKTBKT mới, hiện đại. Đảng ủy Trung đoàn đã ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ huấn luyện làm chủ trang bị, khí tài mới. Theo đó, chỉ huy Trung đoàn xây dựng kế hoạch thực hiện gắn với thực hiện công tác huấn luyện trong năm, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ then chốt trong công tác huấn luyện năm 2022 và những năm tiếp theo.

Thượng tá Nguyễn Văn Duy, Phó Trung đoàn trưởng phụ trách về kỹ thuật, Trung đoàn 351 cho biết: “Trong quá trình huấn luyện làm chủ trang bị kỹ thuật mới chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn như: Trang bị khí tài mới, hiện đại có hàm lượng trí tuệ cao trong khi đó đội ngũ cán bộ, nhân viên trình độ không đồng đều, trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế. Các trang bị vừa phải thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, vừa tổ chức huấn luyện làm chủ nên gặp nhiều khó khăn…”.

Trước đó, cùng với việc trang bị hệ thống ra đa, khí tài mới, cơ quan chức năng Quân chủng Hải quân đã phối hợp với các đối tác tổ chức tập huấn cho cán bộ, nhân viên ra đa trong toàn Quân chủng. Sau khi hoàn thành lớp tập huấn, Trung đoàn đã xây dựng kế hoạch huấn luyện làm chủ trong khai thác, sử dụng và bảo quản, bảo dưỡng ra đa. Các đồng chí có kết quả tập huấn giỏi, xuất sắc được lựa chọn vào tổ giáo viên để tổ chức huấn luyện cho cán bộ, nhân viên ra đa trong toàn Trung đoàn.

Thiếu tá Hoàng Bá Sỹ, Chủ nhiệm Kỹ thuật Trung đoàn 351 chia sẻ: “Trong quá trình lắp đặt trang bị, khí tài tại các đơn vị, Trung đoàn đã cử các đồng chí cán bộ kỹ thuật, cán bộ, nhân viên trạm ra đa tham gia từ khâu lắp đặt, hiệu chỉnh, kiểm tra tham số đến thao tác sử dụng trang bị kỹ thuật. Nhờ vậy, ngay sau khi bàn giao trang bị, khí tài, cán bộ, nhân viên các trạm đã có thể khai thác sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng nhanh chóng đưa trang bị vào hoạt động”.

Theo phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, Trung đoàn chỉ đạo các trạm ra đa chủ động xây dựng giáo án, tổ chức huấn luyện từ lý thuyết đến thực hành, huấn luyện thuần thục từng vị trí trắc thủ đến hiệp đồng phiên ban toàn trạm. Chỉ huy các trạm thường xuyên kiểm tra, nắm chắc trình độ, chuyên môn của từng trắc thủ, trên cơ sở đó phân công các đồng chí có kết quả giỏi kèm cặp, giúp đỡ các đồng chí trung bình, yếu và các đồng chí mới về đơn vị nhận công tác.

Huấn luyện làm chủ trang bị kỹ thuật tại Trạm 535 

Năm 2020, Thiếu úy QNCN Võ Văn Sơn tốt nghiệp Trường Cao đẳng kỹ thuật Hải quân về nhận nhiệm vụ trắc thủ tại Trạm ra đa 3511, Trung đoàn 351. Trang bị kỹ thuật mới hiện đại khiến Sơn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Được sự quan tâm, hướng dẫn theo cách “cầm tay chỉ việc” của chỉ huy trạm và các đồng chí có kinh nghiệm, Sơn nhanh chóng nắm chắc quy trình thao tác, khai thác sử dụng thuần thục trang bị khí tài tại vị trí được phân công.

“Máy ra đa và khí tài mới sử dụng công nghệ hiện đại và có độ tích hợp cao. Đặc biệt màn hình hiển thị khác biệt so với những loại ra đa chúng tôi đã từng học trong trường. Việc huấn luyện trực tiếp trong các phiên ca giúp chúng tôi nhanh chóng nắm chắc quy luật hoạt động các mục tiêu trong khu vực biển được phân công. Đây chính là cơ sở để mỗi trắc thủ xác định kiểu loại, hành động của tàu thuyền trên biển, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Võ Văn Sơn chia sẻ.

Trong quá trình huấn luyện, chỉ huy trạm chú trọng huấn luyện thực hành, huấn luyện kết hợp trong các phiên ca. Hàng tuần, chỉ huy các trạm tổ chức rút kinh nghiệm huấn luyện khai thác làm chủ trang bị kỹ thuật. Cơ quan chức năng của Trung đoàn sẽ tổng hợp các nội dung, sau đó phổ biến rút kinh nghiệm trong toàn Trung đoàn nhằm nâng cao chất lượng khai thác sử dụng trang bị, kỹ thuật.

Thiếu tá Ngô Văn Hùng, Trạm trưởng Trạm 3511 cho biết: “Rút kinh nghiệm huấn luyện, chúng tôi giải đáp những câu hỏi, thắc mắc của cán bộ, nhân viên. Những nội dung khó, chúng tôi nhờ các chuyên gia của phía đối tác hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện. Trong quá trình khai thác, sử dụng bảo quản, bảo dưỡng trang bị kỹ thuật, chúng tôi tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyệt đối không được làm tắt, làm ẩu, không để máy móc hỏng hóc do chủ quan hay do thiếu trách nhiệm”.

Các tài liệu hướng dẫn khai thác, sử dụng của trang bị, khí tài mới phần lớn bằng tiếng Anh và chưa được dịch ra tiếng Việt dẫn tới việc huấn luyện làm chủ của Trung đoàn gặp rất nhiều khó khăn. Cùng với việc tổ chức các lớp tiếng Anh, lớp tin học cơ bản tại các trạm, chỉ huy các cấp đã động viên, khuyến khích cán bộ, nhân viên tự học, tự nghiên cứu tin học, ngoại ngữ. Đến nay, cán bộ, nhân viên Trung đoàn đã dịch toàn bộ hướng dẫn sử dụng từ tiếng Anh sang tiếng Việt và xây dựng quy trình khai thác sử dụng của từng vị trí trong hệ thống trang bị, khí tài mới.

Thiếu tá Hoàng Bá Sỹ cho biết thêm: “Các trang bị vừa phải thực hiện nhiệm vụ chiến đấu vừa tổ chức huấn luyện làm chủ nên gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục điều này cán bộ, nhân viên đã nghiên cứu xây dựng các mô hình, mô phỏng huấn luyện như: “Phần mềm mô phỏng ra đa”; “Mô phỏng hoạt động máy phát điện”; “Phần mềm mô phỏng máy thông tin”… để huấn luyện cho bộ đội”.

Nhờ làm tốt công tác huấn luyện, cán bộ, nhân viên Trung đoàn đã nhanh chóng khai thác, sử dụng an toàn, hiệu quả, phát huy đầy đủ tính năng kỹ-chiến thuật, làm chủ các trang thiết bị kỹ thuật mới, hiện đại được biên chế. Nhiều năm qua, Trung đoàn ra đa 351 luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ quan sát, phát hiện các mục tiêu trong khu vực biển được phân côngkhông bị bất ngờ trong mọi tình huống.

Lan tỏa tình yêu biển, đảo

 Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” là đã trực tiếp góp phần tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ đoàn viên, thanh niên, các em học sinh ở nhiều địa phương về biển, đảo của Tổ quốc; nâng cao trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Một ngày đầu tháng 10, có mặt tại Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” do Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp với Ban Thanh niên Quân đội và UBND Thành phố Chí Linh (Hải Dương) tổ chức, chúng tôi cảm nhận rõ không khí sôi nổi cũng như giá trị giáo dục, tuyên truyền của Cuộc thi.

Tham gia cuộc thi gồm có 68 em học sinh của các trường THCS Văn Đức, THCS Hưng Đạo, THCS Chu Văn An và THCS Sao Đỏ (Thành phố Chí Linh). Cuộc thi diễn ra theo hình thức trắc nghiệm. Đa số các em đều trả lời đúng các câu hỏi mà Ban tổ chức đưa ra. Ban Cố vấn Cuộc thi đã phải đặt câu hỏi phụ để chọn ra học sinh xuất sắc nhất.

Ban Tổ chức Cuộc thi tặng giải Nhất cho em Nguyễn Ngọc Đài Trang, học sinh Trường THCS Chu Văn An. (Ảnh: Đức Tĩnh). 

Theo đồng chí Thiếu tướng Bùi Quốc Oai, Chính ủy Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, những năm qua, Đảng, Nhà nước và Quân đội rất chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Thực hiện chủ trương này, lực lượng Cảnh sát biển đã tích cực, chủ động phối hợp với các lực lượng chức năng khác tuyên truyền, giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân. Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” là một hình thức tuyên truyền sinh động, hiệu quả, phù hợp với các em học sinh.

Với các nội dung câu hỏi về biển, đảo Việt Nam, Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018; tuyên truyền về phòng chống ma túy, tội phạm, bạo lực học đường..., Cuộc thi đã trực tiếp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao sự hiểu biết của thầy cô giáo, học sinh và nhân dân địa phương về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Qua đó, xây dựng lòng yêu nước, yêu biển đảo quê hương, nâng cao trách nhiệm của công dân với sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; góp phần tăng cường sự đoàn kết, hiểu biết, gắn bó giữa cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển với học sinh, thầy cô giáo và nhân dân địa phương.

Xuất sắc giành giải Nhất tại Cuộc thi và được Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam tặng Giấy khen, em Nguyễn Ngọc Đài Trang, học sinh Trường THCS Chu Văn An xúc động chia sẻ: "Hôm nay, em cảm thấy vui và tự hào vì những nỗ lực tìm hiểu kiến thức về biển đảo Tổ quốc, lịch sử địa phương đã gặt hái thành quả. Qua cuộc thi, em và các bạn đã có thêm nhiều kiến thức bổ ích về biển đảo, vị trí các quần đảo cả nước ta”.

Theo đồng chí Lương Quang Phương, Trưởng phòng Giáo dục & Đào tạo TP Chí Linh, các em học sinh THCS đang ở độ tuổi hiếu động, ham học hỏi, đã có kiến thức và hiểu biết nhất định về lịch sử, địa lý, sinh học,… Hoạt động giáo dục ngoại khóa về biển, đảo như Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” đã giúp các em có thêm kiến thức về biển, đảo quê hương; hiểu biết về các lực lượng chức năng thực thi pháp luật trên biển. Qua đó xây dựng lòng yêu nước, trách nhiệm với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc cho thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước.    

Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” tại thành phố Hải Phòng. 

Được tổ chức lần đầu vào tháng 3/2013, đến nay, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan, địa phương tổ chức trên 60 Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” cho hàng nghìn lượt học sinh THCS tại hơn 20 tỉnh, thành như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Bình Định, Quảng Nam… Với cách làm sáng tạo, sát thực tiễn, Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” đã trở thành hoạt động thường xuyên; đồng thời là một hình thức tuyên truyền sinh động, hiệu quả của tuổi trẻ lực lượng Cảnh sát biển.

Một trong những thành công lớn nhất của Cuộc thi đó là đã trực tiếp tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ đoàn viên, thanh niên, các em học sinh ở nhiều địa phương về biển, đảo của Tổ quốc. Ngoài việc trang bị kiến thức cần có, Cuộc thi đã góp phần quan trọng giáo dục, hun đúc ở các em tình yêu biển, đảo và bồi dưỡng nhận thức về trách nhiệm, vai trò của từng công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường.

Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp sẽ đẩy mạnh phối hợp cùng các cơ quan, địa phương tổ chức Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước. Thường xuyên cập nhật nội dung, đẩy mạnh đổi mới hình thức tổ chức Cuộc thi bảo đảm phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh, độ tuổi cụ thể. Qua đó nâng cao nhận thức, tăng cường đoàn kết quân, dân, tình cảm tương thân tương ái, xây dựng lòng yêu nước, yêu biển, đảo quê hương, nâng cao trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhiều hoạt động kỷ niệm 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô

 Kỷ niệm 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2022), nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật hấp dẫn được tổ chức nhằm phục vụ đông đảo công chúng Thủ đô và du khách.

Từ ngày 6-15/10, Thư viện Hà Nội tổ chức trưng bày Chuyên đề “Kỷ niệm 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2022)” tại địa chỉ 47 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trưng bày gồm hơn 300 tài liệu, sách, báo được tuyển chọn theo 4 nội dung.

Trong đó, hai phần “Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo thắng lợi công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”, “Hà Nội - Mùa thu lịch sử” gồm các sách, báo, tài liệu khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của cả dân tộc.

Phần 3 - “Bác Hồ với nhân dân Thủ đô” gồm những tác phẩm thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Thủ đô. Phần 4 trưng bày có nội dung “Hà Nội - 30 năm phong trào thi đua "Người tốt, việc tốt” nhằm hưởng ứng tổng kết 30 năm phát động phong trào thi đua “Người tốt, việc tốt” thành phố Hà Nội (1992-2022).

Trưng bày chuyên đề Kỷ niệm 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô là hoạt động văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân Thủ đô, đồng thời cũng là dịp tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô về truyền thống cách mạng, truyền thống văn hiến của Thăng Long - Hà Nội, khơi dậy tình yêu Hà Nội với hào khí, trí tuệ Thăng Long, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, góp phần xây dựng Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại.

Trưng bày chuyên đề “Kỷ niệm 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2022)”

Từ 7 - 9/10,  Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội phối hợp với Cục Xuất bản, In và Phát hành tổ chức Hội Sách Hà Nội lần thứ VII năm 2022 tại khu vực sân vườn hoa Lý Thái Tổ, khu vực sân Nhà Bát Giác, vỉa hè phố Đinh Tiên Hoàng (từ tháp Hòa Phong đến đối diện vườn hoa Lý Thái Tổ) thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Với chủ đề “Truyền thống và Hội nhập”, Hội Sách Hà Nội lần thứ VII năm 2022 có sự tham dự của 35 nhà xuất bản, doanh nghiệp phát hành sách trong cả nước mang lại không gian văn hóa đọc và nhiều chương trình giao lưu, trải nghiệm sách hấp dẫn.

Hội Sách lần này có nhiều hoạt động ý nghĩa xoay quanh chủ đề về sách, trong đó nổi bật là hoạt động trưng bày, triển lãm sách với chủ đề “70 năm ngành Xuất bản, In và Phát hành sách Việt Nam” nhằm ôn lại truyền thống đầy tự hào của ngành xuất bản, in và phát hành sách Việt Nam.

Hội Sách cũng tổ chức trưng bày, triển lãm sách với chủ đề “Thăng Long nghìn năm văn hiến”, phục vụ bạn đọc miễn phí  hơn 200 đầu sách là các công trình nghiên cứu về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao thuộc Tủ sách “Thăng Long ngàn năm văn hiến” của Nhà xuất bản Hà Nội.

Vào ngày 8/10, Trung tâm Hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám thực hiện trưng bày chuyên đề “Bia đá kể chuyện” với chủ đề “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Trưng bày được thể hiện qua các nội dung: Chiêu mộ hiền tài; Con đường khoa cử; Gương sáng tiền nhân; Lưu danh muôn thuở.

“Hiền tài là nguyên khí Quốc gia” là chương đầu tiên trong câu chuyện dài mà 82 bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long sẽ mang đến trong thời gian tới. Trưng bày lựa chọn giới thiệu 14 bia Tiến sĩ đầu tiên có liên quan đến các khoa thi trong giai đoạn 1442 - 1529, tương ứng với những khoa thi được tổ chức dưới triều Lê Sơ và kết thúc bằng khoa thi đầu tiên của nhà Mạc. Những bia Tiến sĩ còn lại sẽ tiếp tục được giới thiệu đến khách tham quan trong những cuộc trưng bày triển lãm sau này.

Dịp này, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức Cuộc thi Ảnh nghệ thuật “Hà Nội - Khát vọng phát triển” năm 2022 chào mừng 68 năm Ngày Giải phóng Thủ đô và kỷ niệm 50 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (18/12/1972 - 18/12/2022).

Nội dung tác phẩm dự thi thể hiện đậm nét chủ đề và nêu bật được giá trị tiêu biểu của văn hóa Hà Nội, có thông điệp rõ ràng, góc nhìn mới lạ, độc đáo về Thủ đô Hà Nội - Thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” trong truyền thống, hội nhập và phát triển với bề dày lịch sử; thiên nhiên tươi đẹp; con người anh hùng trong chiến đấu, cần cù trí tuệ trong lao động sản xuất, hào hoa thanh lịch trong giao tiếp ứng xử.

Tác phẩm dự thi được thể hiện dưới hình thức những tác phẩm ảnh đơn và ảnh bộ. Thời gian nhận tác phẩm từ nay đến ngày 15/11/2022; công bố trao giải và triển lãm các tác phẩm đạt giải vào tháng 12/2022.

Cùng với các hoạt động văn hóa, nhiều chương trình nghệ thuật cũng được tổ chức dịp này nhằm khơi dậy niềm tự hào, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân. Theo đó, vào 20 giờ ngày 8/10, tại Vườn hoa Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc Quyết sinh, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm sẽ diễn ra chương trình Âm nhạc mùa thu Hà Nội. Chương trình do Sở Văn hoá và Thể thao phối hợp với Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam tổ chức.

Vào 19h30, ngày 9/10 sẽ diễn ra chương trình nghệ thuật “Khúc hát Hà Nội” tại sân khấu ngoài trời, số 7, Phùng Hưng, Hà Đông; tiếp đến, vào 19h30 sẽ diễn ra chương trình giao lưu, trình diễn nghệ thuật truyền thống (Ca trù, Hát văn, Hát Chầu văn, Múa rối nước) tại sân khấu Thủy Đình, số 7, Phùng Hưng, Hà Đông

Phát huy vai trò của người có uy tín trong đấu tranh, ngăn chặn truyền đạo trái pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An

 Nghệ An có diện tích tự nhiên hơn 16.487km2, trong đó diện tích khu vực miền núi là 13.745km2 (chiếm 83%); có 12 huyện, thị xã thuộc khu vực miền núi có người dân tộc thiểu số (DTTS), 252 xã, phường, thị trấn miền núi (trong đó 131 xã, 923 thôn, bản thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, có 588 thôn, bản đặc biệt khó khăn); có 27 xã của 6 huyện có biên giới tiếp giáp với 3 tỉnh (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Hủa Phăn) của nước bạn Lào, với 468,281km đường biên giới. Dân số vùng DTTS, miền núi có 1.197.628 người (chiếm 41% dân số toàn tỉnh), đồng bào các DTTS có 491.267 người (chiếm 14,76% dân số toàn tỉnh và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi), gồm 5 dân tộc có đông người cùng sinh sống (Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu). 8/12 huyện, thị xã miền núi có cơ sở tôn giáo, 4 huyện còn lại đều có tín đồ tôn giáo, số lượng khoảng 1.000 người, trong đó có 143 tín đồ là người DTTS (chủ yếu là dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn); đạo Tin lành có hơn 80 tín đồ, xuất hiện tại 6/12 huyện, thị xã miền núi (32 người Mông, 11 người Thái).

Lãnh đạo tỉnh Nghệ An trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 8 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, năm 2021.

Vai trò và đóng góp của người có uy tín ở Nghệ An

Trong đời sống xã hội của đồng bào DTTS, già làng, trưởng bản thường có quan hệ đến các tổ chức dòng họ. Họ có uy tín và chi phối ảnh hưởng rất lớn đối với người dân trong làng, bản. Họ được suy tôn có uy tín đối với quần chúng và đứng ra duy trì các hoạt động truyền thống của đồng bào DTTS. Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, ở khu vực biên giới nơi người dân ít có quan hệ giao lưu văn hóa với xã hội bên ngoài thì già làng, trưởng bản lại càng được quần chúng kính nể nghe theo và vai trò của họ càng lớn. Họ vừa là người lãnh đạo của quần chúng nhân dân trong làng, bản, vừa là quần chúng “đặc biệt” có uy tín và sự kính trọng của mọi người, lại vừa là cầu nối hết sức quan trọng giữa quần chúng nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc đấu tranh, ngăn chặn truyền đạo trái pháp luật tại vùng đồng bào DTTS.

Hiện nay, Nghệ An có 1.228 người có uy tín đã được cộng đồng dân cư bầu chọn, họ là những bí thư chi bộ, trưởng thôn, nhân sỹ, trí thức, cán bộ lãnh đạo đã nghỉ hưu, già làng, trưởng dòng họ, doanh nhân... Người có uy tín Nghệ An gồm 10 thành phần dân tộc: Thái, Khơ Mú, Mông, Thổ, Ơ Đu, tộc người Đan Lai, Tày Poọng, Nùng, Kinh, Hoa. Đội ngũ người có uy tín trong đồng bào DTTS của Nghệ An qua các năm đều có sự thay đổi nhất định, tỷ lệ thành phần dân tộc trong người có uy tín tính chung các năm là: Thái chiếm đa số với 59,1%; Thổ 14,1%; Kinh 10,2%; Mông 7,6%; Khơ Mú 8,3%; Ơ Đu 0,1%; dân tộc khác 0,6%.

Người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Nghệ An có vị trí, vai trò, phạm vi ảnh hưởng rất lớn. Bản thân người có uy tín và gia đình gương mẫu, tiên phong trong mọi phong trào; đồng thời vận động nhân dân tại địa phương chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định của địa phương. Họ là chỗ dựa quan trọng của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc tuyên truyền, vận động tổ chức đồng bào DTTS thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia các phong trào như xây dựng nông thôn mới (NTM), hiện nay trên địa bàn vùng dân tộc miền núi có 89/299 xã đạt 19 tiêu chí NTM, chiếm 29,8% (cả tỉnh hiện có 299/411 xã đạt 19 tiêu chí, chiếm 72,74%); có 185 thôn, bản đạt chuẩn NTM không thuộc xã chuẩn NTM.

Những đóng góp của người có uy tín trong phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của đồng bào các dân tộc rất đáng ghi nhận. Đến thời điểm hiện nay, trong vùng đồng bào các DTTS đã có trên 500 mô hình thu nhập ổn định 50-100 triệu đồng/năm, chưa kể đến các mô hình trồng rừng 50 năm và các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có quy mô lớn. Người có uy tín không những đóng góp ý kiến trong việc hoạch định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh mà còn góp ý về đạo đức, lối sống, phẩm chất sinh hoạt đối với cán bộ, đảng viên. Đó là những việc làm thể hiện là cầu nối giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân.

Những  người có uy tín đã phát huy vai trò trong công tác tuyên truyền giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn dân cư, giúp nhân dân nhận thức và hiểu được âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, vận động nhân dân tham gia phát hiện các loại tội phạm. Người có uy tín bằng hành động, việc làm cụ thể đã phát huy tốt vai trò của mình trong việc vận động đồng bào xây dựng nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, đặc biệt trong thực hiện việc cưới, việc tang và lễ hội truyền thống của các dân tộc như lễ hội Hang Bua (Quỳ Châu), Đền Chín Gian (Quế Phong), lễ hội Mường Ham (Quỳ Hợp), Đền Vạn (Tương Dương)... Các lễ hội này mặc dù do chính quyền tổ chức nhưng vai trò của người uy tín, già làng, trưởng bản cũng đóng góp không nhỏ trong vấn đề giữ gìn, bảo tồn văn hóa truyền thống.

Kinh nghiệm phát huy vai trò của người uy tín trong đấu tranh, ngăn chặn truyền đạo trái pháp luật tại Nghệ An

Để phát huy tốt đội ngũ này các cấp ủy đảng trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã sáng tạo, linh hoạt để ngăn chặn có hiệu quả việc phát triển đạo, truyền đạo trái pháp luật lên vùng đồng bào DTTS bằng những kinh nghiệm như sau:

Một làquan tâm chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 06/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phát huy vai trò người uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và Quyết định số 2561/QĐ-TTg về “Tăng cường vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.   

Hai là, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho người có uy tín, già làng, trưởng bản hiểu và nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những chủ trương lớn của địa phương về chính sách dân tộc, tôn giáo. Đây là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng, là cơ sở để tiến hành những nội dung khác.  

Ba là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng cho người có uy tín, già làng, trưởng bản. Giúp cho họ thấy được âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng vào vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam. Nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng đang tiến hành hoạt động truyền đạo Tin lành trái pháp luật để phá hoại phong tục, tập quán của các dân tộc, gây mâu thuẫn giữa các gia đình, dòng họ, làng, bản làm mất an ninh trật tự ở khu vực biên giới, nhằm phá hoại sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước tiến tới đòi xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. 

Bốn là, bồi dưỡng cho người có uy tín, già làng, trưởng bản nội dung, phương pháp củng cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, tổ chức chính trị - xã hội trong làng, bản biên giới vững mạnh toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái pháp luật. Có nâng cao được chất lượng hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội thì mới đủ khả năng lãnh đạo, tổ chức quần chúng. Các tổ chức chính trị - xã hội phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động để có đủ khả năng tập hợp và duy trì quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động của mình, không để kẻ địch dụ dỗ tham gia vào các tổ chức của đạo Tin lành, có như vậy mới ngăn chặn và đẩy lùi được các hoạt động truyền đạo trái pháp luật tại vùng đồng bào DTTS.

Năm là, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ người có uy tín, già làng, trưởng bản kỹ năng tuyên truyền, vận động nhân dân định canh, định cư, phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng nhân dân.

Sáu là, vận động nhân dân giữ vững, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng tạo nên một nền văn hóa đa dạng phong phú của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Từ khi đạo Tin lành trái phép xâm nhập vào làm thay đổi căn bản nền văn hóa của các DTTS ở khu vực biên giới như phá bỏ bàn thờ, chỉ thờ Thiên chúa. Người có uy tín, già làng, trưởng bản là những người hỗ trợ tích cực cho cấp ủy, chính quyền cơ sở tuyên truyền, vận động nhân dân thấy được việc thờ phụng tổ tiên là một truyền thống lâu đời của dân tộc ta, từ đó mới giữ vững, phát huy được bản chất truyền thống lâu đời của dân tộc. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ tín ngưỡng, tôn giáo trái với thuần phong, mỹ tục; bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc.

Bảy là, cần căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý, thái độ của người có uy tín, già làng, trưởng bản khi tiến hành các nội dung của công tác vận động tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái pháp luật ở khu vực biên giới. Từ đó có phương pháp vận dụng cho phù hợp, kết hợp khéo léo giữa tình cảm và công việc, kết hợp giữa vận động và mời họ cùng tham gia phòng, chống truyền đạo trái pháp luật tại vùng đồng bào DTTS đạt hiệu quả cao nhất.