Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2022

1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” tại Học viện Quốc phòng Trên cơ sở nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và được tiến hành song song, không tách rời công tác giáo dục, đào tạo, những năm qua, Học viện Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả nhiệm vụ này, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Học viện. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và hướng dẫn của cơ quan chức năng, thời gian qua, Học viện Quốc phòng đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cùng với những cách thức tiến hành đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” sát đúng, phù hợp; trong đó có nhiều giải pháp mang tính đột phá, sáng tạo, làm cho hoạt động đấu tranh ngày càng đi vào chiều sâu, vững chắc. Nhờ đó, 100% cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ ngày càng nhận thức sâu sắc hơn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; có khả năng “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ các luận điệu xuyên tạc, phản động; nhạy bén, sắc sảo trong nhận diện và vận dụng các hình thức đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; chấp hành nghiêm quy định về sử dụng công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin, không để lộ, lọt bí mật ảnh hưởng đến chính trị nội bộ. Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng nòng cốt cùng đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực tham gia viết bài tuyên truyền về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Đồng thời, đấu tranh, vạch trần thủ đoạn và những luận điệu xuyên tạc, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đạt được kết quả đó là do Nhà trường đã thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cơ quan chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Bởi, đó là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm; phải vận dụng, viện dẫn nhiều vấn đề cả lý luận và thực tiễn, nhằm đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch và nếu không nêu cao trách nhiệm, quyết tâm, nhiệt huyết thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về “Tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội”. Qua đó, làm cho cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị luôn có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tính chất quan trọng, những vấn đề cơ bản của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; cụ thể hóa thành chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của đơn vị mình, không chung chung, hình thức; lấy hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và trình độ, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực tiễn của cán bộ chủ trì các cấp. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện luôn chủ động nghiên cứu tình hình, tổng hợp đánh giá kết quả đấu tranh và diễn biến âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch; trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất những chủ trương, biện pháp, nội dung, cách thức tiến hành đấu tranh phù hợp, theo đúng định hướng của trên, bảo đảm kịp thời, đạt hiệu quả cao. Thứ hai, chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch có đạt được mục đích hay không phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh chính trị, sự hiểu biết và “sức đề kháng” của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trước “ma trận” thông tin thật giả, đúng sai lẫn lộn. Bởi vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện xác định: quá trình giáo dục, đào tạo không chỉ rèn luyện nhân cách, trang bị tri thức, kỹ năng, tay nghề mà còn phải bồi dưỡng, nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Để làm được điều này, Học viện đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí quyết tâm cho mọi quân nhân; trong đó, tập trung giáo dục những vấn đề căn cốt nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, làm cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để nâng cao “sức đề kháng” cho bộ đội trước những thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch. Gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Cùng với đó, Học viện thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, mời những chuyên gia có kinh nghiệm để bồi dưỡng, hướng dẫn về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho lực lượng tham gia đấu tranh. Các đơn vị trực thuộc Nhà trường tiến hành bồi dưỡng thường xuyên, ít nhất mỗi quý một lần, do bí thư cấp ủy, chính trị viên trực tiếp tiến hành. Đây là một trong những biện pháp hiệu quả mà Nhà trường đã, đang và tiếp tục đẩy mạnh, nhằm không ngừng nâng cao năng lực nhận diện luận điệu sai trái, thù địch, khả năng viết bài cho các lực lượng tham gia đấu tranh. Thứ ba, đề cao tính “chủ động” trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thực tiễn hiện nay cho thấy, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch ngày càng tinh vi, đa dạng, phức tạp với cường độ cao, đòi hỏi công tác đấu tranh phải có tính “chủ động” ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện thường xuyên chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động nghiên cứu, dự báo sát âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, xác định chủ trương, biện pháp, cách thức tiến hành đấu tranh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, linh hoạt, kịp thời phản bác, vạch trần bản chất, luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch. Trong tổ chức thực hiện luôn chú trọng cung cấp thông tin mới, chính thống thông qua sinh hoạt chính trị tư tưởng, thông báo thời sự, học tập, công tác, để lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cập nhật kịp thời, không để “khoảng trống” và “độ trễ” thông tin, làm mất thời cơ đấu tranh. Cùng với đó, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt bí mật quân sự; quán triệt chấp hành nghiêm quy định bảo mật thông tin và kỷ luật phát ngôn. Phát huy trí tuệ của những nhà khoa học để luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh, định hướng tư tưởng kịp thời, đúng đắn cho mọi đối tượng, nhất là lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện chỉ đạo các đơn vị tích cực triển khai thiết lập các website, blog, các trang, nhóm trên nền tảng Facebook, Zalo; nghiên cứu, tham mưu đề xuất phát triển các ứng dụng trên nền tảng chuyển đổi số của Học viện để tiếp tục mở rộng phạm vi đấu tranh trên không gian mạng; đồng thời, biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm nội dung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho các lực lượng. Lực lượng nòng cốt của Học viện luôn chủ động nghiên cứu các bài viết chính luận, trang bị kiến thức vững vàng, tham gia bình luận, thể hiện quan điểm đúng đắn và chia sẻ rộng rãi trên không gian mạng, tạo thành diễn đàn, thu hút nhiều người cùng tham gia chống các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời báo xấu khi phát hiện các nội dung tiêu cực, phản động; thông tin để cán bộ, đảng viên, quần chúng nêu cao cảnh giác, không chia sẻ, bình luận, tạo thành vấn đề nóng trong dư luận xã hội. Thứ tư, phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Quán triệt quan điểm của Đảng, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, cán bộ, đảng viên, bộ phận chuyên trách là lực lượng nòng cốt. Học viện đã có nhiều biện pháp nhằm phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, như: thường xuyên kiện toàn và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách; tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và thời gian để huy động các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh. Kết hợp các hình thức tuyên truyền, giáo dục nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, tạo hiệu ứng tích cực để cán bộ, đảng viên chủ động đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Khuyến khích cán bộ, giảng viên có trình độ, kinh nghiệm nghiên cứu viết bài đăng trên website, Tạp chí Khoa học quân sự…; xét vận dụng để công nhận những bài viết đấu tranh trên không gian mạng có chất lượng, đăng kỷ yếu hội thảo và công nhận là một trong những tiêu chí được tính cường độ khoa học hằng năm. Đảng ủy Học viện chỉ đạo Hội đồng Thi đua khen thưởng, tổ thi đua các cấp tính điểm thưởng cho các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và cá nhân có bài viết đấu tranh được đăng tải trên các phương tiện thông tin, các trang mạng, diễn đàn; lấy đó là một trong những tiêu chí để bình xét thi đua khen thưởng, đánh giá phân loại cán bộ, đảng viên, xét giảng viên giỏi, v.v. Nhờ đó, hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Nhà trường luôn được cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ hưởng ứng, tham gia nhiệt tình, đông đảo. Những kết quả trên là cơ sở quan trọng để, Học viện Quốc phòng tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn quân về đấu tranh phòng chống các qaun điểm sai trái trêm không gian mạng. 2. Chủ động phòng, chống “diễn biến hòa bình” về văn hóa trên không gian mạng Việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân. Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ và phát triển như vũ bão hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thì mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Vì vậy, việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân. “Diễn biến hòa bình” là một dạng thức hoạt động cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản cầm quyền, làm sụp đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa mà không cần phát động chiến tranh vũ trang”. Việt Nam là nước có vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn 35 năm qua, Việt Nam đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của mình trên trường quốc tế. Song song với công cuộc phát triển và xây dựng đất nước, chúng ta cũng không ngừng đẩy mạnh việc phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã và đang điên cuồng tấn công ta trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Chúng coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ bên trong. Âm mưu sâu xa của chúng là thông qua xâm nhập phá hoại tư tưởng văn hóa để dẫn dắt, làm nảy sinh biến động về chính trị của xã hội ta, từ đó làm rối loạn về tư tưởng chính trị và niềm tin cách mạng của nhân dân ta. Nấp dưới vỏ “văn hóa”, các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống xã hội ta, đồng thời tuyên truyền quảng bá văn hóa, lối sống phương Tây. Chúng kích động khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, không chịu sự quản lý của nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; lôi kéo văn nghệ sĩ sáng tác theo các trường phái khác lạ theo kiểu phương Tây, coi rẻ truyền thống văn hóa dân tộc, làm phai mờ các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng, gieo rắc lối sống phản động, lạc hậu, suy đồi, biến Việt Nam thành “thuộc địa văn hóa” của ngoại bang. Chúng cổ xúy cho lối sống vị kỷ, bản năng, thực dụng làm con người Việt Nam mất gốc, làm thay đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu. Chúng trắng trợn xuyên tạc lịch sử, chống phá nền tảng tư tưởng văn hóa - xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; bài xích, bác bỏ văn hóa, đạo đức, lối sống truyền thống dân tộc, văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ cao, các thế lực thù địch đang sử dụng triệt để các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, đặc biệt là mạng xã hội để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Vì, mạng xã hội đang là một trong những phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh, tiếp cận nhiều đối tượng công chúng. Thực tế ở nước ta những năm qua xuất hiện nhiều các website, blog, fanpage, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, MySpace… phát tán dày đặc với tần suất lớn những thông tin, quan điểm trái chiều, xuyên tạc, chống phá Đảng và nhà nước ta. Dựa vào một số sự kiện đã hoặc sắp diễn ra, các thế lực thù địch đã nhào nặn hàng loạt tin, bài “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những số liệu không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh để cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin câu khách; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện chiến lược “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc dẫn đến “tự diễn biến” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chúng lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ, việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, qua đó kích động xã hội phản đối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội... Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhấn mạnh: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt” Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng không gian mạng nói chung, mạng xã hội nói riêng để chống phá ta trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, do đó cần tập trung vào một số vấn đề sau: Một là, giáo dục nâng cao nhận thức, sự đồng thuận, nhất trí cao của các tổ chức, lực lượng phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa nhận thức rõ vai trò của văn hóa trên mặt trận tư tưởng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Hai là, xác định đúng nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên mạng xã hội. Về nội dung, tập trung vào việc nâng cao nhận thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc, quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa xã hội chủ nghĩa. Tạo sự thống nhất, đồng thuận về sự cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Về hình thức, biện pháp, đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên không gian mạng. Ba là, xây dựng và phát huy vai trò của các cơ quan, lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa. Bốn là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên không gian mạng. Tăng cường công tác kiểm soát, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; lựa chọn chủ đề tăng tính tương tác, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt thông tin định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng xã hội. Năm là, các cơ quan tuyên truyền, các loại hình báo chí, nhất là các báo mạng điện tử, các trang mạng xã hội cần phát huy tốt vai trò đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu tuyên truyền, lừa mị về văn hóa của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. 3. Cảnh giác trước những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam Những ngày qua, trên mạng xã hội, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của một số người dân, các hội, nhóm như “Vệ quốc quân” có liên hệ mật thiết với các địa chỉ “Tổ quốc - dân tộc”, “Quyền dân chủ cho nhân dân”, “Thông tin đa chiều”, “Người cầm đuốc”; “Tiên Rồng”, “Việt Tân tương trợ”… ra sức truyền bá những tư tưởng tâm linh, ma mị, tà đạo, thậm chí là những quan điểm phản động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Theo dõi trang mạng “Năng lượng gốc Trống Đồng”, chúng tôi thấy, họ tích cực quảng bá việc truyền năng lượng gốc như một giải pháp chữa bệnh thần kỳ, có thể tự chữa lành mọi bệnh tật, kể cả ung thư hay Covid-19, có cả những video hướng dẫn cách đặt tay chữa lành tất cả các bệnh liên quan đến hệ thần kinh và não bộ. Không chỉ sử dụng chiêu bài chữa bách bệnh bằng những phương pháp kỳ dị, phản khoa học; những người này còn chia sẻ những thông tin mang yếu tố tâm linh, ma mị, tà đạo. Đáng chú ý là hội nhóm này chỉ “rỉ tai” thôi mà có tốc độ lan truyền rất nhanh, rất mạnh lôi kéo nhiều người tham gia. Đây chính là chiêu thức mới của các hội nhóm kín, thông qua các hoạt động đi vào lòng người như chữa bệnh, hỗ trợ dân oan, hoạt động ái hữu… Hầu hết các hội nhóm kín này đều lợi dụng “tự do, dân chủ, nhân quyền” lôi kéo các thành viên tham gia các hội nhóm tiến hành các hoạt động như tuyên truyền chống phá, tụ tập biểu tình, tham gia các khóa huấn luyện, đào tạo... để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt có những hội nhóm như “Người cầm đuốc” quy ước với nhau các thành viên trong nhóm đều sử dụng “nick ảo”, hoạt động theo số bí danh; giữa các thành viên trong nhóm không biết tên thật của nhau, chỉ cần biết nhiệm vụ, số lượng người tham gia nhiệm vụ, mục đích nhằm “giữ an toàn” cho các thành viên. Với nhiều thủ đoạn lôi kéo như tạo thành các facebook “trắng” để xâm nhập vào các nhóm có liên quan đến nhiều lĩnh vực của xã hội như hội đồng hương, kinh doanh, lái xe, hội khóa, lớp, thâm nhập vào các điểm nóng khiếu kiện để lôi kéo thành lập nhóm dân oan… Có một số hội nhóm liên hệ, chia sẻ những bài tuyên truyền phản động, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, thường thì chúng lợi dụng vào các dịp lễ tết, bám sát những sự kiện chính trị trong nước, theo sát những vụ việc chống tham nhũng để kích động, làm cho thông tin mang tính thời sự. Một số hội nhóm có mối liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động, khủng bố như: “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Việt Tân… để tham gia vào các hoạt động biểu tình, chống đối giải phóng mặt bằng, rải truyền đơn, kích động bạo loạn. Có thể nói với vỏ bọc “hội nhóm kín” các tổ chức phản động đang tìm mọi cách tiếp cận, với nhiều hình thức lôi kéo tinh vi trong đó có chiêu thức “dân sự hóa” các “hành vi chính trị” để âm thầm phát triển tổ chức, phổ cập truyền thông, len lỏi vào hội nhóm xã hội trên không gian mạng. Tuy vậy “những viên đạn bọc đường” dù có tinh vi thế nào cũng bị nhân dân ta phát giác. Qua theo dõi các buổi mạn đàm, hội luận có khá nhiều ý kiến phản ứng lại, vạch trần mưu đồ ẩn sau của bọn chúng. Không gian mạng đang là một trong những không gian không thể thiếu của xã hội loài người, nó mang đến những tiện ích cho xã hội hiện đại, nhưng nó cũng tràn ngập những “rác rưởi” được tạo bởi những mưu mô thâm độc. Vì vậy mỗi chúng ta khi trải nghiệm trên không gian mạng cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để bổ sung cho mình những thông tin, lợi ích phục vụ tốt cho cuộc sống, tránh không bị lôi kéo vào các tổ chức phản động, hội nhóm kín hoạt động phản quốc và tốt hơn là hãy phát giác, cảnh báo người thân, bạn bè trong các hội nhóm cùng phản bác lại những kẻ lợi dụng không gian mạng để trục lợi cho những mưu đồ bất chính. 4. Những giải pháo nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động giữa CAND và QĐND trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần phải huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội, tổ chức phối hợp lực lượng thật chặt chẽ, hiệu quả, phát huy vai trò xung kích của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược tấn công toàn diện, thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bằng việc sử dụng tổng hợp các thủ đoạn, biện pháp, hình thức để chống phá chúng ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, chúng coi việc phá hoại về chính trị, tư tưởng, văn hóa là quan trọng hàng đầu, là khâu đột phá, mũi nhọn của cuộc tiến công. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Chúng tung ra các quan điểm sai trái, thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa; chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, tán dương chủ nghĩa tư bản, cổ xúy cho tự do tư sản, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa dân túy, lối sống thực dụng, vị kỷ. Thông qua các blogger, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã cấu kết với nhau để tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ nhân dân với Đảng, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tiến đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ, nhằm thực hiện mục tiêu “chiến thắng không cần chiến tranh”. Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực, có tổ chức do lực lượng phản động, hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc trung ương. Bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội và những “chính thể” không theo sự chỉ đạo của một số nước phương Tây. Mục tiêu trực tiếp của bạo loạn lật đổ là lật đổ chính quyền cách mạng, lập nên chính quyền phản cách mạng ở địa phương hoặc ở Trung ương. Bạo loạn lật đổ có rất nhiều hình thức, như: Bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang và kết hợp giữa bạo loạn chính trị với bạo loạn vũ trang. Phương thức và lực lượng tiến hành cũng rất đa dạng, chủ yếu là dùng vật chất để mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ, kích động quần chúng tiến hành mít tinh, biểu tình trái pháp luật theo sự chỉ đạo của chúng gây rối loạn tình hình an ninh chính trị... khi thời cơ đến, chúng sẽ dùng lực lượng phản ứng nhanh bên ngoài trực tiếp can thiệp để hỗ trợ cho các lực lượng bên trong đang tiến hành gây bạo loạn. Địa bàn có thể xảy ra bạo loạn là những tình hình an ninh chính trị phức tạp không ổn định nhất là tình hình dân tộc, tôn giáo; những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh; những địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn; những địa bàn mà hệ thống chính trị cơ sở hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả, bị động... Thời điểm xảy ra bạo loạn: trong thời bình, đầu thời kỳ chiến tranh hoặc trong chiến tranh. “Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó “diễn biến hòa bình” là cơ sở, điều kiện tất yếu của bạo loạn lật đổ. “Diễn biến hòa bình” được coi như là mặt trận xung kích đi trước để chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, lực lượng, tạo thời cơ cho bạo loạn lật đổ. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của “diễn biến hòa bình” và là cơ sở xã hội để thúc đẩy “diễn biến hòa bình” diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn, quyết liệt hơn. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kích động việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; truyền bá tư tưởng, lối sống đồi trụy; đưa lực lượng bên ngoài vào cấu kết với bọn phản động và các phần tử xấu trong nước, tăng cường các hoạt động chống phá hòng lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trước tình hình trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, trong đó chú trọng tới công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, tập trung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt là, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã xác định rõ công tác đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội, đây chính là cơ sở quan trọng để các ban, bộ, ngành ở Trung ương, cũng như các địa phương triển khai lực lượng, phương tiện, biện pháp làm rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch chống phá ta thông qua các luận điệu sai trái, thù địch; tổ chức đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, yêu cầu cấp thiết đặt ra đó là phải huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội, tổ chức phối hợp lực lượng thật chặt chẽ, hiệu quả, phát huy vai trò xung kích của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. Từ thực tiễn công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng những năm qua cho thấy, Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đã phối hợp chặt chẽ, đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể là: Thứ nhất, thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trọng tâm là thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã phối hợp chặt chẽ tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự, như: Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VIII) về Chiến lược An ninh quốc gia, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 05/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; các chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về lĩnh vực bảo vệ chính trị nội bộ, tư tưởng, văn hóa, bảo đảm an ninh, trật tự, đã từng bước hoàn thiện cơ sở chính trị - pháp lý, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thứ hai, Đảng ủy Công an Trung ương, Quân ủy Trung ương thường xuyên quan tâm chỉ đạo lực lượng Công an, Quân đội phối hợp tuyên truyền, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Hai lực lượng thường xuyên trao đổi thông tin về âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, phản động; phối hợp xây dựng hàng chục phóng sự, hàng trăm tin, bài đăng tải trên chuyên mục “Chống diễn biến hòa bình” của Báo Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, phát sóng trên kênh truyền hình Công an nhân dân, Quốc phòng Việt Nam, đăng tải hàng nghìn bài viết trên các trang web, blog… góp phần vạch trần âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động, cô lập số đối tượng chống đối. Lực lượng Công an và Quân đội thường xuyên phối hợp xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết với thế trận an ninh nhân dân trên cơ sở thế trận lòng dân một cách đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, coi đây là giải pháp nền tảng trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tăng cường mối liên hệ mật thiết, gắn bó giữa nhân dân với Đảng và lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó, đã tập trung phối hợp tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tích cực có chủ trương, giải pháp giúp nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, phát hiện, xử lý nghiêm minh các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện tranh chấp liên quan trực tiếp đến lợi ích chính đáng của người dân; phối hợp xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án, kế hoạch phòng, chống gây rối, biểu tình, bạo loạn, khủng bố, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc… Thứ ba, thông qua các buổi giao ban định kỳ, hai lực lượng thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm về những mô hình mới, cách làm hay, đem lại hiệu quả thiết thực trong chỉ đạo, tổ chức triển khai việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phối hợp chặt chẽ trong công tác chính trị, tư tưởng, bảo vệ chính trị nội bộ, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, hoạt động phá hoại nội bộ, chia rẽ giữa Công an với Quân đội; đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Có thể khẳng định, các thế lực thù địch, phản động sẽ không bao giờ từ bỏ âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt kết hợp với quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ làm xuất hiện những biểu hiện cụ thể mới nảy sinh của các quan điểm sai trái, thù địch. Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần tập trung làm tốt một số nội dung sau: Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình” và sự cần thiết phải phối hợp giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân trong đấu tranh làm thất bại chiến lược này. Thông qua đó, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong hai lực lượng thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng, luôn tỉnh táo, xử lý kịp thời các tình huống diễn ra trong hoạt động thực tiễn theo đúng định hướng, không để kẻ địch lợi dụng. Mặt khác, phải phát huy vai trò của công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật, bảo đảm cho công tác này luôn bám sát nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Công an và Quân đội, giữ đúng định hướng chính trị, tích cực đấu tranh với những quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Hai là, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Công an nhân dân và Quân đội nhân dân trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là vấn đề thuộc cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang; nhân tố quyết định hiệu quả phối hợp giữa hai lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Công an và Quân đội luôn vững vàng, kiên định, không dao động trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, công tác phối hợp giữa Công an và Quân đội mới có đường hướng đấu tranh đúng đắn, nhất là trong những thời điểm khó khăn, phức tạp, khắc phục những sai lầm đáng tiếc xảy ra. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Công an và Quân đội, vấn đề then chốt là phải xây dựng Đảng bộ Công an, Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các tổ chức đảng; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của hai lực lượng. Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, giải pháp phối hợp giữa Công an và Quân đội, phát huy thế mạnh của mỗi lực lượng trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động. Trên cơ sở Cơ chế phối hợp đã được xác định trong Nghị định số 03/2019/NĐ-CP của Chính phủ về “Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng”, cần cụ thể hóa nội dung, biện pháp phối hợp ở từng cấp cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Hai lực lượng cần tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong công tác trao đổi thông tin, phân tích, đánh giá tình hình, thống nhất đề xuất các chủ trương, biện pháp đối phó với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Căn cứ tình hình thực tiễn, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Công an và Quân đội cần quan tâm chỉ đạo xây dựng và thống nhất kế hoạch phối hợp; phát huy thế mạnh của từng lực lượng, nâng cao khả năng dự báo về những âm mưu, thủ đoạn mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” để tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp, cách thức phối hợp hiệu quả. Nghiên cứu đổi mới cơ chế điều hành phối hợp giữa hai lực lượng, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập để khắc phục; duy trì nghiêm chế độ giao ban định kỳ; hỗ trợ, phối hợp hành động, trao đổi nghiệp vụ công tác, xử lý tình huống theo chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng. Trong đó, cần xác định những điểm mấu chốt, đột phá và những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp để phát huy, nhân rộng, tạo chuyển biến rõ nét trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, cần chủ động xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch phối hợp hành động phòng, chống “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, bảo vệ an toàn nội bộ, không để kẻ địch lợi dụng, chống phá. Bốn là, phát huy hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đối với nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo đảm tính tư tưởng, tính lý luận, tính chiến đấu và tính định hướng của báo chí Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc xuất hiện trong nền báo chí cách mạng. Để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí Công an nhân dân và Quân đội nhân dân cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hòa bình”. 5. Quân đội tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng và lịch sử cách mạng “Diễn biến hòa bình” là chiến lược tiến công toàn diện, thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng xác định chống phá về chính trị, tư tưởng, văn hóa là mặt trận quan trọng hàng đầu, là khâu đột phá; tiến công vào lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng là một mũi nhọn. Triệt để sử dụng internet, mạng xã hội, kênh youtube và một số hãng truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam, như: RFI, VOA, BBC… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị phát động nhiều chiến dịch phát tán thông tin xấu độc xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng nhằm hạ thấp ý nghĩa, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã giành được; gây chia rẽ, làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với nhiều luận điệu: Kẻ thì đánh tráo khái niệm, “lập lờ đánh lận con đen” một cách tinh vi; kẻ thì hằn học, trắng trợn; lại có người nêu vấn đề một cách nhẹ nhàng, tưởng như mang tính xây dựng “nên xem xét lại” vấn đề, sự kiện, nhưng thực chất, đó là mưu đồ hết sức thâm hiểm. Đối tượng tuyên truyền luận điệu sai trái, thù địch là một số kẻ từng làm việc cho chính quyền tay sai, mang nặng tâm lý hận thù; một số khác là sinh ra, lớn lên sau năm 1975, bị kẻ thù dụ dỗ, mua chuộc hay thất thế, bất mãn. Đáng buồn, trong số này có một số cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ thoái hóa biến chất, bị lôi kéo, mua chuộc, tâng bốc thành những “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà cải cách”, “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”. Hằng năm, chúng bám sát các sự kiện lịch sử để tăng cường hoạt động chống phá. Trong dịp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng xuyên tạc sự thật và cho rằng: Cách mạng Tháng Tám chỉ là hành động nhanh tay cướp lấy chính quyền khi bộ máy chính quyền cũ đã bỏ trống. Đối với hai cuộc chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (1945 - 1975), có kẻ ngụy biện: Lẽ ra nhân dân ta tránh được hai cuộc chiến tranh tàn khốc chống Pháp, chống Mỹ nếu như các nhà lãnh đạo Việt Nam “khôn khéo, mềm mỏng hơn” trong quan hệ với Pháp và Mỹ. Chúng cố ý đồng nhất chiến tranh giành độc lập dân tộc với chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của thực dân, đế quốc để phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh cách mạng khi cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam; bình luận suy diễn, xuyên tạc về vấn đề “Ai là người soạn lời đầu hàng của Dương Văn Minh trưa 30/4/1975?” để kích động, gây chia rẽ các cán bộ, nhân chứng lịch sử. Đặc biệt, những kẻ mang nặng hận thù đã coi ngày 30/4/1975 là “nỗi tang thương to lớn”, là “ngày quốc hận”… Các thế lực thù địch thực hiện nhiều phương thức, thủ đoạn, luận điệu thâm độc tiến công vào mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Chúng suy diễn “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội đã thay đổi”, nên Quân đội đã “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển đảo của Trung Quốc”; qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội. Chúng xuyên tạc lịch sử để kích động, chia rẽ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Campuchia. Trước, trong và sau Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng, chúng phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử đời tư các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Bộ Quốc phòng, suy diễn việc xử lý kỷ luật một số cán bộ Quân đội vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội là hoạt động “thanh trừng nội bộ... để tiến công vào truyền thống đoàn kết của Quân đội và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những năm qua, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Quán triệt quan điểm của Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, các đơn vị thành viên Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 các cơ quan, đơn vị đã chủ động tham mưu, chỉ đạo, kiện toàn tổ chức, lực lượng, tổ chức đấu tranh với nội dung, hình thức, biện pháp, cách làm sáng tạo. Nhiều chuyên trang, chuyên mục, trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội hoạt động hiệu quả cao, bảo vệ uy tín của lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự thật lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, định hướng dư luận xã hội. Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương chỉ đạo đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, đấu tranh triệt phá tin giả, thông tin xấu độc; cụ thể hóa Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới Quốc gia, Đề án Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Chỉ đạo đánh giá kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị; sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị và triển khai các dự án công nghệ thông tin nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong Quân đội. Duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của 325 Ban Chỉ đạo các cấp, 9 đồng chí cán bộ Nhóm Chuyên gia, Cộng tác viên Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương. Là cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, cơ quan đầu ngành lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, trung tâm nghiên cứu lịch sử quân sự của Nhà nước, trung tâm đào tạo sau đại học về lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ: biên soạn các công trình lịch sử quân sự, lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tư tưởng - tổ chức quân sự, lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự, tổng kết các cuộc chiến tranh; giúp Bộ Quốc phòng chỉ đạo, quản lý công tác tổng kết và biên soạn lịch sử quân sự của toàn quân, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lịch sử quân sự và làm công tác thông tin về lịch sử quân sự. Những năm qua, Đảng ủy Viện đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, sự chỉ đạo, định hướng của Tổng cục Chính trị và nội dung Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, Đảng ủy Viện ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 của Viện để chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch và ban hành Quy chế, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện. Ngay sau khi thành lập, Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 của Viện nhanh chóng đi vào hoạt động, kịp thời theo dõi, nghiên cứu, tổng hợp, phân tích hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị, nhất là những âm mưu, thủ đoạn, nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng trên internet, mạng xã hội; kịp thời tham mưu, đề xuất Đảng ủy Viện các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh. Căn cứ chỉ đạo của cấp trên, Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Viện đã hướng dẫn, chỉ đạo Lực lượng 47 xác định nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh, bảo đảm phù hợp với lực lượng, phương tiện hiện có; động viên mọi cán bộ, nhân viên tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Viện, Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 xây dựng kế hoạch, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, nội dung cần tập trung đấu tranh trong từng giai đoạn, thời điểm; chú trọng các vấn đề tác động, ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, dư luận, tâm trạng bộ đội và nhân dân, nhất là về các vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, Quân đội để tuyên truyền, đấu tranh. Phối hợp chặt chẽ với các trang, nhóm, blog của các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; sử dụng nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh công khai, ẩn danh để giữ vững định hướng chính trị, tăng cường hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng. Bám sát chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, các trang, nhóm, blog, Cổng Thông tin điện tử của Viện nhanh chóng đi vào hoạt động nền nếp, hiệu quả, liên tục có mức độ tăng trưởng cao về thành viên tham gia, theo dõi và số lượng bài viết đăng tải, lượt chia sẻ, bình luận tích cực. Kết quả hoạt động các trang, nhóm, blog, Công Thông tin điện tử của Viện góp phần tích cực nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng trên không gian mạng. Tạp chí Lịch sử quân sự phát hành định kỳ hằng tháng thường xuyên đăng tải các bài viết của các nhà khoa học uy tín về những chủ đề phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đưa ra những thông tin chính thống, chuẩn xác về các vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử làm cơ sở thống nhất nhận thức về lịch sử trong lực lượng vũ trang và nhân dân. Nhiều bài viết đấu tranh trực diện với những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, góp phần bảo vệ sự thật lịch sử, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Với những kết quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, Viện Lịch sử quân sự được Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng ghi nhận, đánh giá cao. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Viện Lịch sử quân sự, có thể rút ra một số kinh nghiệm: Hiện nay trên không gian mạng có rất nhiều bài viết bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta; do đó, để đấu tranh có hiệu quả cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau Một là, thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cấp trên. Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thấy, đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Để hoạt động đấu tranh đúng định hướng, đạt hiệu quả, đòi hỏi phải bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cấp trên, Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng để cụ thể hóa vào quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ. Hai là, tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cần kết hợp chặt chẽ giữa lựa chọn những cán bộ, nhân viên đủ trình độ lý luận, có trách nhiệm cao, tích cực, sáng tạo trong đấu tranh để làm nòng cốt, đảm nhiệm vai trò quản trị viên, người kiểm duyệt với huy động, động viên mọi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của đơn vị, phối hợp chặt chẽ với Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tham gia đấu tranh. Ba là, phát huy thế mạnh của Viện trong tổ chức đấu tranh. Với thế mạnh là cơ quan chiến lược, giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác lịch sử quân sự, tổng kết chiến tranh trong toàn quân, Viện Lịch sử quân sự là cơ quan có nhiều lực lượng, nguồn tư liệu, được tiếp cận với nhiều nhân chứng lịch sử. Thông qua trao đổi kiến thức lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với các khoa lịch sử của các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu lịch sử, trong các cuộc hội thảo khoa học… nhiều vấn đề lịch sử được làm sáng tỏ. Đây là cơ sở quan trọng giúp Đảng ủy Viện lãnh đạo, chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, góp phần bảo vệ tính đúng đắn, cách mạng, khoa học trong đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng qua các thời kỳ. Bốn là, thường xuyên sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm khen thưởng, biểu dương kịp thời. Đây là nội dung quan trọng thúc đẩy hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Thời gian qua, Viện Lịch sử quân sự đã làm tốt việc sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng. Đối với cá nhân, khen thưởng bằng hình thức biểu dương, tính thành tích trong nhận xét cán bộ, phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên và đề nghị cấp trên có thẩm quyền khen thưởng; cộng điểm thi đua đối với các đơn vị trực thuộc Viện. Dự báo trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp, nhạy cảm để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Trong đó, chúng xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm và khó nhận biết hơn theo phương châm “ngầm, sâu, mềm”, sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện, biện pháp để tổ chức các hoạt động chống phá trên thực địa, trên không gian mạng, trên các phương tiện truyền thông, báo chí. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh trong thời gian tới, cần phát huy vai trò Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 các cấp. Thực hiện tốt phương châm: “Dự báo sớm, nhận diện đúng, phản ứng nhanh, đấu tranh kịp thời, hiệu quả”. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” để “chống”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực, tăng cường cung cấp thông tin chính thống, chuẩn xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử, tạo sức “đề kháng”, khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các thông tin xấu độc. Thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến, cách làm sáng tạo, hiệu quả. Tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và đấu tranh, tạo sức mạnh tổng hợp làm thất bại âm mưu, hoạt động xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thấy đúng không bảo vệ! Thấy sai lờ đấu tranh! Cấp trên nói gì cũng vâng! Cấp dưới, quần chúng ý kiến gì cũng gật! Khi cần đưa ra quyết định thì lừng chừng, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể... 6. Phong cách làm việc kiểu “đẽo cày giữa đường” cần được nhận diện, kiên quyết đấu tranh để khắc phục, loại bỏ... Để xảy ra tình trạng “đẽo cày giữa đường” trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong nội bộ, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm càng dễ bộc lộ. Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ nguyên nhân của biểu hiện này, đó là: Lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài... Không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân... “Đẽo cày giữa đường”, tự đánh mất vai trò cá nhân cũng chính là biểu hiện của “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”. Biết lắng nghe, phát huy dân chủ là một thuộc tính của khoa học lãnh đạo mà bất cứ cán bộ nào, ở cấp nào cũng cần có. Tuy nhiên, nếu lắng nghe mà không có chọn lọc, dân chủ mà thiếu tập trung thì sẽ dẫn đến quá tả hoặc quá hữu trong tư duy và phương pháp lãnh đạo. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, nếu cán bộ chủ trì có những biểu hiện này sẽ rất dễ bị các thành phần có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa lợi dụng. Họ sẽ khoét sâu vào “gót chân Achilles” của cán bộ để duy trì lợi ích nhóm, nhằm thực hiện các hành vi tham ô, tham nhũng, tiêu cực. Những vụ án kinh tế lớn, nguyên nhân do cán bộ “thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng” trong thời gian qua là những dẫn chứng, bài học nhãn tiền. Trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ, nếu người đứng đầu “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”, không thể hiện được vai trò, chính kiến, uy tín cá nhân... thì rất khó để tạo ra một tập thể mạnh, rất khó duy trì đoàn kết thực chất. Làm thế nào để cán bộ khắc phục, nói không với kiểu lãnh đạo, quản lý “đẽo cày giữa đường”? Bài học, vũ khí, phương tiện... của khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo là không hề thiếu, nếu không muốn nói là hiện nay cán bộ đã được Đảng “vũ trang” đầy đủ. Vấn đề căn cốt vẫn là cách vận dụng trên thực tế. Nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách của Đảng chính là kim chỉ nam, là cơ sở bảo đảm cho cán bộ có tư duy đúng, hành động đúng, nhằm phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, ý chí tập thể trước khi cá nhân đưa ra các quyết định. Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã chỉ rõ, mỗi cán bộ phải luôn giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch...; chủ động, tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài, khát khao cống hiến; bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích quốc gia-dân tộc. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng diễn ra ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung ban hành trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa như là “tấm khiên”, “lá chắn” vững chắc để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... của Đảng đang triển khai hiện nay chính là những loại “vũ khí”, phương tiện của phương pháp lãnh đạo, khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo... bảo đảm cho cán bộ giữ vững nguyên tắc, phát huy vai trò cá nhân trong sức mạnh tập thể. Như vậy, cán bộ dù ở cấp nào, trong hoàn cảnh nào cũng cần nhận thức đầy đủ, thấu đáo hai mặt của một vấn đề có tính biện chứng, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa người đứng đầu với cấp ủy, tổ chức Đảng, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa người chủ trì với các cơ quan, bộ phận tham mưu, giữa dân chủ với tập trung... để không phải “đẽo cày giữa đường”. 7. Sự cần thiết phải bảo vệ không gian mạng Thời gian qua, tình hình an toàn, an ninh mạng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát đối với các nước. Ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng triệt để không gian mạng để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân. Vì vậy, nâng cao nhận thức trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng là hết sức quan trọng và cấp thiết... Lợi ích và các thách thức Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian. Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người. Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. Không những thế, không gian mạng đang trở thành và là môi trường trong một hình thái tác chiến mới, đó là tác chiến không gian mạng. Nó đang tạo ra các nguy cơ về chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với sự tham gia của mọi đối tượng trên môi trường mạng bao gồm: Các nhóm tin tặc được nhà nước tài trợ; các nhóm tin tặc chuyên nghiệp, phi chính phủ; các nhóm Script Kiddies (hacker nghiệp dư)... Theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (trong tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn không gian mạng Việt Nam-Vietnam Security Summit 2022 diễn ra ngày 23-6-2022): Tội phạm mạng có xu hướng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại, nhiều tính năng phức tạp khiến cho việc phát hiện và xử lý hậu quả của những cuộc tấn công trở nên phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn. Những cuộc tấn công mã độc kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng công nghệ giả lập hành vi của người dùng, để tấn công vào các hạ tầng trọng yếu, các chuỗi cung ứng, nhà máy... đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đẩy mạnh tuyên truyền, xác định rõ trách nhiệm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị... Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học. Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng... Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng. 8. Chủ động, tích cực đấu tranh phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”. Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN” là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam. 9. “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra. Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”... Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc. Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo. 10. Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo. Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu. Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự. Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”. 11. Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”. Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản. Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn. Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. 12. Cảnh giác với những luận điệu sai trái, xuyên tạc tự do ngôn luận trên mạng xã hội Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách “bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng xã hội thì sẽ bị “diệt”! Trước đó, sau khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”. Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”! Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Chẳng hạn, ngày 22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”, cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”! Đặc biệt, đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng. Mục đích của các thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế. 13. Thực hiện quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội nhưng phải tuân thủ pháp luật Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung. Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông. Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016. Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp. Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam. 14. Trao đổi những kinh nghiệm đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ” Lợi dụng đời sống của bà con người Mông ở các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp… Vừ Thị Dợ, đối tượng cầm đầu đẩy mạnh tuyên truyền về tà đạo “Bà Cô Dợ”, dưới hình thức biến tướng của tôn giáo. Mục đích của đối tượng là lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng để tuyên truyền, phát triển lực lượng; lợi dụng mạng Internet để tuyên truyền các nội dung chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi thành lập “Nhà nước riêng”… Các luận điệu hoang đường của tà đạo “Bà Cô Dợ” Tà đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016. Từ năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm lập “Nhà nước riêng” của người Mông. Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được “Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai) có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000 năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền… Vào sáng chủ nhật hàng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm, nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ, nội dung chủ yếu là tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc kinh thánh; đả kích các tôn giáo chính thống; chê bai, phỉ báng phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo tổ chức “Bà Cô Dợ” tham gia thành lập “Nhà nước Mông”. Đáng chú ý, vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trong lúc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá vùng dân tộc và miền núi, phòng, chống dịch bệnh COVID[1]19 thì Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu lại tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ Việt Nam như: “Chính quyền không quan tâm đến chế độ, chính sách đối với nhân dân nên đời sống đồng bào rất khó khăn”; “Không được đi tiêm phòng dịch bệnh vaccine COVID – 19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khoẻ con người”, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn cách đối phó với công tác tuyên truyền, phòng, chống dịch của cơ quan y tế. Để thực hiện âm mưu và hoạt động của mình, bên cạnh việc kích động các hoạt động chống đối chính quyền, đối tượng cầm đầu Vừ Thị Dợ đã gửi tiền cho số đối tượng trong nước để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia phát triển tổ chức. Thời điểm cao nhất (năm 2017 - 2019), tà đạo “Bà Cô Dợ” có hàng ngàn người tin theo tại nhiều tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là khu vực tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung nơi có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Qua các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập “Nhà nước Mông”. Đồng thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác phòng, chống COVID[1]19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống. Để thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức. Cùng với đó, các đối tượng cầm đầu cũng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, thông qua mạng xã hội để tổ chức hội luận, đào tạo trực tuyến, tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng. Với những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập “Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai hại về đời sống và đức tin. Sự chuyển hoá ở một địa bàn khi người dân từ bỏ “Bà Cô Dợ” “Nhờ được tuyên truyền, giải thích, vợ chồng tôi đã hiểu được cái sai… Bây giờ, tôi yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình, không nghe theo lời của những kẻ xấu”, gặp các cán bộ Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La, ông Giàng Khúa Dua (SN 1953), một người dân sinh sống tại huyện Sốp Cộp cho biết. Ông Giàng A Khua chỉ là một trong nhiều người ở bản Huổi Luông đã từ bỏ tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trong bản còn có nhiều người khác như anh Vừ A Cho (SN 1982) và Giàng A So (SN 1987, cùng trú tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La)… hiện giờ cũng đã từ bỏ đạo lạ, quay trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần tuý. Sơn La từng là một trong những địa bàn phức tạp về hoạt động của tổ chức “Bà Cô Dợ”... Qua vận động, tuyên truyền, đến nay có 21 trường hợp từng theo “Bà Cô Dợ” đã từ bỏ, trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Một trong những bí quyết thành công của Công an tỉnh Sơn La là việc vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác; việc vận động, tuyên truyền để người dân hiểu được âm mưu, phương thức hoạt động của các đối tượng. Từ đó, nhiều người đã chủ động từ bỏ, không tham gia… Những chia sẻ của những người trong cuộc, phần nào đã cho thấy một cách làm đúng hướng, sẽ giúp người dân đã và đang lạc lối đi theo luận điệu tuyên truyền của các đối tượng cầm đầu tổ chức thực sự tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất của tà đạo “Bà Cô Dợ”. Từ những khó khăn, vất vả được tận mắt nhìn thấy trong những ngày 4 cùng ở địa bàn, cán bộ đơn vị thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những vướng mắc trong cuộc sống của người dân để chia sẻ. Từ đó, mỗi trinh sát Phòng An ninh nội địa lại tìm tòi, học hỏi những cách làm hay, sáng tạo trong nông nghiệp. Sau đó, bằng những hiểu biết, kinh nghiệm học hỏi của mình để hướng dẫn bà con thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt năng suất cao, ít sâu bệnh và chăm bón đúng kỹ thuật, sử dụng đúng các quy định của nhà sản xuất về thuốc bảo vệ thực vật; kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm như tiêm, uống thuốc phòng, chống dịch bệnh trong thời gian chuyển mùa và cách làm chuồng trại hợp vệ sinh; tận dụng phân động vật để làm phân bón, cách thu hoạch và bảo quản nông sản chất lượng, hiệu quả… “Lời nói đi đôi với hành động”, bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy thiết thực như vậy, trinh sát Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La đã xây dựng hình ảnh đẹp, ấn tượng sâu sắc trong lòng dân trên địa bàn. Từ sự gắn bó, tình cảm của người già đến các em nhỏ, phụ nữ và thanh niên trên địa bàn nên công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước của trinh sát, đơn vị đã đạt được hiệu quả và mang tính lan tỏa sâu rộng. Cùng với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn; vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền. Ở mỗi địa bàn lại có những cách làm hay, hiệu quả… Cùng với việc vận động, truyên truyền đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin. Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức. Cùng với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này. 15. Đấu tranh nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta. Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác… Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo. Hay như ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”! Mới đây, sau khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực, được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh. Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật. Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước. 16. Chủ động ngăn chặn âm mưu tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn vong, vững mạnh của đất nước ta, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Đây thực sự là một hiểm họa tiềm tàng, một loại kẻ thù giấu mặt, một thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, cần được nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh. Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã chỉ rõ: “Bước vào giai đoạn phát triển mới,đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hoá”còn diễn biến phức tạp”. Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác. Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất. Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh. Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước. Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh. Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển... Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào QĐND và CAND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của QĐND và CAND. Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, QĐND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng QĐND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng QĐND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ QĐND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động. 17. Việt Nam luôn là thành viên đóng góp tích cực vào các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc Trước ngày Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc, một số nhà dân chủ, nhân quyền tự xưng lại càng ra sức cản trở Việt Nam ứng cử thành viên HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Hành động vu khống, phá hoại của những kẻ chống phá mù quáng không chỉ đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn khiến dư luận trong nước và quốc tế phẫn nộ, phản đối. Bởi những đóng góp và thành tựu của Việt Nam về quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vài nét về Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc HĐNQ Liên hợp quốc trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, được thành lập năm 2006, là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên hợp quốc; là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép. HĐNQ Liên hợp quốc có các nhiệm vụ: Thảo luận tình hình, đề cập các vi phạm quyền con người và đưa ra các nghị quyết, khuyến nghị về các vấn đề quyền con người, hàng năm có báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc; ngăn chặn các vi phạm quyền con người thông qua hợp tác và đối thoại; hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, tổ chức khu vực, cơ quan nhân quyền quốc gia, các tổ chức phi chính phủ…; thúc đẩy giáo dục, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực cho các nước; thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ và cam kết về quyền con người; kiểm định định kỳ việc thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của tất cả các nước về quyền con người dựa trên các thông tin khách quan, tin cậy, thông qua một cơ chế kiểm điểm định kỳ 4-5 năm một lần, trên cơ sở hợp tác và đối thoại. HĐNQ Liên hợp quốc có 47 nước thành viên, phân bổ cân bằng theo khu vực địa lý (châu Á 13 thành viên, châu Phi 13, Đông Âu 6, Mỹ La tinh và Caribe 8, Tây Bắc Âu và các nước khác 7). Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc đều có quyền ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc. Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ bầu các thành viên HĐNQ Liên hợp quốc bằng bỏ phiếu kín. Với vị trí và tầm quan trọng của mình, HĐNQ cùng với Hội đồng Bảo an trở thành những cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc được các nước quan tâm ứng cử nhiều nhất. Mục đích chính của các nước tham gia HĐNQ là đề cao đường lối, chính sách, thành tựu về quyền con người, thúc đẩy các ưu tiên, sáng kiến phù hợp với lợi ích của mình; tranh thủ thông tin, giải thích, vận động, đấu tranh, phản bác các quan điểm chỉ trích của các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc hoặc của các nước khác về tình hình nhân quyền ở nước mình. Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động nhân quyền Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham gia Nhóm nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…). Việt Nam cũng là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của HĐNQ Liên hợp quốc trong giai đoạn này. Đồng thời, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực… Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước. Từ năm 2014 đến 2016, Việt Nam được tín nhiệm bầu làm Điều phối viên ASEAN tại HĐNQ Liên hợp quốc đã góp phần thúc đẩy quan hệ song phương giữa Việt Nam với các nước và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025 sẽ góp phần khẳng định nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá. Đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các nước để tăng cường công tác tuyên truyền về thành tựu, thực tế tình hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam. Cùng với đó, nâng cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước bạn bè, các nước đối tác, kể cả những nước có quan điểm khác biệt về quyền con người. Thúc đẩy các sáng kiến cụ thể, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sáng kiến về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”; thúc đẩy hợp tác, đối thoại trên các vấn đề mà quốc tế quan tâm, phù hợp với lợi ích của ta. Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào các cơ chế đa phương, tạo tiền đề để đưa cán bộ của ta vào làm việc tại các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác. Như vậy, khi Việt Nam tham gia HĐNQ Liên hợp quốc sẽ giúp các nước, các tổ chức quốc tế có nhận thức đúng hơn về nhân quyền ở nước ta; đồng thời, Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi góp phần vào việc bảo đảm thực thi nhân quyền trên thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. 18. Mục tiêu chủ nghĩa xã hội là đúng đắn duy nhất ở Việt Nam Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá đất nước, không ít đối tượng xấu đang cố tình rêu rao đòi từ bỏ việc xây dựng CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ độc lập dân tộc. Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị liên tục tấn công mục tiêu xây dựng CNXH tại Việt Nam. Chúng cho rằng: “Xã hội XHCN là một xã hội không tưởng, được Đảng Cộng sản vẽ ra để mị hoặc, ru ngủ quần chúng”; “Việc lựa chọn con đường xây dựng CNXH là đi theo vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu”; “Việt Nam đang chuyển hướng theo mô hình tư bản, CNXH chỉ còn là danh nghĩa”… Cùng với đó, lợi dụng những mặt trái của xã hội, những hạn chế, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là vấn nạn tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, các đối tượng xấu đã “tát nước theo mưa”, ra sức bôi đen, vấy bẩn chế độ. Từ đây, những kẻ này đòi Việt Nam phải thay đổi mục tiêu phát triển, từ bỏ việc xây dựng CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc. Đây là những luận điệu vô cùng độc hại, ẩn chứa ý thức chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động. Phải khẳng định rõ, việc giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta. Đây là bài học xương máu được Đảng, Nhà nước ta rút ra từ cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển Tổ quốc. Độc lập dân tộc và CNXH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc, không chịu sự chi phối, hướng lái từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh của chính dân tộc mình. Trong khi đó, CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Độc lập dân tộc là điều kiện tiền đề để xây dựng CNXH. Ngược lại, CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Vậy vì sao các đối tượng xấu lại ra sức tấn công mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam? Suy cho cùng, câu trả lời vẫn là vấn đề lợi ích. Trong thời đại ngày nay, mâu thuẫn giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản (CNTB) vẫn tồn tại và có mặt ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn. Điều này bắt nguồn từ bản chất của hai xã hội. Trong xã hội XHCN, quần chúng lao động là người nắm giữ quyền lực Nhà nước, lợi ích được chia sẻ một cách hài hòa, công bằng và bình đẳng. Trong khi đó, ở xã hội tư bản, mặc dù chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhưng quyền lực phần lớn vẫn thuộc về gia cấp tư sản; những mâu thuẫn, bất đồng, bất công trong xã hội vẫn tồn tại dai dẳng và trở thành nguồn gốc của xung đột. Theo quy luật vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, xã hội XHCN sẽ là hình thái phủ định xã hội tư bản. Thực tế cũng chứng minh, từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới đã đứng lên đấu tranh, khiến cho CNTB chịu những thiệt hại hết sức nặng nề, làm cho lợi ích của giai cấp tư bản bị lung lay, đảo lộn. Chính vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình, để duy trì “trật tự vĩnh hằng của CNTB”, các thế lực thù địch đã ra sức tấn công vào mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam. Con đường đi lên CNXH là không dễ dàng. Đã có lúc phong trào cộng sản trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu. Vậy nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận, đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của CNXH đã lạc hậu. Việc chúng ta kiên định đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến hành xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên, những kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định CNXH không phải là “mộng tưởng” như những gì các đối tượng chống phá đưa ra. Trong đó, một số nét chính có thể phác họa như: Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 6%/năm; quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD/người); năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020; mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, giáo dục và đào tạo ở những vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng, chất lượng giáo dục ngày càng tăng; đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu… Dĩ nhiên, trong quá trình phát triển, nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, tham nhũng được Đảng ta xác định vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Tuy nhiên, cũng cần nói rõ, tham nhũng là vấn nạn chung của toàn thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ XHCN. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật và kiên quyết xử lý nghiêm đối với các trường hợp sai phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, với quyết tâm chính trị rất cao. Đặc biệt, với việc thống nhất thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ được triển khai ngày càng bài bản hơn, ngày càng đi vào chiều sâu, qua đó, bịt kín sơ hở có thể nảy sinh tham nhũng. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mong muốn, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là sự lựa chọn của lịch sử. Biết bao thế hệ cha ông đã anh dũng hi sinh để có được độc lập, tự do, hòa bình, ổn định, làm cơ sở tiến lên CNXH. Vì vậy, việc tấn công, đòi từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH là hành động vô ơn với các thế hệ đi trước, là sự thụt lùi trong tiến trình phát triển, là sự thất hứa với quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH. 19. Đấu tranh nhận diện thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân “Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số 1248, ngày 8/8/1957. Tinh thần đoàn kết toàn dân tộc đã giúp chúng ta vượt qua những thách thức, cam go của lịch sử, đánh thắng các kẻ thù xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước đi lên CNXH. Thế nhưng, các thế lực thù địch chống phá Việt Nam lại không mong muốn điều đó, họ luôn ra sức tung hô, cổ xúy cho các hành vi kích động bạo lực, gây hận thù dân tộc, chia rẽ đồng bào lương giáo, ngăn cách đồng bào các dân tộc thiểu số, phá vỡ sự kết nối giữa lòng dân với ý Đảng. Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững được niềm tin của nhân dân, đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong toàn dân. “Tài sản lớn nhất của Đảng là niềm tin của dân. Mất niềm tin là mất tất cả”. Ở nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào Khmer… Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị phân tích: “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc, lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”. Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đều được chung sống hòa bình, bình đẳng và tích cực đóng góp cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Các đồng bào tôn giáo đều một lòng hướng thiện, sống tốt đời đẹp đạo, kính chúa yêu nước, chỉ những người nhẹ dạ, cả tin hoặc những chức sắc tôn giáo bị tác động, chi phối bởi các thế lực thù địch mới luôn có tư tưởng và âm mưu chia rẽ đồng bào lương giáo. Đại đức Thạch Dương Trung, Trụ trì chùa Cót Đôn, tỉnh Bạc Liêu và Linh mục Vũ Thanh Lịch, thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk khẳng định như vậy. “Đảng, Nhà nước chúng ta luôn hỗ trợ, ủng hộ các tôn giáo đều sinh hoạt tín ngưỡng bình đẳng với nhau. Các dân tộc đều có quyền sinh sống bình đẳng, không có sự đàn áp một dân tộc nào. Không chỉ dân tộc Khmer, các dân tộc khác cũng đều như vậy, đều sống bình đẳng” - Đại đức Thạch Dương Trung nói. Linh mục Vũ Thanh Lịch nhấn mạnh: “Đạo công giáo với tinh thần bác ái, yêu thương, phục vụ và ai cũng có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Và đặc biệt là người Việt Nam chúng ta, bất kể tôn giáo nào đều có lòng yêu nước thiết tha và sẵn sàng đóng góp mọi mặt cho quê hương mình”. Theo phân tích của nhà báo Hồng Thanh Quang, nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết, một số quốc gia hiện nay đang rơi vào chiến tranh, ly khai, loạn lạc đều có bàn tay can thiệp, đạo diễn từ các thế lực bên ngoài. Thông qua đồng tiền, các thế lực bên ngoài khống chế, hà hơi tiếp sức cho các thế lực đối lập, phản động trong nước, thổi bùng lên thành những mâu thuẫn và sau đó dẫn đến sự can thiệp của nước ngoài, dưới hình thức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ dân chủ, nhưng kết cục thì hoàn toàn ngược lại. Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đều là người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước pháp luật. Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc. Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng, lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của dân tộc từ bao lâu nay trong lịch sử đã trở thành tài sản, giá trị thiêng liêng, cao quý của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc, không nghe theo những xúi giục, kích động của các phần tử bất mãn và các thành phần chống phá chế độ. “Người dân thì có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, tỉnh táo khi quyết định hành vi ứng xử của mình, nhưng kẻ xấu thì làm việc này có tính toán. Chúng chống phá sự phát triển tốt đẹp, bình yên của đất nước chúng ta, chống phá chế độ và muốn chúng ta đi chệch con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường CNXH” - Giáo sư Hoàng Chí Bảo khẳng định. Cách đây 6 thế kỷ, sau khi đập tan ách thống trị, đô hộ 20 năm của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Tinh thần và tư tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân và binh sĩ đã trở thành mạch nguồn làm nên sức mạnh để chúng ta đương đầu vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 20. Thiển cận khi không thừa nhận Việt Nam là quốc gia độc lập Không công nhận Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền là cách nhìn phiến diện, không có cơ sở khoa học của các thế lực thù địch, phản động hòng âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Với những luận điệu xuyên tạc, chiêu trò chống phá, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường của người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi, thì sao gọi là đất nước độc lập”. Vì vậy, cần nhận thức đầy đủ về độc lập dân tộc. Đó là quyền tự chủ, tự quyết của một dân tộc, quốc gia trong việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trong phạm vi lãnh thổ của mình, không chịu sự tác động, ép buộc, chi phối, thao túng của nước ngoài. Độc lập dân tộc phải trên cơ sở bảo đảm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, được luật pháp quốc tế thừa nhận và được khẳng định trên thực tế. Nói cách khác, quốc gia độc lập là quốc gia phải hội tụ đầy đủ các yếu tố: Quốc gia đó có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hệ thống hành chính do người của quốc gia đó điều hành; nhà nước đó phải có thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ; nhà nước đó sở hữu quyền tài phán, thuế quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao;nhà nước đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận. Nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì không phải quốc gia độc lập, có chủ quyền. Thật vậy! Đối chiếu với yếu tố thứ nhất, cho thấy, Việt Nam hiện đang là quốc gia độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, trên biển, trên không và trên không gian mạng. Với yếu tố thứ hai, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị Việt Nam được pháp luật quy định là chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Cụ thể là hệ thống hành chính của Việt Nam do người Việt Nam điều hành. Với yếu tố thứ ba, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn khẳng định về chủ quyền của quốc gia mình, lên tiếng phản đối nước nào đó vi phạm chủ quyền của Việt Nam, bất kể đó là quốc gia lớn hay nhỏ. Mọi hoạt động của nước khác trên lãnh thổ Việt Nam phải được sự đồng ý của Nhà nước Việt Nam thì họ mới được hành động và phải chấp hành pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam có liên quan. Điều đó cho thấy, Nhà nước Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ của mình. Với yếu tố thứ tư, mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chấp hành pháp luật Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải đóng thuế cho Nhà nước Việt Nam. Các cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam đều có nghĩa vụ đóng các loại thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cộng hòa XHCN Việt Nam là tổ chức hợp pháp duy nhất có đầy đủ thẩm quyền ký kết các văn bản ngoại giao với các tổ chức, quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới (189/200 quốc gia); thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Như vậy, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sở hữu quyền tài phán, thuế quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao. Với yếu tố thứ năm, nhà nước đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận thì Việt Nam đã được các nước trên thế giới công nhận; trong đó, 189/200 nước (gồm đủ cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc) trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao. Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc ngày 20/9/1977, là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ và tham gia một số ủy ban của Liên hợp quốc: Nhân quyền, Pháp luật… Như vậy, các nước trên thế giới đều công nhận Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đó là thực tế không thể chối cãi. Thế còn, “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường của người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động rêu rao thì sao? Đảng Cộng sản Việt Nam không phải “do nước ngoài tạo ra” mà chỉ thành lập tại Hương Cảng (Trung Quốc) trên cơ sở thống nhất 3 tổ chức đảng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nói “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra” là chưa nghiên cứu lịch sử Đảng. CNXH có phải do nước ngoài thiết kế không? Mục đích của CNXH, chủ nghĩa cộng sản là giống nhau, nhưng cách thức xây dựng là khác nhau ở mỗi nước tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh để lựa chọn cách thức phù hợp. Thế nên, Trung Quốc mới xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc. Việt Nam xây dựng CNXH phù hợp với thực tiễn nước mình, chắc chắn sẽ không giống nước khác. Bởi các nước khác nhau thì có thực tiễn khác nhau. Thế nên, các luận điệu nói trên đã cho thấy cách nhìn phiến diện và thiếu hiểu biết của những kẻ phản động, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc. 21. Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17-10-1945. Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân, gây bức xúc dư luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện, Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt và nghiêm khắc chấn chỉnh. Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi con người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ. Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện. Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống về mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay”, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ. Kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm… thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” - một nét đẹp văn hóa độc đáo, đặc sắc của Quân đội trong thời đại Hồ Chí Minh. 22. Phải đấu tranh đến cùng cho độc lập, tự do của dân tộc “Đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phải tranh đấu đến cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” - Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai”, ngày 18-10-1945, báo Cứu quốc, đăng số 71, ngày 19-10-1945. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước ta đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Trước vận mệnh của chính quyền cách mạng được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”; trên cương vị Chủ tịch nước, với bộn bề lo lắng, nhưng Bác vẫn dành sự quan tâm ân cần, sâu sắc đến đồng bào các dân tộc miền núi và chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc, làm tiền đề quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng to lớn, để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn nhằm chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, chính đáng nhưng mang tính tự phát của quần chúng thành sự tự giác, có tổ chức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Chính sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết và xây dựng tinh thần đoàn kết đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhờ xây dựng tốt tinh thần đoàn kết gắn bó đồng chí, đồng đội, cấp trên với cấp dưới như ruột thịt, lúc thường cũng như lúc ra trận; đoàn kết quân với dân như cá với nước và đoàn kết quốc tế trong sáng, thuỷ chung… đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, khi nào mà cấp uỷ, chỉ huy các cấp quan tâm chăm lo lãnh đạo xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết, thì cơ quan, đơn vị đó luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và ngược lại. Do vậy, đặt ra yêu cầu với cấp uỷ, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, chung sức, đồng lòng xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 23. “Làm sao cho được 50 người hiểu rõ, còn hơn là được 500 người hiểu lờ mờ” “Làm sao cho được 50 người hiểu rõ, còn hơn là được 500 người hiểu lờ mờ” - Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Lời căn dặn các đội viên tuyên truyền xung phong”, ngày 20-10-1945, đăng trên Báo Cứu quốc, số 73, ngày 22-10-1945. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt. Một là, nhận thức đúng đắn về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Hai là, phương pháp tuyên truyền. Ba là, những yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt trên luôn phải thống nhất, liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó nhận thức mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Những lời khuyên và chỉ bảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như phong cách nói và viết của Người đã vượt qua giới hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe để đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền học tập và làm theo. Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác tuyên truyền đối với toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Thông qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội. Đồng thời, đây cũng là một vũ khí sắc bén đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, sai trái, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; góp phần quan trọng giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng. Công tác tuyên truyền trong Quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư các nguồn lực để tiến hành ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bám sát sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, nhất là những sự kiện chính trị thời sự nổi bật, được đông đảo dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm để tiến hành tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền được biên tập công phu, chặt chẽ, phản ánh tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học công nghệ và môi trường… Các nội dung được luận giải, thuyết phục bằng những cơ sở lý luận, thực tiễn sát đúng, có tính chiến đấu cao, dự báo và định hướng tư tưởng rõ ràng. Phương pháp truyền tải đã có nhiều đổi mới, kết hợp sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại và tăng cường đối thoại, giao lưu trực tiếp với người tiếp nhận thông tin. Vì vậy, đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 24. Những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh “Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh” - Ngày 21-10-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Trong bài nói, Hồ Chí Minh đã khẳng định những công lao to lớn của các thầy cô giáo đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu, là bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, được vun đắp qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên nền văn hiến Việt Nam với bề dày hàng nghìn năm lịch sử. Từ xưa đến nay, nghề giáo luôn được xã hội tôn vinh là nghề cao quý; cha ông ta từng nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”; “Thầy cô giáo tốt là những anh hùng vô danh”; cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nhấn mạnh: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ giáo viên của Đảng và Nhà nước, công tác giáo dục đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, nhà trường quân đội nói riêng đã có sự trưởng thành và lớn mạnh, hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các thế hệ nhà giáo Quân đội đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đào tạo hàng chục vạn cán bộ, hạ sĩ quan có chất lượng tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của chiến trường trong những năm tháng kháng chiến giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao. Nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, đào tạo, vì học viên thân yêu là những biểu tượng cao đẹp để các thế hệ giáo viên, học viên mãi mãi học tập, noi theo, xứng đáng với sự đánh giá, ghi nhận của Bác Hồ kính yêu. 25. Lời Bác dạy đối với lực lượng Công an nhân dân về công tác thi đua khen thưởng “Đối với những người có thành tích, phải khen thưởng, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”- Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân, ngày 12-10-1966; Báo Nhân dân, số 4580, ngày 22-10-1966. Tại đại hội, Bác đã đề nghị ngành Công an phải có những hoạt động thiết thực để thực hiện thi đua. Trong thi đua Bác đề cập đến việc phải khen thưởng kịp thời, xác đáng đối với những người có thành tích, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức. Lời Bác căn dặn năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với việc thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật đối với mọi cấp, mọi ngành và mọi người. Bởi nếu làm tốt công tác thi đua, khen thưởng là trực tiếp giáo dục, cổ vũ, động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo, phấn đấu hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu đã đề ra, tạo sức lan tỏa sâu rộng trở thành phong trào hành động cách mạng, thiết thực xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Kỷ luật nghiêm minh, đúng mức, khách quan, công khai, công bằng, đúng người, đúng tội là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của mỗi tổ chức, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu, đề cao tự phê bình và phê bình; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước. Kỷ luật là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống đoàn kết, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, những năm qua, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhằm bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, gắn với thực hiện tốt các cuộc vận động của các cấp, các ngành; đồng thời, tăng cường quản lý kỷ luật, xây dựng đơn vị có nề nếp chính quy, nên hạn chế được tình hình vi phạm kỷ luật, nhất là kỷ luật nghiêm trọng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 26. “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”- là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời tuyên bố với quốc dân” sau chuyến đi Pháp về, ngày 23-10-1946, đăng trên Báo Cứu quốc, số 384, ngày 23-10-1946. Sau khi nêu rõ mục đích, ý nghĩa và kết quả của chuyến đi Pháp, đề ra nhiệm vụ cụ thể của cách mạng nước ta từ tháng 10-1946 đến tháng 1-1947, Người cũng bày tỏ điều tâm niệm bấy lâu của mình: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản cao quý là tấm gương sáng ngời phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu cho đất nước được độc lập, phồn vinh, cho nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Trong con người Hồ Chí Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà lại vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết, tin tưởng và gắn bó với quần chúng, hết lòng, hết sức chăm lo cho nhân dân. Người thường xuyên giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu về tấm gương đạo đức trọn đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một học trò xuất sắc và là một cộng sự thân thiết, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “… Đó là cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Tư tưởng, phong cách và tấm gương đạo đức sáng ngời suốt đời hy sinh chiến đấu, tận tụy phục vụ, vì nước, vì dân “Chỉ biết quên mình cho hết thảy” của Bác Hồ càng thúc giục chúng ta học tập noi theo Người, trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác, thường xuyên hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng. Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, được nhân dân yêu mến, tin tưởng, giúp đỡ và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, lập nên truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng”. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh việc nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trung tâm, toàn quân tích cực làm tốt công tác dân vận, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, tham gia phòng chống thiên tại, cứu hộ, cứu nạn; chung sức xây dựng nông thôn mới, góp phần thiết thực cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 27. Giáo dục là cốt sách hàng đầu Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người luôn đặc biệt quan tâm đến việc phát triển con người toàn diện cả về thể lực, đạo đức, trí lực, tài năng và thẩm mỹ. "Đối với các em, việc giáo dục hồm có: Thể dục: Để làm cho thân thể mạnh khỏe, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung. Trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức thấy, Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp. Đức dục: là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư “Gửi các em học sinh”, nhân dịp khai giảng năm học mới, với bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân dân số 600, ngày 24-10-1955. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người luôn đặc biệt quan tâm đến việc phát triển con người toàn diện cả về thể lực, đạo đức, trí lực, tài năng và thẩm mỹ. Tư tưởng đó là hình mẫu sinh động của con người toàn diện cho hiện tại và tương lai. Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Người là chỉ dẫn sáng suốt để xây dựng thành công chiến lược phát triển con người toàn diện trong điều kiện mới ở nước ta. Thấu triệt lời Bác dạy năm xưa, Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục, đào tạo nước ta luôn quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng học sinh, sinh viên toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, nhất là chăm lo xây dựng đạo đức, nhân cách, lối sống đẹp, nhằm xây dựng những con người mới vừa “hồng”vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện trong các học viện, nhà trường, đơn vị quân đội luôn được Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp đặc biệt quan tâm với việc ban hành đồng bộ các nghị quyết, chỉ thị về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu giáo dục chính trị và công tác giáo dục, đào tạo phù hợp với từng đối tượng, bảo đảm khoa học, thiết thực. Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện, tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. 28. Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc... “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”- Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường chính trị trung cấp Quân đội (nay là Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng) nhân dịp Người về thăm trường ngày 25-10-1951. Bác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và quân đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm chiến đấu hy sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ đúng với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội của giai cấp vô sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng quân đội của ông cha ta, như “hun đúc bằng những điều nhân nghĩa” cho quân đội. Hơn cả, là sự phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh. Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; đáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình chống phá cách mạng nước ta, cổ xúy cho cái gọi là: “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi đảng phái”, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn lời dạy của Người về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam… để dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước. 29. Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các cán bộ các cấp phải lãnh đạo và phải làm kiểu mẫu trong việc kiểm thảo và tự phê bình. Làm như thế thì chúng ta sẽ phát triển thêm ưu điểm, sửa chữa sạch khuyết điểm. Đánh thắng khuyết điểm của ta tức là đã một lần đánh thắng quân địch”. Đây là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ”, báo Cứu quốc, số 1676, ngày 26-10-1950. Sau thắng lợi của các trận Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng mở ra một thời kỳ mới trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược - thời kỳ thế chủ động trên chiến trường hoàn toàn nằm trong tay quân đội cách mạng Việt Nam. Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Để khắc phục sự chủ quan, tự mãn có thể sẽ xuất hiện trong cán bộ, chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết thư để tri ân các liệt sĩ, thăm hỏi thương binh, động viên bộ đội và huấn thị cán bộ phải làm tốt công tác lãnh đạo việc phê bình và tự phê bình. Bởi theo Bác, muốn phát huy tốt tác dụng của phê bình, phải tự phê bình mình trước, phê bình từ trong cấp ủy, trong chi bộ đến đơn vị. Tự phê bình không phải là tự hạ thấp mình, tự “nhún nhường” mà là thể hiện trình độ nhận thức, lòng dũng cảm, sự trung thực, ngay thẳng trước tổ chức, đồng chí, đồng đội và rộng hơn là trước Đảng, trước nhân dân; là thể hiện tinh thần cầu thị, ý chí vươn lên của bản thân. Thấu triệt tư tưởng đề cao tự phê bình và phê bình, nhất là với đối với đội ngũ cán bộ các cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định và thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng, coi đây là nguyên tắc cơ bản xây dựng Đảng. Sự trưởng thành của Đảng ta trong hơn 80 năm qua một phần quan trọng là do Đảng luôn kiên định và thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trong đó có tự phê bình và phê bình, phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược luôn gương mẫu trong học tập, rèn luyện, đề cao tự phê bình và phê bình, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, xử lý tốt các tình huống; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung và khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của cơ quan, đơn vị; gần gũi, sâu sát với bộ đội, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến. 30. Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”- Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28-10-1950 tại Lam Sơn, tỉnh Cao Bằng. Kỷ luật là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm cho quân đội luôn có sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh đã khẳng định:“quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên là biểu hiện tập trung cao nhất của việc chấp hành nghiêm kỷ luật. Do vậy, Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, lời huấn thị: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng, trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân đã góp phần xây dựng Quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 31. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên mạng xã hội ở Học viện Quốc phòng hiện nay Sự phát triển của khoa học công nghệ thời kỳ “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã làm gia tăng các trang mạng xã hội, tạo thành không gian mới để con người hoạt động, theo đuổi các mục đích nhất định. Với nội dung phong phú, đa dạng và dễ sử dụng, mạng xã hội mang lại rất nhiều tiện ích, ngày càng góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, không gian mạng cũng là nơi mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng để tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn.... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mọi tổ chức, mọi lực lượng, trong đó có cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ Học viện Quốc phòng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị đã chủ động tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu (Lực lượng 47) cũng như động viên mọi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ tham gia vào hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Các thành viên Lực lượng 47 cũng như mỗi cá nhân đã tích cực, chủ động thu thập thông tin, tài liệu, tăng cường đấu tranh chống diễn biến hòa bình bằng nhiều nội dung, hình thức phong phú, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính; với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” để lan tỏa những thông tin tích cực nhằm pha loãng, lấn át thông tin xấu độc. Thông qua các hoạt động đã góp phần vạch trần những tư tưởng sai trái, cơ hội, thù địch, nâng cao nhận thức và tinh thần cảnh giác cách mạng, định hướng tư tưởng, củng cố lòng tin cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ, người lao động và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không dao động trong mọi tình huống. Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực, trong nước tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Vì thế, để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng của Học viện, trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau: Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội Đây là giải pháp giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là cơ sở để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Học viện Quốc phòng hiện nay. Bởi vì, nhận thức giữ vai trò trong định hướng và chỉ đạo hoạt động của các cá nhân và tổ chức. Nhận thức đúng là cơ sở để mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ Học viện tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần giáo dục cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ Học viện nhận thấy tính chất gay go, quyết liệt, toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, quốc phòng an ninh, đối ngoại của cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Cùng với đó, cấp ủy, người chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động tổ chức cho đơn vị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết của Đảng, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong toàn Học viện nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về “Tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội”. Qua đó, làm cho mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sỹ có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tính chất quan trọng, những vấn đề cơ bản của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; cụ thể hóa thành hành động, việc làm, tham gia tích cực, hiệu quả góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Hai là, tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực đấu tranh trên không gian mạng cho lực lượng 47 Trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị cần có chủ trương, biện pháp bồi dưỡng năng lực đấu tranh trên không gian mạng cho Lực lượng 47. Nội dung giáo dục, bồi dưỡng phải toàn diện nhằm bổ sung, nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khả năng tư duy khoa học, trình độ khai thác và sử dụng công nghệ thông tin, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nhãn quan chính trị để nhận diện đúng, đấu tranh phê phán có hiệu quả, góp phần bảo vệ và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Về hình thức, biện pháp bồi dưỡng, cấp ủy chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị cần phối hợp với cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35/ Đảng ủy Học viện tổ chức bồi dưỡng, tập huấn đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo bằng nhiều hình thức cụ thể như: Phát huy vai trò của các nhà khoa học, các đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong phổ biến, truyền thụ kiến thức, kỹ năng, phương pháp đấu tranh. Những nội dung có tính chất phức tạp, nhạy cảm trên không gian mạng cần có sự trao đổi, thảo luận để thống nhất, nhận thức đúng, đấu tranh hiệu quả; thực hiện tốt cấp trên bồi dưỡng cho cấp dưới,... Ba là, tiếp tục đổi mới phương thức, đa dạng hóa hình thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” rất đa dạng, tinh vi và thường xuyên thay đổi. Để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng thực sự đem lại chất lượng, hiệu quả đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên có sự đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp đấu tranh. Mỗi cơ quan, khoa, đơn vị cần xây dựng kế hoạch đấu tranh cụ thể trên cơ sở chỉ đạo chung; bám sát đặc điểm đối tượng, khai thác nguồn tin và tổ chức lưu chuyển thông tin phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Phải có sự phối hợp chặt chẽ, phân công cụ thể, xác định rõ nội dung đấu tranh, mục tiêu cần đạt được; đấu tranh thường xuyên, liên tục. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, trong đó, đấu tranh trực tiếp, trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch là hình thức cần được coi trọng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, thường xuyên. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện cần chủ động trong tham gia viết tin, bài đăng trên mạng nội bộ, truyền thanh Học viện, tham gia hội thảo, thông tin khoa học, tập huấn, ... để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách, trước mắt đồng thời là chiến lược cơ bản, lâu dài nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Vì vậy, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện cần nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch; tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt; tham gia đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

 

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” đối với Quân đội ta, các thế lực thù địch tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta nhằm làm cho quân đội từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tuyên truyền và cổ vũ các luận điệu sai trái đòi “đa nguyên, đa đảng” nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và đối với quân đội; kích động sự chia rẽ, gieo rắc sự hoài nghi, bất bình trong nhân dân và quân đội đối với Đảng.

Âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội ta của thế lực thù địch là cực kỳ nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm làm biến chất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, dẫn đến bị vô hiệu hóa. bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.

Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội trong tình hình mới là yêu cầu cấp thiết hiện nay đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc nhiệm vụ đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.

Do vậy, trong tình hình hiện nay, đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội là một trong những nội dung quan trọng nhằm hiện thực hóa phương hướng xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm nền tảng, cơ sở để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

 

66

 

Vai trò là thành viên đóng góp tích cực của Việt Nam vào các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc

 

 

Trước ngày Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc, một số nhà dân chủ, nhân quyền tự xưng lại càng ra sức cản trở Việt Nam ứng cử thành viên HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Hành động vu khống, phá hoại của những kẻ chống phá mù quáng không chỉ đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn khiến dư luận trong nước và quốc tế phẫn nộ, phản đối. Bởi những đóng góp và thành tựu của Việt Nam về quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động nhân quyền

Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham gia Nhóm nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…).

Việt Nam cũng là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của HĐNQ Liên hợp quốc trong giai đoạn này. Đồng thời, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực… Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước.

Từ năm 2014 đến 2016, Việt Nam được tín nhiệm bầu làm Điều phối viên ASEAN tại HĐNQ Liên hợp quốc đã góp phần thúc đẩy quan hệ song phương giữa Việt Nam với các nước và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025 sẽ góp phần khẳng định nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá. Đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các nước để tăng cường công tác tuyên truyền về thành tựu, thực tế tình hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam.

Cùng với đó, nâng cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước bạn bè, các nước đối tác, kể cả những nước có quan điểm khác biệt về quyền con người. Thúc đẩy các sáng kiến cụ thể, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sáng kiến về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”; thúc đẩy hợp tác, đối thoại trên các vấn đề mà quốc tế quan tâm, phù hợp với lợi ích của ta. Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào các cơ chế đa phương, tạo tiền đề để đưa cán bộ của ta vào làm việc tại các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.

Như vậy, khi Việt Nam tham gia HĐNQ Liên hợp quốc sẽ giúp các nước, các tổ chức quốc tế có nhận thức đúng hơn về nhân quyền ở nước ta; đồng thời, Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi góp phần vào việc bảo đảm thực thi nhân quyền trên thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

KHÍ PHÁCH NGƯỜI CỘNG SẢN - THÀ CHẾT ĐỨNG CÒN HƠN SỐNG QUỲ!

 


Vĩ tuyến 17, ngày và đêm - một bộ phim từ câu chuyện có thật:

Đồng chí Ba Thuận, bí thư chi bộ của xã, khi tên sỹ quan ngụy Trần Sùng tìm cách lung lạc, nói sẽ tha cho ông nếu cùng hắn quỳ xuống thề “xoá bỏ hận thù”, ông đã đanh thép trả lời rằng: “Tao quỳ nửa đời người rồi, đã đứng lên được là không quỳ xuống nữa”!

Và khi Trần Sùng lấy cái chết ra để đe dọa, muốn ông từ bỏ niềm tin vào lý tưởng của Đảng, Ba Thuận đã dõng dạc: “Nhìn vào mắt mày, tao thấy mày đang run rợ. Còn tao, dù có chết tao vẫn luôn tin vào Đảng, tin rằng đất nước sẽ sum họp, non sông sẽ thống nhất”.

Khi bị lũ ngụy đê hèn thiêu sống, Ba Thuận vẫn hét lên động viên bà con: “Đừng kêu khóc trước mắt kẻ thù. Trong chiến tranh, việc sinh tử là lẽ thường tình”. St

 

GIỮ DANH DỰ CỦA NGƯỜI CÁN BỘ!

 

Người lãnh đạo cần biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ.

Để trở thành cán bộ lãnh đạo, mỗi người đều phải trải qua quá trình tích cực học tập, công tác, rèn luyện, thử thách, cống hiến và trưởng thành, hội tụ đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác.

Sự ghi nhận, tin tưởng, tôn vinh, hay ngưỡng mộ, kính trọng của tổ chức, tập thể và rộng hơn là của nhân dân, của xã hội đối với người lãnh đạo tạo nên danh dự của người đó. Đó là sự coi trọng, đánh giá cao phẩm chất, uy tín, năng lực cá nhân và quá trình công tác, thành tích cống hiến của họ, đó cũng chính là những giá trị tinh thần, xã hội, ý nghĩa cuộc sống vì sự đóng góp, cống hiến của họ.

Danh dự, uy tín của người lãnh đạo không thể đo đếm hay mua bán, đánh đổi bằng vật chất, tiền bạc, cũng không tự nhiên mà có, không ai có thể mang đến cho họ hoặc làm thay, làm hộ, mà phải do bản thân người lãnh đạo trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn, cống hiến nhiều năm. Danh dự của con người không liên quan tuổi tác, không phụ thuộc vào giới tính, học vấn, trình độ, địa vị, thành phần xuất thân. Là người bình thường, ai cũng đều có lương tâm, danh dự.

Tuy nhiên, mức độ lan tỏa và ảnh hưởng của danh dự ở mỗi người trong xã hội có khác nhau phụ thuộc vào phương thức truyền thông, sự lan tỏa giá trị, quan hệ xã hội, uy tín, địa vị công tác, hoặc địa vị xã hội của người đó. Người có trình độ học vấn, có vị trí càng cao, có ảnh hưởng đến nhiều người, càng phải biết trọng danh dự, giữ gìn tư cách, hình ảnh, giá trị cá nhân đã được thừa nhận.

“Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”. (Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 30/6/2022). St

 

Vài nét về Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc


HĐNQ Liên hợp quốc trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, được thành lập năm 2006, là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên hợp quốc; là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép.

HĐNQ Liên hợp quốc có các nhiệm vụ: Thảo luận tình hình, đề cập các vi phạm quyền con người và đưa ra các nghị quyết, khuyến nghị về các vấn đề quyền con người, hàng năm có báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc; ngăn chặn các vi phạm quyền con người thông qua hợp tác và đối thoại; hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, tổ chức khu vực, cơ quan nhân quyền quốc gia, các tổ chức phi chính phủ…; thúc đẩy giáo dục, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực cho các nước; thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ và cam kết về quyền con người; kiểm định định kỳ việc thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của tất cả các nước về quyền con người dựa trên các thông tin khách quan, tin cậy, thông qua một cơ chế kiểm điểm định kỳ 4-5 năm một lần, trên cơ sở hợp tác và đối thoại.

HĐNQ Liên hợp quốc có 47 nước thành viên, phân bổ cân bằng theo khu vực địa lý (châu Á 13 thành viên, châu Phi 13, Đông Âu 6, Mỹ La tinh và Caribe 8, Tây Bắc Âu và các nước khác 7). Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc đều có quyền ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc. Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ bầu các thành viên HĐNQ Liên hợp quốc bằng bỏ phiếu kín.

Với vị trí và tầm quan trọng của mình, HĐNQ cùng với Hội đồng Bảo an trở thành những cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc được các nước quan tâm ứng cử nhiều nhất. Mục đích chính của các nước tham gia HĐNQ là đề cao đường lối, chính sách, thành tựu về quyền con người, thúc đẩy các ưu tiên, sáng kiến phù hợp với lợi ích của mình; tranh thủ thông tin, giải thích, vận động, đấu tranh, phản bác các quan điểm chỉ trích của các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc hoặc của các nước khác về tình hình nhân quyền ở nước mình.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 17/10

 


“Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân, gây bức xúc dư luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện, Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt và nghiêm khắc chấn chỉnh.

Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi con người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ. Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện. Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện. Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.

Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống về mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay”, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ. Kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm… thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” – một nét đẹp văn hóa độc đáo, đặc sắc của Quân đội trong thời đại Hồ Chí Minh.St

 

“NHỮNG NGƯỜI LỠ ĐI LẦM ĐƯỜNG MÀ BIẾT TRỞ VỀ VỚI TỔ QUỐC THÌ DÂN VIỆT NAM SẴN SÀNG HOAN NGHÊNH”

 


Đây là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống khoan dung, độ lượng của dân tộc Việt Nam khi Người trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài ngày 16 tháng 7 năm 1947. Thời điểm này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Đây cũng là lúc xuất hiện các quan điểm trái chiều về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cần phải được định hướng cho thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nào cũng có những đảng phái với những quan điểm chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Song khi lợi ích chung của dân tộc bị lâm nguy thì các đảng phái phải đoàn kết để cứu nước. Do đó, sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam là thực hiện lợi ích chung của dân tộc. Nếu đảng phái nào lợi dụng sự khác nhau về quan điểm chính trị mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung. Song nhân dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc.

Tư tưởng nhân văn, nhân đạo Hồ Chí Minh đã thấu suốt trong các chủ trương, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách đối với tù, hàng binh. Truyền thống, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo không chỉ đối với những người Việt Nam lầm đường, lạc lối đi theo giặc, nay giác ngộ và trở về với Tổ quốc, mà được quân và dân ta đối xử khoan hồng, nhân đạo với cả những tù, hàng binh, những người đã mang bom, đạn đến tàn phá quê hương, cướp bóc tài sản, giết hại người già, phụ nữ và trẻ em vô tội. Lòng khoan dung, vị tha, độ lượng, chính sách khoan hồng, nhân đạo thể hiện sâu sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả vì con người, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả, chấp hành nghiêm chính sách đối với tù, hàng binh... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. St

 

SỐNG TÍCH CỰC

Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Minh trở về giúp bố mẹ quản lý một trang trại nông nghiệp. Nhân dịp địa phương phát động tháng thanh niên, anh đã tham gia hoạt động tình nguyện, đào đắp kênh mương nội đồng cùng đoàn viên, thanh niên trong xã. Hoạt động của Minh và các đoàn viên, thanh niên được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương ghi nhận, đánh giá cao; được lan tỏa trên phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên mạng xã hội. Bất ngờ, buổi tối hôm ấy, Minh nhận được tin nhắn qua Facebook của một người bạn học cùng phổ thông năm xưa, đang xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Điều đáng buồn là bạn Minh lại miệt thị việc làm tình nguyện của tuổi trẻ, cho rằng đó hoạt động vớ vẩn, chẳng được lợi lộc gì, là hình thức bóc lột sức lao động một cách có tổ chức. Cậu ta nói với Minh vẻ kiêu ngạo: “Chẳng đâu xa, như tôi đây này, học xong trung học thì đi xuất khẩu lao động. Giờ hằng tháng gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà, dựng cửa... Bên này, tôi cũng tham gia mấy hội nhóm của những người đi xuất khẩu lao động, nhưng chủ yếu là để chơi bời, giao lưu cho sướng. Tôi khuyên thật, bạn hết đi bộ đội rồi giờ về lại đi làm tình nguyện, chẳng được lợi lộc gì. Bạn nên thực tế hơn, dành thời gian cho việc kiếm tiền. Dẹp hết mấy cái tinh thần cộng đồng đi mới khá lên được”. Thấy quan điểm, thái độ và hành động của bạn thay đổi nhiều so với trước đây, Minh lặng lẽ tìm hiểu qua người thân của bạn ở quê nhà và vào Facebook của bạn mới biết, người bạn đi lao động ở nước ngoài được một thời gian nhưng đã bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng. Sang nước ngoài, bạn của Minh chỉ làm công việc chân tay, thu nhập khiêm tốn nhưng trong sinh hoạt thì lại tỏ ra ăn chơi, khoe mẽ. Thậm chí, vì hồ đồ, nhận thức chính trị thấp nên cậu ta còn đăng những video kích động bạo lực của thanh niên nước ngoài tụ tập, chống đối chính quyền... Thấy vậy, Minh vội kết nối cuộc gọi (qua internet) để tâm tình, khuyên nhủ bạn: “Bạn hãy nhớ rằng, dù ở đâu bạn cũng là người Việt Nam, cũng chảy trong mình dòng máu của con Lạc, cháu Hồng. Ngày trước, mẹ bạn và mẹ tôi cùng đi thanh niên xung phong. Họ đã hy sinh lợi ích của bản thân để xây dựng đất nước. Đó là chưa kể, trong chiến tranh, thế hệ cha anh chúng ta hàng triệu người đã không tiếc máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều người đã mãi mãi nằm lại hoặc để lại một phần máu thịt nơi chiến trường để chúng ta có được hòa bình, độc lập như hôm nay. Họ đâu nề hà đến lợi ích của bản thân...”. Minh nói thêm: “Tôi và bạn mỗi người một công việc, một lý tưởng. Bạn đi lao động ở nước ngoài, tôi làm kinh tế ở quê hương nhưng chúng ta không được phung phí tuổi trẻ vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Quan trọng là đừng để bị ảnh hưởng, lôi kéo bởi những người xấu, những tư tưởng không tích cực. Điều đó không chỉ gây hại cho bản thân, gia đình, cộng đồng mà có thể còn vi phạm pháp luật. Bạn cần nhớ rằng, chúng ta còn trẻ, ngoài lao động để nuôi sống bản thân, chúng ta phải có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, gần nhất là với quê hương, thôn xóm...”. Nghe Minh phân tích, cậu bạn chỉ im lặng rồi tắt máy. Ít lâu sau, Minh thấy trên Facebook, bạn đã gỡ bỏ những video từng chia sẻ, thay vào đó là tấm hình cũ từ hồi học phổ thông. Trong ảnh, cậu bạn cười tươi đứng cạnh Minh và nhóm tình nguyện viên tại một công trình thanh niên. Đây là công trình cả nhóm thực hiện khi tham gia "Ngày thứ bảy xanh" do nhà trường phát động năm nào...

SỐNG TÍCH CỰC

Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Minh trở về giúp bố mẹ quản lý một trang trại nông nghiệp. Nhân dịp địa phương phát động tháng thanh niên, anh đã tham gia hoạt động tình nguyện, đào đắp kênh mương nội đồng cùng đoàn viên, thanh niên trong xã. Hoạt động của Minh và các đoàn viên, thanh niên được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương ghi nhận, đánh giá cao; được lan tỏa trên phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên mạng xã hội. Bất ngờ, buổi tối hôm ấy, Minh nhận được tin nhắn qua Facebook của một người bạn học cùng phổ thông năm xưa, đang xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Điều đáng buồn là bạn Minh lại miệt thị việc làm tình nguyện của tuổi trẻ, cho rằng đó hoạt động vớ vẩn, chẳng được lợi lộc gì, là hình thức bóc lột sức lao động một cách có tổ chức. Cậu ta nói với Minh vẻ kiêu ngạo: “Chẳng đâu xa, như tôi đây này, học xong trung học thì đi xuất khẩu lao động. Giờ hằng tháng gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà, dựng cửa... Bên này, tôi cũng tham gia mấy hội nhóm của những người đi xuất khẩu lao động, nhưng chủ yếu là để chơi bời, giao lưu cho sướng. Tôi khuyên thật, bạn hết đi bộ đội rồi giờ về lại đi làm tình nguyện, chẳng được lợi lộc gì. Bạn nên thực tế hơn, dành thời gian cho việc kiếm tiền. Dẹp hết mấy cái tinh thần cộng đồng đi mới khá lên được”. Thấy quan điểm, thái độ và hành động của bạn thay đổi nhiều so với trước đây, Minh lặng lẽ tìm hiểu qua người thân của bạn ở quê nhà và vào Facebook của bạn mới biết, người bạn đi lao động ở nước ngoài được một thời gian nhưng đã bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng. Sang nước ngoài, bạn của Minh chỉ làm công việc chân tay, thu nhập khiêm tốn nhưng trong sinh hoạt thì lại tỏ ra ăn chơi, khoe mẽ. Thậm chí, vì hồ đồ, nhận thức chính trị thấp nên cậu ta còn đăng những video kích động bạo lực của thanh niên nước ngoài tụ tập, chống đối chính quyền... Thấy vậy, Minh vội kết nối cuộc gọi (qua internet) để tâm tình, khuyên nhủ bạn: “Bạn hãy nhớ rằng, dù ở đâu bạn cũng là người Việt Nam, cũng chảy trong mình dòng máu của con Lạc, cháu Hồng. Ngày trước, mẹ bạn và mẹ tôi cùng đi thanh niên xung phong. Họ đã hy sinh lợi ích của bản thân để xây dựng đất nước. Đó là chưa kể, trong chiến tranh, thế hệ cha anh chúng ta hàng triệu người đã không tiếc máu xương cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều người đã mãi mãi nằm lại hoặc để lại một phần máu thịt nơi chiến trường để chúng ta có được hòa bình, độc lập như hôm nay. Họ đâu nề hà đến lợi ích của bản thân...”. Minh nói thêm: “Tôi và bạn mỗi người một công việc, một lý tưởng. Bạn đi lao động ở nước ngoài, tôi làm kinh tế ở quê hương nhưng chúng ta không được phung phí tuổi trẻ vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Quan trọng là đừng để bị ảnh hưởng, lôi kéo bởi những người xấu, những tư tưởng không tích cực. Điều đó không chỉ gây hại cho bản thân, gia đình, cộng đồng mà có thể còn vi phạm pháp luật. Bạn cần nhớ rằng, chúng ta còn trẻ, ngoài lao động để nuôi sống bản thân, chúng ta phải có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, gần nhất là với quê hương, thôn xóm...”. Nghe Minh phân tích, cậu bạn chỉ im lặng rồi tắt máy. Ít lâu sau, Minh thấy trên Facebook, bạn đã gỡ bỏ những video từng chia sẻ, thay vào đó là tấm hình cũ từ hồi học phổ thông. Trong ảnh, cậu bạn cười tươi đứng cạnh Minh và nhóm tình nguyện viên tại một công trình thanh niên. Đây là công trình cả nhóm thực hiện khi tham gia "Ngày thứ bảy xanh" do nhà trường phát động năm nào...

KHUYẾT ĐIỂM-CHỦ QUAN!


 

    “Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan”.

    Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi”, bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân dân, số 1672, ngày 11 tháng 10 năm 1958.

    Trong hoàn cảnh ngành nông nghiệp đứng trước nhiều thách thức, hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất tại nhiều địa phương trên cả nước. Qua nghe báo cáo và thực tế kiểm tra, Bác nhận thấy nhân dân và các cán bộ thấy lúa tốt thì ít săn sóc, thấy sâu nhiều thì ngại khó, đấy là một sự chủ quan hết sức nguy hiểm, Người đã viết bài để kịp thời nhắc nhở, phê bình và chấn chỉnh cán bộ và nhân dân không được chủ quan coi thường sâu bệnh, hạn hán để có được vụ mùa thắng lợi.

    Nếu cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Đặc biệt đối với những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng... Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường.

    Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả, để từ đó không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Mặt khác, phải đề cao ý thức tự chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.

    Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải luôn rèn luyện và thực hành tốt tính sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể, phải mắt thấy, tay sờ, tai nghe... nhất là trong chiến đấu. Có như vậy mới biết địch, biết ta, mới đưa ra được cách đánh phù hợp nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều nhất vũ khí, sinh lực địch, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân để giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sắc son lời thề danh dự “... thắng không kiêu, bại không nạn, gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, “nhiệm vụ vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. St


  

BIỂU HIỆN THỨ BẢY VÀ THỨ TÁM CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN CẦN ĐẤU TRANH

         Thứ bảy là: Cục bộ, bè phái,lợi ích nhóm để chiểm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà Nước, quy định của Đảng, ảu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vj.

        Thứ tám là: Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết,thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

VTT (St)