Thứ Hai, 17 tháng 10, 2022

TÔN GIÁO KHÔNG THỂ ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT


Gần đây trên một vài trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, thường viện dẫn một số trường hợp công dân Việt Nam theo các tôn giáo vi phạm pháp luật bị các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp xử lý, để từ đó quy chụp nói rằng: “Việt Nam đàn áp tôn giáo”. Đây là một sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế, được tất cả những người có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, cụ thể như sau: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với việc khẳng định trong Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các luật, nghị định, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật.
Ở Việt Nam có hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động, với hơn 26 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số Việt Nam… Cùng với việc công nhận tư cách pháp nhân, mở mang cơ sở thờ tự, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng đường hướng hoạt động tiến bộ theo tinh thần: Gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, ủng hộ và tích cực tham gia góp phần vào công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những đối tượng mà một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam nhắc đến họ không phải bị bắt, bị đưa ra xét xử vì lý do tôn giáo mà là họ đã lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân. Một thực tế cần nhắc lại rằng, không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới, giáo dân trước hết là công dân. Trước khi thực hiện lời răn dạy của chúa, đức phật và các đấng tối cao họ phải có bổn phận thực hiện và chấp hành đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Không ai được phép lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị chống pháp Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tôn giáo không thể đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật. Giáo dân trước hết là công dân, mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Khi phạm vào các tội được quy định trong pháp luật, thì dù công dân đó có theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, theo tôn giáo nào đều chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng. Tự do tôn giáo không thể bị đánh lận với những đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phạm pháp. Ở Việt Nam không có chuyện đàn áp vì lý do tôn giáo, mà chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam bị xử lý mà thôi.
TTVC
a

Bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc

Lợi dụng xã hội thông tin mở và đa dạng hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta. Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực. Cạm bẫy từ những “bả thông tin” Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin". Bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được. Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)... Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp. Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta... Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ. Đừng tự biến mình thành “cục máu đông” Trong buổi nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10-10-1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi”. Có thể thấy, việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn. Do đó, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đủ tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc, bịa đặt chính là một yêu cầu để cán bộ, đảng viên không tự biến mình thành một “cục máu đông” trong đơn vị, tổ chức. Trước những thông tin bịa đặt, có những cán bộ, đảng viên suy nghĩ một cách giản đơn rồi chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát trong cộng đồng. Vô hình trung những thông tin này có vỏ bọc vững chắc hơn vì nó được nói ra từ những cán bộ, đảng viên có trách nhiệm. Mảnh đất sống màu mỡ nhất của thông tin xấu, độc chính là dư luận. Nếu như không bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận thông tin thì cán bộ, đảng viên sẽ mắc bẫy và tiếp tay, lan truyền những thông tin xấu, độc của các đối tượng chống phá. Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ. Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau: Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc. Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị. Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam./.

Nghiên cứu, sản xuất hệ thống chỉ huy điều khiển ở Việt Nam

Với sự phát triển không ngừng của vũ khí, trang bị kỹ thuật, nhiều thế hệ vũ khí mới ra đời có hỏa lực mạnh, tầm bắn xa, độ chính xác và khả năng cơ động cao được sử dụng với số lượng ngày càng nhiều đã tạo ra những thay đổi về chất trong tác chiến, thực hành chiến đấu. Trong quá trình chỉ huy điều hành, yếu tố thời gian đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đặt ra yêu cầu rất cao đối với người chỉ huy để xử lý kịp thời, chính xác với lượng thông tin lớn trong khoảng thời gian rất ngắn. Những năm gần đây, việc ứng dụng các phương tiện tự động hóa vào thực tiễn chỉ huy, điều hành trong quân đội của nhiều nước đã chuyển sang giai đoạn tự động hóa chỉ huy và điều khiển mang tính tổ hợp cao, bao gồm các phương tiện cơ khí hóa, tự động hóa, nhất là công tác chỉ huy-tham mưu nhằm rút ngắn thời gian, tăng tốc độ và độ chính xác của quá trình xử lý thông tin. Hơn nữa, hệ thống tự động hóa chỉ huy tác chiến đóng vai trò quan trọng trong việc nắm quyền kiểm soát thông tin chiến trường, khả năng phản ứng nhanh. Bên cạnh đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định kết hợp với trí tuệ của người chỉ huy giúp nâng cao hiệu quả trong xây dựng quyết tâm và thực hành chiến đấu. Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện tấn công đường không hiện đại đã đặt ra yêu cầu về hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển. Ở nước ta, cuối thế kỷ 20, một số đơn vị đã tiếp nhận, khai thác các hệ thống từ đối tác nước ngoài; các đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Quốc phòng cũng đã nghiên cứu, phát triển, sản xuất các thiết bị thu thập và tự động hóa xử lý thông tin radar, như: Thiết bị KAAC-VN do Học viện Kỹ thuật Quân sự và đơn vị đối tác chế tạo; thiết bị KAAC-VQ do Ban quản lý Dự án VQ9801 (Quân chủng Phòng không-Không quân) chế tạo... Tuy nhiên, các sản phẩm này được nghiên cứu riêng lẻ, chưa sản xuất triển khai ở phạm vi rộng. Bên cạnh đó, Quân chủng Hải quân, Cảnh sát biển cũng đã đầu tư mua sắm, tiếp nhận các hệ thống tự động hóa chỉ huy từ đối tác nước ngoài. Tuy vậy, các sản phẩm này có những hạn chế như khó có khả năng mở rộng (ví dụ kết nối chủng loại khí tài mới), khó làm chủ được hệ thống và tính bảo mật không cao. Thực hiện nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel (nay là Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel-VHT) đã nghiên cứu thiết kế, triển khai, đưa vào sử dụng thành công hệ thống cảnh giới và bảo vệ vùng trời quốc gia VQ1-M. Hệ thống này được Bộ Quốc phòng nghiệm thu, đưa vào trang bị cho một số đơn vị thay thế các trang bị truyền thống. Đây là bước chuyển đổi, phát triển mới trong lĩnh vực quản lý vùng trời, nâng cao nhiệm vụ cảnh giới, thông báo, báo động sớm tình hình trên không cho tác chiến phòng không-không quân trong tình hình mới. Sau hệ thống VQ1-M, VHT tiếp tục phối hợp nghiên cứu thiết kế, xây dựng hệ thống tự động hóa chỉ huy, điều hành tác chiến phòng không-không quân theo hướng hiện đại, đồng bộ từ sở chỉ huy quân chủng đến các đơn vị hỏa lực (hệ thống VQ2). Do VQ2 là một hệ thống lớn, mới, phức tạp cả về nội dung quy mô, kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là các bài toán về chiến thuật, tham mưu tác chiến, vì vậy, hệ thống được nghiên cứu xây dựng, triển khai và hoàn thành theo từng giai đoạn. Đến nay, hệ thống này đã được Bộ Quốc phòng nghiệm thu và đưa vào trang bị cho một số đơn vị. Hiện nay, VHT đang phối hợp với các đơn vị để nghiên cứu, xây dựng các hệ thống tự động hóa chỉ huy, tiến tới hình thành hệ thống tự động hóa chỉ huy toàn quân. Với những thành công, VHT là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu, làm chủ và triển khai hệ thống tự động hóa chỉ huy cho các đơn vị.

Bác bỏ những luận điệu phản động!

Nhân kỷ niệm 105 năm Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, trên các trang mạng xã hội của nhóm những người nhân danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam và các facebook cá nhân của những người “theo đóm”, “theo bả” của các thế lực thù địch đã đăng tải một số bài viết, với những luận điệu phản động, xuyên tạc sự thật. Trong đó, họ không chỉ phủ nhận ý nghĩa và giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà còn bẻ cong sự thật khi xuyên tạc việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản là sai lầm; cho rằng Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dẫn đến đất nước mất “bao năm nội chiến” và “chậm phát triển như ngày nay”. .. Trước những thông tin sai lệch, dối trá, bôi đen sự thật nhằm xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống phá Đảng và chế độ này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng: CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA MỞ ĐẦU MỘT THỜI ĐẠI MỚI TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI Càng có đội lùi của thời gian, chúng ta càng khẳng định rằng: Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười vẫn vẹn nguyên, trường tồn. 105 năm đã trôi qua (1917-2022), song sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc, làm rung chuyển cả thế giới cũng như việc cuộc cách mạng vĩ đại ấy đã mở ra con đường đưa các dân tộc thuộc địa, bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc; trong đó có Việt Nam ở Đông Nam châu Á là không thể phủ nhận! Đó chính là một cuộc Cách mạng mở đường, đúng như V.I Lênin đã khẳng định: “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu xây dựng nhà nước Xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1). Với Việt Nam, vào thập niên 1920, khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đang bôn ba trên hành trình tìm đường cứu nước, trải nghiệm và khảo sát các chế độ chính trị xã hội ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục, thì Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công. Không lâu sau, Quốc tế thứ III - Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin sáng lập ngày 2/3/1919 tại Mátxcơva (Liên Xô) đã “bắt đầu thực hiện khẩu hiệu vĩ đại nhất của Mác, khẩu hiệu tổng kết thực tiễn trong một thế kỷ của chủ nghĩa xã hội và của phong trào công nhân, khẩu hiệu biểu hiện bằng khái niệm: chuyên chính của giai cấp vô sản” . Ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đã giúp Người tìm thấy con đường để giải phóng dân tộc mình, nhân dân mình khỏi kiếp lầm than. Và thế là, như một sự lựa chọn của lịch sử, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ lựa chọn, bỏ phiếu cho Quốc tế thứ III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên - một trong những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, mà còn đồng thời lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản. Một hành trình hoạt động cách mạng về lý luận và thực tiễn, hình thành con đường cách mạng Việt Nam bắt đầu. Và cũng từ sự lựa chọn có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng này, sau đó, trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(2); “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(3) và “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4)… Khi những điều kiện cần và đủ đã chín muồi, Người đã không chỉ vận dụng những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để sáng lập một Đảng Mácxít - Lêninnít cách mạng chân chính; đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; cổ vũ, động viên và quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng; xây dựng căn cứ địa cách mạng… mà còn lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng, đón và chớp đúng thời cơ để vùng lên giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị của Nhật, Pháp và giành chính quyền về tay nhân dân. Với Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM DO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG TA VÀ NHÂN DÂN LỰA CHỌN LÀ ĐÚNG ĐẮN Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam những năm cuối thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít - Lêninnít để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa tên đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, của quyền con người mà trước đó “họ chưa bao giờ có được”… Thực tế cho thấy rằng, một ngày sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời chủ trì cuộc họp để giải quyết những công việc cấp bách. Giữa bộn bề công việc và ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, 6 nhiệm vụ cấp bách mà Người cùng Chính phủ quyết liệt triển khai thực hiện đều không ngoài những quyết sách nhằm chống thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được và bắt đầu kiến thiết đất nước. Trong những ngày tháng cam go đó, không thể không nhắc đến những nhiệm vụ chính trị quan trọng được triển khai thành công như: Xúc tiến tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, bỏ phiếu kín; soạn thảo và sớm thông qua tại Quốc hội khóa I để Việt Nam có một bản Hiến pháp dân chủ, công bình của các giai cấp - Hiến pháp 1946; thực hiện công cuộc xóa nạn mù chữ; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để từng bước xóa nạn đói; tiến hành các hoạt động ngoại giao mềm dẻo, hòa hoãn với kẻ thù, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ”, thôn tính đất nước của quân Tưởng và Pháp (hòa với Tưởng để tập trung đánh Pháp; hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng về nước)… Trong điều kiện vừa giành được độc lập, phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức, những quyết sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng (đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11/1945) và Chính phủ không chỉ mang lại cho người dân Việt Nam những lợi ích thiết thực của độc lập, tự do, mà còn góp phần củng cố, nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Vì thế, không có việc chế độ dân chủ cộng hòa ở Việt Nam khi đó là “phi dân chủ”, là thực hiện chuyên chính vô sản nên “đã tàn sát” những người yêu nước trong các đảng phái khác, “gây đổ vỡ lớn trong dân tộc” như sự bịa đặt của Tâp hợp dân chủ đa nguyên. Thực tế, những công việc mà chính quyền cách mạng triển khai đều không ngoài thực thi nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của người dân cả nước. Nếu Việt Nam thực sự “phi dân chủ”, thì chắc chắn không thể có cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Hơn nữa, nếu không có dân chủ, nếu Đảng thực sự “độc tài và chuyên quyền” như các thế lực thù địch vu khống, thì cũng không thể có khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng, củng cố trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức cùng các tầng lớp lao động khác trở thành động lực chủ yếu của cách mạng được tập hợp trong các hình thức Mặt trận từ năm 1930 đến nay (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) được. Có một sự thật cũng cần phải khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam chắc chắn không phải là “cuộc nội chiến Bắc - Nam” và cuộc trường chinh kháng chiến đó cũng không phải là sự áp đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng như các luận điệu phản động, xuyên tạc tung lên mạng xã hội. Mà chỉ có một sự thật- đó là một cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cho khát vọng “thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”, cho niềm tin tưởng “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” và “đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(5)… dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc quy chụp cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “nội chiến” chính là một trong những chiêu trò đổi trắng thay đen của các nhà “rân chủ”, ngáo “dân chủ tư sản”. Luận điệu xuyên tạc này không phải là sự thật, mà sự thật là nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, sau 21 năm kiên cường kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ, miền Nam đã được giải phóng, cả nước đã thống nhất vào mùa Xuân năm 1975. Như vậy là, nhân dân Việt Nam yêu nước đã đồng tâm, hợp lực và đoàn kết để chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc mình; cho phẩm giá làm người của chính mình như mình lựa chọn, chứ không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam “sai lầm từ đầu”, “mê muội rập khuôn theo Liên Xô”, “đi theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ”, đã “áp đặt cuộc nội chiến” như sự quy chụp và vu khống của các thế lực thù địch. SỰ THẬT LÀ MINH CHỨNG SINH ĐỘNG NHẤT Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước (1945-1975). Ước mơ về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, "non sông liền một dải" cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực. Những hồi ức "ngày Bắc đêm Nam", "kẻ Bắc người Nam" khi đất nước bị chia đôi đã trở thành quá khứ. Đi cùng đó, chế độ “Việt Nam cộng hòa” thân Mỹ cũng không còn hiện diện. Sự thật là, sau khi cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, thì hòa bình, độc lập, tự do và một đất nước Việt Nam khởi sắc, ngày một phát triển sau những năm dài chiến tranh tàn khốc đã mang lại cho mỗi người dân trên mọi miền của Tổ quốc một đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn; năm sau tốt hơn năm trước. Đặc biệt, sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đồng thời, cũng chứng minh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, liên minh chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của mình, quyết tâm đi tới một tương lai hạnh phúc tươi đẹp, đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa”(6) là hoàn toàn đúng đắn! Cùng với đó, cũng cần phải khẳng định rằng, với thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc “đem người nô lệ thành người tự do” vào mùa Thu năm 1945 cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng, nhân dân Việt Nam đã khẳng định được nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; đồng thời, cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình, mở đầu cho những thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh sau đó. Đặc biệt, một sự thật cũng không thể phủ nhận nữa là, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội hơn 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng và phát triển; không chỉ vững vàng, bản lĩnh, kiên định trước những biến động của tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, mà còn và luôn xứng đáng là Đảng cầm quyền, độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam - lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 2013 đã hiến định. Trân trọng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - những cuộc cách mạng không chỉ ghi dấu mốc trong lịch sử của mỗi dân tộc mà còn là một mốc son trong lịch sử thế giới đương đại là không thể cãi bàn. Bởi rằng, trân trọng những hy sinh và cả những thành tựu của quá khứ cũng chính là trân trọng nguồn sức mạnh nội lực của chính mình, dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng. Nên là, những luận điệu phản động cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga “đã sụp đổ tại chính quê hương của nó”, đã “chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng” và Việt Nam đi theo “vết xe đổ đó là sai lầm” thật thiển cận. Không phải Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là chủ nghĩa Mác - Lênin đã “hết thời”, mà đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực vì những lý do chủ quan và khách quan của nó. Đồng thời, cũng không phải vì những khó khăn, thách thức đang tiếp tục phải đối diện trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà có thể quy chụp rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đưa đất nước đến nghèo đói, đưa đất nước “đi vào ngõ cụt”. Công nhân làm việc tại Nhà máy sản xuất ôtô VinFast. Một Việt Nam "chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" là minh chứng khách quan sinh động nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc! Vì thế, dù nhân danh ai và tổ chức nào, thì khách quan cũng không thể xuyên tạc, bẻ cong được giá trị thời đại, có tính định hướng lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũng như sự lựa chọn con đường cứu nước duy nhất đúng, phù hợp xu thế thời đại, phù hợp điều kiện, vị thế địa chính trị Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tế, việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam là sự thật và sự thật đó cho thấy các nhà “rân chủ” vừa hay xuyên tạc vừa hay mơ hão! Chắc chắn, ở Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng đối lập; không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và thực thi nền dân chủ tư sản, nên giấc mơ “Việt Nam dân chủ, tự do tư sản” của các nhà “rân chủ” chỉ còn là ảo vọng!

ĐỪNG ĂN CHÁO ĐÁ BÁT!

     Gần đây tôi đọc được khá nhiều những lời chửi bới chế độ, chửi bới nhà nước Việt Nam, lăng mạ những người đã có công sáng lập ra cái chế độ này, từ miệng lưỡi của những con người có học, được chính cái chế độ mà họ đang chửi nuôi dưỡng và đào tạo.
     Chế độ nào cũng có cái ưu việt cũng như sự hạn chế. Con người ai cũng có lúc đúng lúc sai. Tôi cũng như bạn, không ngoại lệ bởi chúng ta không phải là thánh thần. Chúng ta có quyền chê bai, phê phán và công bằng thì chúng ta cũng phải tự vấn, rằng mình đã làm gì cho cái chế độ ấy tốt đẹp hơn hay chính mình cũng góp phần làm cho nó xấu đi ?
     Ai cũng vậy thôi, đã làm là sẽ có sai lầm. Nhưng tôi thật bất bình, chưa nói là khinh bỉ khi thấy một con người có học hẳn hoi, miệt thị, chửi rủa, gọi những người đã khuất, những người đáng tuổi cụ, tuổi ông chúng ta là THẰNG. Thật là láo, là mất dạy, có học mà vô văn hóa, không thể chấp nhận được!
     Bố tôi hay nói với mọi người: " Người ta cứ chửi chế độ, nhưng tôi thì biết ơn chế độ này lắm. Tôi xuất thân là bần cố nông, mấy đời làm thuê, chỉ được học vài ba chữ nho của ông đồ làng... Mỗi lần đi làm qua cổng trường đại học Bách khoa, tôi cứ ước ao bao giờ con mình được vào đây học. Thế rồi, tôi đã có 3 đứa con được vào học ở những trường đại học danh giá nhất - 2 đứa học Đại học Tổng Hợp, 1 đứa học Đại học sư phạm (vào những năm 1975 - 1981). Thử hỏi nếu không có chế độ này thì đời thằng làm thuê như tôi làm sao con cái được học hành như thế?".
     Tôi viết những dòng này với một gửi gắm thật lòng: Hỡi những ai đã được ra nước ngoài học nghề, học đại học, nghiên cứu sinh, lao động... thì đừng nên to họng ra rả chửi bới chế độ này, chửi bới những người đã khuất, bởi chính cái chế độ ấy, những con người ấy đã tạo điều kiện cho các người ung dung bước lên máy bay, đàng hoàng học tập, lao động ở những đất nước văn minh để đổi đời mà không mất một đồng xu, cắc bạc nào đấy.
Các người học xong, thành tài đã đền đáp gì cho đất nước này?
     Tôi không ưa gì một chế độ đầy bất công và tham nhũng. Nhưng tôi cũng không tán thành cái thói vơ đũa cả nắm, chửi càn và phủ nhận tất cả!
ĐỪNG BIẾN MÌNH THÀNH KẺ ĂN CHÁO ĐÁ BÁT.
     P/s: Bất cứ một gia đình nào cũng có người xấu người tốt, và XH nào cũng vậy. Cho nên trước tiên mỗi người tự tôi luyện bản thân và đối xử chân tình với mọi người, thì gia đình, XH sẽ có nhiều người tốt, và đó cũng là sự nhân bản./.
Yêu nước ST.

Đấu tranh, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống

Văn hóa truyền thống là hồn cốt của dân tộc, được coi như giá trị thương hiệu, quyền lực mềm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, tiếp biến văn hóa của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá văn hóa truyền thống, sử dụng không gian mạng để du nhập, cổ xúy cho văn hóa ngoại lai, độc hại. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những tinh hoa, giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã được hun đúc, vun đắp và trở thành truyền thống quý báu, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”(1). Những giá trị văn hóa truyền thống này đã cố kết những người dân nước Việt thành một cộng đồng thống nhất trong mọi hoạt động sống, lao động, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đấu tranh, bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa truyền thống. Sự chống phá này đã tạo ra hệ lụy không hề nhỏ, là một thứ “giặc nội xâm” đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống của dân tộc. Xét về mục tiêu, nội dung và lực lượng tiến hành của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa bao gồm hai điểm chính, đan xen, hỗ trợ và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó là: Thứ nhất: Truyền bá, tiêm nhiễm các sản phẩm văn hóa ngoại lai có tính chất xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất của mỗi người dân; từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một bộ phận nhân dân nhận thức không đầy đủ về trách nhiệm cộng đồng; chạy theo lợi ích vật chất, chỉ biết đến “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Thứ hai: Từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, coi văn hóa là tự do sáng tạo, không cần tính định hướng và xa rời chính trị; từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối từ xã hội, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để tập hợp lực lượng phá ta từ bên trong nội bộ Đảng và xã hội ta. Đối tượng tác động mà chúng hướng tới là quần chúng nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ sinh ra trong thời bình, đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách, dễ dàng chạy theo cái mới, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người. Về hình thức và thủ đoạn tiến hành: Trên nền tảng của mạng xã hội, các thế lực thù địch đã thành lập các website, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt; lập hàng nghìn blog, trang Facebook, Twitter, YouTube, Zalo... để livestream, tung clip, đăng tải những nội dung xuyên tạc, bài xích; tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tuyến hoặc qua tiếp xúc với các cá nhân, cơ quan trong nước. Các kênh phát thanh, truyền hình trên không gian mạng được chúng tạo giao diện như thật, mô phỏng theo các kênh chính thống của Đảng, Nhà nước nhằm lập lờ, lộn sòng đen trắng, nhào nặn trộn lẫn những thông tin đúng-sai, thật-giả, đưa thông tin giật gân, lấp lửng giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người, gây tâm lý bi quan, hoài nghi, hoang mang trong dư luận. Trong tập hợp lực lượng, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường dùng nhiều thủ đoạn rất nham hiểm, thường qua 4 bước gồm: 1. Đồng cảm: Chúng đóng vai “một người lạ” để tiếp xúc với một bộ phận người dân, những người đã từng vi phạm pháp luật, rồi giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng. 2. Tôn vinh: Chúng vờ coi những người có tư tưởng bất mãn, chống đối ở lĩnh vực văn hóa là những người đúng đắn, cấp tiến, đại diện của nền văn hóa hiện đại, rồi tổ chức tọa đàm, livestream để tôn vinh hoặc trao những “giải thưởng”. 3. Dụ dỗ, mua chuộc: Sau khi vờ đồng cảm và tôn vinh, các thế lực thù địch sẽ tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc đối tượng mà chúng hướng tới. Sự dụ dỗ, mua chuộc được thực hiện bằng cả vật chất, tinh thần cũng như những viễn cảnh tốt đẹp do chúng tạo dựng lên. 4. Khống chế: Sau khi bị dụ dỗ, mua chuộc, những đối tượng này sẽ bị các phần tử phản động từng bước khống chế, nói và làm theo ý muốn của chúng. Để góp phần đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống dân tộc trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về mục tiêu, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để thực hiện tốt biện pháp này, trước hết cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cơ quan, tổ chức trên lĩnh vực văn hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức hành chính các cấp cần xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp, chú ý đến tính đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ các nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đầu tư vào dòng chủ lưu của văn hóa cách mạng để làm nòng cốt và dẫn dắt, truyền cảm hứng chủ đạo trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn, tình cảm trong sáng, lành mạnh, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, giáo dục ý thức sử dụng và xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Phát triển và ứng dụng dịch vụ internet, không gian mạng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, mang lại nhiều giá trị đích thực. Song, những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý; đòi hỏi cần đẩy mạnh thực hiện những giải pháp công nghệ như: Cung cấp thông tin chính thống; bảo vệ thông tin cá nhân; kỹ thuật dự báo, phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, hiệu quả, có tính răn đe cao đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động trên không gian mạng. Ba là, chủ động hợp tác quốc tế, thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội với các nước trên thế giới. Cơ quan chức năng cần chủ động hợp tác quốc tế, nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội của các tài khoản, máy chủ ở nước ngoài để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam trên mạng xã hội như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới. Chủ động hợp tác, nắm bắt và yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, YouTube, Facebook, Twitter... cần tuân thủ pháp luật Việt Nam khi tham gia hoạt động trên đất nước ta. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các dịch vụ mạng xã hội để gỡ bỏ các clip, bài viết với nội dung xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống Việt Nam trên không gian mạng. Văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, bài xích văn hóa truyền thống do các thế lực thù địch tiến hành trên không gian mạng là hết sức cần thiết, góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh.

AI ĐANG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM VỀ NHÂN QUYỀN?

 Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở. Đầu tiên, họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nhưng họ lại đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”. Đồng thời, họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...

Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.

Như vậy, việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp của nhân loại.

“NÚP BÓNG VĂN HÓA” – XUYÊN TẠC LỊCH SỬ QUA PHIM ẢNH

 Chiều nay, 6/10, bộ phim Little Women (tựa Việt: Ba chị em) do Hàn Quốc sản xuất đã chính thức bị Netflix xóa khỏi ứng dụng tại Việt Nam sau khi nhận được yêu cầu từ Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cách đây ít ngày. Lý do bị gỡ là do nội dung phim, cụ thể là ở tập 3 và tập 8 của phim nhắc đến yếu tố chiến tranh và xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Lại một lần nữa, câu chuyện núp bóng văn hóa, xuyên tạc lịch sử tiếp tục nổi lên.

Khoảng một năm trước, cộng đồng mạng đã từng dậy sóng với bộ phim Quân đội Vương Bài của Trung Quốc khi bộ phim này có nội dung xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Và câu hỏi luôn được đặt ra chính là: có hay không chuyện phim ảnh liên quan, ảnh hưởng đến lịch sử chính trị? Câu trả lời là có hay không, chúng ta hãy cùng xem xét lại một chút. Những bộ phim gần đây của Trung Quốc, đặc biệt là từ khi Trung Quốc cho ban hành bản đồ hình “đường lưỡi bò” như Người tuyết bé nhỏ, Lấy danh nghĩa người nhà, Một đời một kiếp… đều chèn hình ảnh bản đồ hình “đường lưỡi bò” vào các tập phim, để ý một chút sẽ không khó để nhận ra.

Dù vô tình hay cố ý, những bộ phim như vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chủ quyền và lịch sử Việt Nam, tác động đến một bộ phận người dân, đặc biệt là lớp thanh niên trẻ yêu mến những thần tượng Trung Quốc, Hàn Quốc… Hệ quả chính là một số bạn trẻ vì đam mê thần tượng một cách mù quáng mà mặc kệ lịch sử chủ quyền đất nước bị xuyên tạc, làm sai lệch, ủng hộ phim chiếu, bênh vực thần tượng, lập luận rằng “phim ảnh và chính trị là hai lĩnh vực không liên quan đến nhau”. Thử hỏi rằng, một bộ phim của một đất nước đang lăm le chiếm biển, đảo của Việt Nam, trong phim còn có hình ảnh bản đồ sai lệch như vậy thì có nên ủng hộ không? Tuyên truyền về bản đồ, lãnh thổ đất nước sai trái như vậy thì có liên quan đến chủ quyền của đất nước ta hay không, có liên quan đến chính trị hay không? Thần tượng không có gì sai, nhưng đừng mù quáng đến mức đi ngược lại với lịch sử, văn hóa và lợi ích của đất nước, của dân tộc.

Đứng trước nguy cơ xâm lăng qua phim ảnh giải trí như vậy, chúng ta cần có những biện pháp cần thiết để ngăn chặn. Cần giáo dục cho thanh thiếu niên về lòng yêu nước ngay từ khi còn nhỏ, khi còn là những đứa trẻ mới bắt đầu biết thế nào là đất nước, là yêu nước, là đồng bào, là dân tộc. Chú trọng trong đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử để biến lịch sử thành một môn học thú vị, kích thích sự tìm tòi, khám phá lịch sử ở lớp trẻ để “dân ta phải biết sử ta”, tránh để rơi vào tình trạng tiếp cận những văn hóa phẩm xuyên tạc lịch sử nước nhà mà không hề hay biết. Tuyên truyền cho người dân biết về mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, chủ quyền đất nước, lịch sử dân tộc, để người dân chủ động tẩy chay những văn hóa phẩm độc hại không cần thiết. Nghiên cứu, sản xuất những bộ phim về lịch sử Việt Nam có chất lượng và thu hút người xem…

Phim ảnh là để giải trí, nhưng cũng là một công cụ hữu hiệu để tấn công vào văn hóa, để lâu dần sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của cả một thế hệ!

LÊ QUỐC QUÂN SẼ LÀ “TRẠNG SƯ”?

 Từ khi ra tù về tội “Trốn thuế”, gần đây Lê Quốc Quân tiếp tục cho thấy hình ảnh về một kẻ đội lốt dân chủ, thành viên của tổ chức kh.ủng bố Việt Tân khi tiếp tục đăng tải, chia sẻ các bài viết nhằm vào chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, xuyên tạc sai sự thật và bôi lem hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mới đây, Lê Quốc Quân có đăng tải về bài viết cùng hình ảnh cho rằng “sau 18 năm được cấp thẻ và sau 10 năm không thể hành nghề, hôm nay tôi sẽ đốt Thẻ Luật sư này”. Thậm chí để tạo “sóng” dư luận Lê Quốc Quân còn không quên nhắn nhủ rằng anh sẽ “nguyện xin sẽ cố gắng hết sức mình để trở thành một Trạng sư đúng nghĩa mà không cần nó”. Đúng là trơ trẽn hết chỗ nói với Lê Quốc Quân, kẻ mà “Việt tân” gọi đó là “luật sư nhân quyền”. Đến danh nghĩa luật sư còn không đủ tư cách giờ Lê Quốc Quân lại muốn làm cả “Trạng sư”, phải chăng Lê Quốc Quân đang quá ảo tưởng về bản thân mình.

Là một luật sư người Công giáo núp bóng hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền để chuyên hỗ trợ pháp lý, hướng dẫn cách thức hoạt động cho những kẻ chống phá, gây rối an ninh, trật tự (phần lớn giờ cũng đã, đang ở trại giam như Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Lân Thắng, Trương Văn Dũng, Lê Dũng Vova, Nguyễn Tường Thuỵ…), vậy nhưng chính Lê Quốc Quân lại “gậy ông đập lưng ông” khi nghiên cứu về luật, sống vì luật nhưng cũng bị bắt, xử lý về hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, ngày 02/10/2013, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử và tuyên phạt Lê Quốc Quân 30 tháng tù về tội "Trốn thuế" theo quy định tại Ðiều 161, khoản 3, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Sau khi ra tù đến nay, Lê Quốc Quân không có nhiều hoạt động nổi lên so với một số anh em đồng nghiệp “dân chủ”, có lẽ một phần có lẽ cũng là vì anh đã nếm trải “mùi đời” trong trại giam về những hành vi vi phạm pháp luật và phần chính có lẽ anh đã thấy viễn cảnh của số anh em “dân chủ” hay “Việt tân” đang chuẩn bị lụi tàn và bị bắt, xử lý về các hoạt động chống phá đất nước. Giờ đây, Lê Quốc Quân chỉ biết hoài tưởng về cái mác “luật sư” vốn dĩ đã không còn cách đây gần 10 năm để đăng đàn cho rằng mình sẽ “đ.ốt” thẻ luật sư để thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận. Vậy nhưng Lê Quốc Quân quên đi rằng Thẻ Luật sư của anh giờ đ.ốt hay làm gì đi chăng nữa thì đâu có giá trị gì cho anh và anh em “dân chủ” đâu? Phải chăng đó chỉ là cách để Lê Quốc Quân đánh bóng cho rằng mình sẽ trở thành “Trạng sư” nhưng “Trạng sư” vi phạm pháp luật như anh thì liệu ai dám tìm đến nữa đây.

TIN GIẢ GÂY HẬU QUẢ THẬT

 “Tin giả nhưng hậu quả thật”, sự việc có liên quan đến Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) nhưng nhiều người lại nhầm lẫn đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín Sacombank. Và trong mấy ngày qua, nhiều người dân do đọc tin “nổi” trên mạng xã hội không chính xác nên đã thi nhau đến ATM rút tiền gây ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính – tiền tệ. Nguồn thông tin thiếu chính xác khiến nhiều người đang sử dụng một trong 2 ngân hàng này đã nhầm lẫn thương hiệu và đua nhau đi rút tiền vì sợ không còn tiền trong ngân hàng. Những tin không chính xác đã gây ra ảnh hưởng tới Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín Sacombank. Ngân hàng Sacombank đã buộc phải ra thông cáo đối với toàn thể người dân để tránh bị nhầm lẫn và ảnh hưởng đến chính sách tài chính của chính người dân đang gửi tiền tại đây.

Thông cáo của ngân hàng Sacombank cho rằng, hiện nay trên mạng xã hội đang lan truyền thông tin về ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn SCB dẫn đến hiện tượng một số người dân rút tiền trước hạn. Để tránh nhầm lẫn, quý khách hàng, quý cổ đông, hủy đối tác vui lòng lưu ý Sacombank và SCB là hai ngân hàng khác nhau. Việc ra thông cáo để người dân tránh bị nhầm lẫn trước các thông tin xấu trôi nổi trên mạng đã tác động đến chính người dân và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Ngay cả đối với ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn SCB, ngân hàng nhà nước khẳng định sẽ tăng cường đảm bảo sự an toàn không chỉ của người gửi tiền mà còn của mọi tổ chức tín dụng trong hệ thống. Một số đối tượng đã lợi dụng tình hình này để đăng tải, chia sẻ, phát tán hoặc bình luận với những thông tin giả thông tin sai sự thật gây Hoang Mang dư luận ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự. Cũng trong ngày hôm nay, Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh Kinh tế Bộ Công an đã phối hợp với công an tỉnh Hà Nam đã làm việc với đối tượng Nguyễn Kiên Quyết, vì đã có hành vi sử dụng tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Facebook đăng tải bình luận thông tin Thất Thiệt gây Hoang Mang dư luận đối với ngân hàng SCB.

Trước các thông tin không chính xác về các ngân hàng, người dân cần hết sức tỉnh táo để tiếp nhận những thông tin từ các cơ quan có thẩm quyền. Điều này sẽ tánh được hoang mang dư luận, tâm lý bất an của mọi người. 

GIA ĐÌNH ĐANG MUỐN “VIỆT TÂN” TẠO “SÓNG” CHO LÊ ĐÌNH LƯỢNG?

 Cách đây ít ngày trên trang của tổ chức “Việt Tân” có đăng tải bài viết cho rằng người nhà đã không được gặp Lê Đình Lượng trong chuyến thăm nuôi gần đây. Vẫn là những chiêu trò cũ khi ”Việt Tân” đã trích dẫn, thêu dệt những câu chuyện xuyên tạc sự thật, bôi lem, vu cáo về chủ trương, chính sách thăm người nhà phạm nhân, về các đồng chí làm nhiệm vụ quản lý tại trại giam Nam Hà. Thậm chí “Việt Tân” còn trích dẫn câu nói được cho là của Lê Đình Lượng khi đã nói với vợ của mình cách đây 2 tháng để làm tiêu đề bài viết khi cho rằng: “Nếu có một ngày, bố không được gặp gia đìn mknhf, thì gia đình mình nên biết, bố ở trong đang xảy ra chuyện rồi nhé”…

Vậy nhưng thêm một lần nữa những gì mà người nhà của Lê Đình Lượng và “Việt Tân” đăng tải cũng chỉ nhằm thêu dệt, tạo “sóng” để nhằm xuyên tạc, bôi lem về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và cá nhân các đồng chí làm nhiệm vụ quản lý tại trại giam Nam Hà. Đồng thời, qua đó nhằm thu hút sự quan tâm về cả vật chất, tinh thần cho gia đình Lê Đình Lượng - một chiêu trò mà bấy lâu nay thân nhân của những nhà ”dân chủ” vẫn tiến hành mà thôi.

Lê Đình Lượng, sinh ngày 10/12/1965, trú quán tại xóm 9, xã Hợp Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, là thành viên của tổ chức khủ.ng bố “Việt Tân”, là thành viên nhóm “No-U”. Ngày 24/7/2017, Lê Đình Lượng bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Nghệ An bắt khẩn cấp về hành vi “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại Điều 79, Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 16/8/2018 TAND tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và tuyên phạt 20 năm tù và phạt quản chế bị cáo 05 năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.

Có lẽ rằng với bản án nghiêm minh 20 năm tù giam, 05 quản chế kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù, việc thêu dệt những câu chuyện liên quan đến Lê Đình Lượng ở trong trại giam cũng chỉ là cách để cho gia đình Lê Đình Lượng mong muốn nhận được sự quan tâm từ các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí như “Việt Tân” - một tổ chức mà là nguyên nhân dẫn đến bản án nghiêm minh mà Lê Đình Lượng đã phải trả giá. Vậy nhưng đáng tiếc thay những ngày này “Việt Tân” chỉ quan tâm đến các “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam thông qua các bữa tiệc liên hoan linh đình ở trời Tây mà thôi. Vậy nên cái giá của những kẻ quay lưng lại với Tổ quốc sẽ không tốt đẹp gì đâu.

NỖ LỰC “CHỐNG PHÁ” VIỆT NAM CỦA CÁC NHÀ “DÂN CHỦ” ĐÃ THẤT BẠI THẢM HẠI

 Với 145/189 phiếu đồng ý tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77 tại New York, Mỹ vào ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trở thành một trong 14 thành viên mới đã trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần thứ 2 Việt Nam trúng cử vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 và với lần trúng cử lần này đã tiếp tục minh chứng cho những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong đảm bảo quyền con người trên mọi lĩnh vực cũng như vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy, bảo đảm quyền con người đã được thế giới ghi nhận, đánh giá cao.

Với kết quả là thành viên duy nhất trong các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và là một trong 14 thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với số phiếu đồng ý cao đã phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền của một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí. Thậm chí như page Việt Nam Thời Báo đã từng đề cập, một số tổ chức dưới danh nghĩa “nhân quyền quốc tế” và một số tổ chức chống phá Việt Nam như “Việt Tân”, Á Châu Tự Do-RFA… đã từng đăng tải các “thư ngỏ”, “thông cáo”, “báo cáo” để gửi các cá nhân, tổ chức quốc tế để ngăn cản Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồn Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Không ít vị nghị sĩ, tổ chức gắn nhãn “nhân quyền quốc tế” thiếu thiện chí của các nước phương Tây còn lợi dụng vấn đề này để gặp gỡ với các đối tượng hoạt động “dân chủ”, thâb nhân các phạm nhân đang thi hành án về các tội tuyên truyền chống phá Nhà nước để từ đó đưa ra những thông cáo, báo cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Vậy nhưng những chiêu trò của các cá nhân, tổ chức gắn mác “dân chủ, nhân quyền” ở trong, ngoài nước để chống phá Việt Nam đã thất bại thảm hại sau kết quả bỏ phiếu vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 vào ngày hôm qua và đó cũng cho thấy bộ mặt, bản chất của họ núp bóng “dân chủ, nhân quyền”.

Với lần thứ hai Việt Nam được bầu vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc đó là thành quả, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân trong bảo đảm quyền con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là người dân Việt Nam, mỗi chúng ta tự hào về thành quả đó và tin tưởng rằng thời gian tới với vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được và khắc phục những vấn đề còn tồn tại về bảo đảm quyền con người ở trong nước và sẽ có những đóng góp trực tiếp vào bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu, di cư tự do, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người di cư, xung đột vũ trang… 

VỊ THẾ CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC

 Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc đã khẳng định vị thế Việt Nam không ngừng được củng cố và nâng cao. Đó không chỉ là sự “ngẫu nhiên” hay “ăn may” mà là quá trình khẳng định vị thế Việt Nam bằng những đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của các thành viên Hội đồng Liên hợp quốc. Vậy, Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc có tầm quan trọng như thế nào ?

Trước hết, Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là tổ chức liên chính phủ có chức năng thúc đẩy và thực thi nhân quyền của các quốc gia thành viên. Thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc có 47 thành viên được phân bổ theo khu vực như sau: Châu Phi (13); Châu Á – Thái Bình Dương (13); Đông Âu (6); Mỹ Latin & Caribea (8); Tây Âu (7). Các thành viên Hội đồng nhân quyền được bầu theo nhiệm kỳ 03 năm một lần và có những vị trí thay thế hàng năm. Việt Nam lần thứ hai được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng cho vị thế và sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với nước ta trong bối cảnh đang chịu những tác động tiêu cực của dịch bệnh và xung đột của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraina chưa có dấu hiệu kết thúc; khủng hoảng về thực thi các quyền con người ở Châu Phi, thậm chí là Châu Âu do tác động tiêu cực từ các đòn trừng phạt ngoại giao thì Việt Nam nổi lên là điểm sáng về thực thi nhân quyền nhất là trong thời kỳ dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội khi kinh tế thế giới khủng hoảng.

Với tư cách là thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam phải đảm đương 10 nhiệm vụ theo Nghị quyết 60/251 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Đồng thời, Việt Nam sẽ có cơ hội thuận lợi để học hỏi, trao đổi về nhân quyền của các quốc gia tiên tiến trên thế giới; đảm bảo sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế đối với thực thi nhân quyền tại Việt Nam. Điều quan trọng hơn là Việt Nam có kênh chính thức, quan trọng, nhanh chóng để cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời về tình hình nhân quyền trong nước, phản bác các thông tin sai lệch, thiếu khách quan về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.

Đây cũng là điều lý giải cho lý do trước khi bầu thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ, “3 que”, “Báo Bồn Cầu”, “Vịt Tân”…liên tục lên tiếng kêu gọi thế giới gạch tên Việt Nam. Tất nhiên, những tiếng nói lạc lõng và thiếu khách quan này không thể thuyết phục được các thành viên LHQ ủng hộ và bỏ phiếu cho Việt Nam.

CÁI MỒM THẬT NGOA NGOẮT...!

 Đám vong nô phản quốc khi Việt Nam chưa được tham gia vào HĐ Nhân Quyền: bớ làng nước ơi, Việt Nam cộng sản không xứng đáng vào hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc; các quốc gia dân chủ cần ngăn chặn Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền LHQ; đề nghĩ Mỹ và phương Tây phản đối và Cấm Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền LHQ; Nếu Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền LHQ thì chứng tỏ cộng đồng thế giới đang bênh vực cho chế độ Cộng sản... bù lu, bà la...

Đám vong nô khi Việt Nam trúng cử: Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023 -2025 cho thấy thế giới đã thay đổi trật tự; các quốc gia đang bênh vực cho Việt Nam tiếp tục các hoạt động bắt bớ vi phạm; chắc Việt Nam lại vận động hành lang để các quốc gia đồng ý cho Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền; khi Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền là cơ hội và thách thức cho giới hoạt động...

Nhưng tất cả đã khác! Việt Nam ngày nay đã trở thành một quốc gia thực sự có uy tín trên thế giới, là quốc gia được xem là hình mẫu về nhân quyền của thế giới. Quyền con người ở một đất nước đang phát triển như Việt Nam thực sự được đảm bảo và tốt hơn rất nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đang muốn tham khảo mô hình kinh tế chính trị của Việt Nam, đồng thời họ cũng xem Việt Nam là quốc gia an toàn để có thể lui tới trong các sự kiện chính trị quan trọng. Ở một quốc gia hiếm khi xảy ra tiếng súng, ở một quốc gia quyền của con người được đặt lên hàng đầu như ở Việt Nam thì đó là sự xứng đáng để Việt Nam tham gia vào hội đồng nhân quyền quốc tế.

Tham gia vào hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ năm 2023-2025 Việt Nam sẽ nỗ lực làm được nhiều kỳ tích hơn nữa trong các hoạt động nhân quyền. Và nhiều quốc gia trên thế giới tiếp tục danh sự tôn trọng đặc biệt cho một quốc gia có quyền con người thực sự được đảm bảo tốt như ở đất nước chúng ta!

LÝ THÁI HÙNG – CHÂN DUNG KẺ BỘI ƯỚC, VONG ƠN

 Lý Thái Hùng vừa được bầu vào vị trí “Chủ tịch đảng Vịt Tân” đang gây ra sự tò mò và ngạc nhiên của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Lý Thái Hùng được truyền thông dựng lên như “anh hùng” với ước vọng “đổi mới” và “canh tân” nhưng sự thật không giống như cách mà tổ chức “Vịt Tân” đưa tin.

Lý Thái Hùng là người “bí ẩn” đối với nhiều thành viên “Vịt Tân”. Hùng tham gia tổ chức ngay từ khi mới sáng lập nhưng nhiều nội dung được các thành viên yêu cầu Lý Thái Hùng giải thích liên quan đến cái chết của Hoàng Cơ Minh năm 1987 hay những mâu thuẫn về tài chính của những người đứng đầu “Vịt Tân” thì Hùng lờ đi hoặc không trả lời. Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã chết năm 1987 nhưng Hùng vẫn lấy danh ông Minh “đang sống ở mật khu” để lừa bịp các thành viên còn lại. Mãi đến năm 2001, sự thật cái chết của Hoàng Cơ Minh mới được công bố. Trong thời gian đó, Hùng liên tục công bố các bức thư của “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh” gửi từ “chiến khu” để thực hiện các tham vọng của mình. Như vậy, suốt 14 năm Lý Thái Hùng mượn danh Hoàng Cơ Minh để nhằm mục đích gì thì vẫn là ẩn số không thể giải đáp.

Lý Thái Hùng luôn miệng giảng đạo lý về “cải cách “ và “đổi mới” nhưng bản thân y luôn tham quyền, cố vị đã nắm giữ chức “tổng bí thư” 13 năm. Với cương vị là “tổng bí thư” của tổ chức có vài trăm thành viên nhưng đã luôn thể hiện sự cai trị, tham quyền, bắt nạt người dưới quyền thì liệu có xứng đáng để gửi gắm niềm tin ? Một điều dễ xảy ra là những kẻ hay nói đạo lý thường sống và làm chẳng ra gì.

Vấn đề minh bạch tài chính là điều là Lý Thái Hùng và những kẻ cầm đầu tổ chức “Vịt Tân” không muốn ai biết đến. Những khoản tiền ủng hộ của các tổ chức quốc tế, của thành viên tổ chức được sử dụng như thế nào, có chính đáng không hay vào túi riêng của nhửng kẻ cầm đầu? Hùng còn chỉ đạo đàn em tiến hành các hoạt động theo dạng bảo kê, ép buộc người Việt Nam đang mưu sinh vất vả tại Canada, Mỹ nộp tiền ủng hộ tổ chức với lý do “tình nguyện vì Việt Nam đổi mới”. Hành xử của Lý Thái Hùng đối với những người Việt đáng lên án và thể hiện bản chất của kẻ tiểu nhân.

Sớm hay muộn thì bộ mặt thật của Lý Thái Hùng sẽ sớm bị lột mặt nạ trước công chúng!

KHÔNG NÊN CỐ SÚY CHO “CHẾT CHÓC VÀ BẠO LỰC”

 Đặng Văn Hiến từng làm dư luận một thời lên án với hành vi cướp đi mạng sống của 3 người, và 13 người khác bị thương trong vụ tranh chấp đất giữa hàng chục người dân bản địa với Công ty Long Sơn (TP. Hồ Chí Minh) đến thuê đất để thực hiện dự án nông – lâm nghiệp trên địa bàn Quan Trực, Tuy Đức, Đắk Nông. Dù lý do gì đi chăng nữa thì việc làm của Hiến là sự tàn nhẫn, cướp đi mạng sống của người khác. Và tất cả những hành vi đó đều xứng đáng nhận sự trừng phạt của luật pháp. Và có lẽ rằng, những gì Đặng Văn Hiến làm đã gây ra thiệt hại lớn về người, ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống của người dân thì nay thời gian chờ án tử thì Hiến cũng ngẫm ra được nhiều điều, những giá trị nhân văn đến từ cuộc sống.

Chính vì sự nhân văn, nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam nên vừa qua trong dịp 2.9 Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc ký quyết định giảm án cho Đặng Văn Hiến từ tử hình xuống án chung thân. Và y án chung thân đối với Hiến là niềm vui cho chính y và gia đình, chính vì điều này giúp cho Hiến có cơ hội chuộc lại những tội lỗi do chính mình gây ra, và gia đình y cũng có cơ hội được nhìn mặt Hiến nhiều lần.

Và chính sách khoan hồng của pháp luật đã giúp cho Hiến cũng như nhiều tội phạm khác nhận ra được giá trị thực của cuộc sống. Thế nhưng, những gì mà Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chính sách đối với Đặng Văn Hiến lại là lý do để tổ chức KB “Việt Tân” và các thành phần chống phá khác tìm cách tô vẽ, ca ngợi cho một kẻ tử tù. Thay vì lên án hành động cướp đi mạng sống của người khác thì “Việt Tân” lại cổ súy, tiếp lửa cho các đối tượng này. Trên thực tế, tổ chức KB “Việt Tân” cũng là tổ chức thường xuyên sử dụng hành động bạo lực, tàn bạo để tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Và việc cố súy cho hành động của Đặng Văn Hiến cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng, chính những điều này cũng giúp chúng ta có thể hiểu thêm được phần nào về sự tàn bạo, ác độc của tổ chức KB “Việt Tân” trong các hoạt động chống phá Nhà nước.