Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

ĐẤU TRANH CHỐNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHIA RẼ KHỐI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 Âm mưu và họat động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định, đe doạ đến ANQG dân tộc   

1. Âm mưu:     

- Các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định, đe doạ đến ANQG dân tộc. Vì lợi ích của Chủ nghĩa tư bản, của các thế lực thù địch là muốn tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới đều theo quỹ đạo của Mỹ và các nước phương tây. Mà muốn thực hiện được thì một trong những đều cơ bản là lợi dụng Tôn giáo. Mặt khác, bản thân Tôn giáo cũng muốn lợi dụng Chủ nghĩa tư bản để phát triển, bành trướng đạo, phát triển đạo. Hai âm mưu, ý đồ này trùng khớp với nhau, tồn tại song song nhau.

- Trong tình hình hiện nay âm mưu của các thế lực thù địch là từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đối lập với nhà nước Việt Nam và khi có thời cơ đây là lực lượng giành quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường phát triển đạo đòi tự do tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ của Nhà nước ta; tổ chức kích động giúp đỡ những phần tử cực đoan quá khích nổi dậy chống chính quyền, kích động việc tranh chấp khiếu kiện trong khu vực tôn giáo để gây mất ổn định chính trị, để hạ uy tín và uy thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

2. Hoạt động:

+ Tuyên truyền chống Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo, tạo cớ, lấy cớ để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áo tôn giáo và quốc tế hóa vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, đòi tự do tôn giáo để thực hiện mục tiêu tách tôn giáo và hoạt động tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển trở thành lực lượng chính trị.

+Tổ chức các họat động tôn giáo trái phép: truyền đạo trái phép, sinh họat tôn giáo trái phép, đào tạo chức sắc tôn giáo trái phép, phục hồi và phát triển hội đòan trái phép; Xây dựng và sửa chữa nơi thờ tự tôn giáo trái phép và lợi dụng họat động từ thiện nhân đạo, từ thiện để thực hiện ý đồ chính trị.

+ Thao túng lũng đọan các tổ chức tôn giáo hợp pháp, đưa các phần tử xấu hoặc là chống đối vào các vị trí quan trọng chủ chốt trong từng tôn giáo.

+ Phục hồi, lập các tổ chức Giáo hội bất hợp pháp nhất là phục hồi Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất.

+ Lợi dụng các vụ tranh chấp khiếu kiện trong khu vực tôn giáo để tổ chức gây rối, bạo lọan hoặc kích động quần chúng gây áp lực với chính quyền.

Xuất phát từ tình hình trên, để làm tốt công tác tuyên truyền và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về tôn giáo về công tác tôn giáo. Cấp uỷ, chính quyền các địa phương cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm đối với công tác tôn giáo. Tăng cường công tác tuyên truyền về hoạt động tôn giáo và đường lối, chính sách đúng đắn về tôn giáo của Đảng, Nhà nước, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 của Chính phủ về "Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo", để cán bộ, người dân và tổ chức, cá nhân theo tôn giáo hiểu, nâng cao nhận thức và chủ động thực hiện đúng.

Hai là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đẩy mạnh hướng dẫn các tổ chức tôn giáo hoạt động theo hiến chương, điều lệ đã được Nhà nước công nhận và theo quy định của pháp luật. Xem xét, giải quyết thấu đáo các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần túy của người dân trên địa bàn, phân biệt sinh hoạt tôn giáo thuần túy và việc lợi dụng tôn giáo trong giải quyết các vụ, việc phức tạp để loại bỏ yếu tố chính trị cực đoan ra khỏi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Lồng ghép nội dung, nhiệm vụ công tác tôn giáo với các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào tôn giáo ở địa phương. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, không để xảy ra hiện tượng “nhờn luật” ở cả phía chính quyền và giáo hội, xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở trong vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo tuân thủ pháp luật và tham gia phong trào xây dựng, bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.


Ba là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các lực lượng chức năng triển khai các phương tiện, biện pháp, nhất là đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tín đồ, tranh thủ chức sắc, cũng như vận dụng có hiệu quả biện pháp ngoại giao để kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch. Kịp thời định hướng dư luận trước các vấn đề “nổi cộm”, nhất là các vấn đề liên quan đến tôn giáo, thu hút sự quan tâm sâu sắc của chức sắc, tín đồ tôn giáo. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nêu gương điển hình tiên tiến đối với các cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện tốt phương hướng hoạt động “sống tốt đời, đẹp đạo”; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở các địa phương.

Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, củng cố bộ máy làm công tác tôn giáo đủ mạnh, có tính ổn định cao, được giao đủ thẩm quyền để làm tốt công tác quản lý các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Bảo đảm bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo phải có năng lực, trình độ tương xứng để có thể quản lý, đối thoại với cá nhân, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố cơ sở chính trị tại vùng có đông tín đồ tôn giáo, nhất là những nơi có các chức sắc hoạt động cực đoan. Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân, thu hút, tập hợp chức sắc, tín đồ tôn giáo tham gia sinh hoạt trong các đoàn thể đó.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiểu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế.

Một số thủ đọan lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Việt Nam hiện nay

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn, phương thức để lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chống phá nước ta. Trong đó, chúng tập trung vào các phương thức, thủ đoạn cơ bản sau:

Một là, triệt để lợi dụng “tôn giáo hóa dân tộc”, thông qua tôn giáo để thâm nhập, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng trong các dân tộc thiểu số (DTTS), tiến tới tổ chức các hoạt động chống phá gây mất ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo" riêng cho người DTTS như "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên; "Tin lành của người Mông" ở Tây Bắc, "Phật giáo của người Khơme" ở Tây Nam Bộ… hòng lôi kéo đồng bào rồi dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế quần chúng, chi phối các địa bàn; thông qua tôn giáo nhằm kích động đồng bào không thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây mất ổn định chính trị, xã hội ở địa phương.

Hai là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo người DTTS theo tôn giáo chống phá Nhà nước Việt Nam. Đây là một thủ đoạn hết sức tinh vi mà các thế lực thù địch đang triệt đểlợi dụng để tác động, mua chuộc đồng bào DTTS; qua đó tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức phản động trong cộng đồng người DTTS. Thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, kẻ địch đã hỗ trợ các đối tượng phản động, cực đoan trong nước tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; đồng thời tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để thu thập tình hình, cung cấp thông tin sai lệch cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ba là, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các “điểm nóng” tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách bôi nhọ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở để kích động, lôi kéo đồng bào DTTS tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Chúng còn triệt để lợi dụng những vấn đề phức tạp từ đặc điểm nội tại của các DTTS, vấn đề nguồn gốc lịch sử tộc người để kích động tư tưởng ly khai, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc. Đặc biệt, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia - dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, quyền dân tộc tự quyết là quyền của riêng các DTTS, từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết của dân Trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quyền của người DTTS nói riêng với nhiều hình thức, thủ đoạn phức tạp, tinh vi, thâm độc hòng “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Do vậy, công tác tuyên truyền, đấu tranh phòng ngừa cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong việc triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp trên nhiều lĩnh vực xã hội, trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong công tác đảm bảo quyền của đồng bào các DTTS và đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng vấn đề này để chống phá nước ta. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quyền của người DTTS nói riêng chống phá Việt Nam để thực hiện đúng chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; biết đề cao cảnh giác, không nghe theo kẻ xấu, không bị kẻ địch lợi dụng, nâng cao ý thức tự giác thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng vấn đề này chống phá Việt Nam. Tiếp tục khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Thứ ba, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, da dạng hóa các hình thức tập hợp Nhân dân; là “cầu nối” giữa Đảng với Nhân dân, góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các DTTS ngày càng khăng khít. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để dân chủ ở các vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Thứ tư, không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp Nhân dân nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh, góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp với đồng bào các dân tộc ngày càng gắn bó khăng khít. Tiếp tục khơi dậy ý thức tự lực, tự cường và phát huy truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tạo mọi điều kiện để đồng bào các DTTS được tiếp cận với các điều kiện sống của khu vực thành thị nhằm góp phần đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của đồng bào các DTTS.

Thứ năm, làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá cách mạng nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào các DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo yêu cầu đặt ra nhằm tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của Nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Thứ sáutiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc đảm bảo quyền con người ở Việt Nam, trong đó có quyền của đồng bào các DTTS. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, trong đảm bảo quyền của đồng bào các DTTS, góp phần đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vấn đề này đối với nước ta.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định giải quyết vấn đề dân tộc nói chung, quyền của người DTTS nói riêng là thước đo của sự tiến bộ và phát triển xã hội; coi đó là một nội dung quan trọng luôn được ưu tiên hàng đầu trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn những năm qua ở Việt Nam là minh chứng sinh động cho quan điểm đó; góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá nước ta.

 

Bốn là, triệt để tác động Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo… hoặc tổ chức các cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở các vùng DTTS ở nước ta


Phat huy vai trò nòng cốt của Quân đội đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng nước ta là nội dung rất quan trọng trong tiến hành công tác tôn giáo. Thực hiện nhiệm vụ này là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó phát huy vai trò của quân đội là việc làm thường xuyên, có tính cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu thâm độc, là “ngòi nổ” quan trọng của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Hiện nay, chúng tăng cường lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đối lập đồng bào các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng, gây rối loạn xã hội, mất ổn định chính trị, làm mất hiệu lực quản lý của Nhà nước....

Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng, đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”1.

 Quân đội đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là yêu cầu tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của quân đội; từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ; từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong thời gian qua, quân đội đã thể hiện vai trò quan trọng, tham gia có hiêu quả vào việc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Hiện nay, quân đội cần thực hiện nghiêm sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương: nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.                           

Để tiếp tục phát huy vai trò quân đội tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các nội dung sau:

Mục tiêu xuyên suốt của quân đội đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta là góp phần cùng hệ thống chính trị làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó xâm phạm an ninh quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo sự ổn định chính trị, góp phần quan trọng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ thể tham gia đấu tranh, là toàn bộ các tổ chức, các lực lượng, mọi quân nhân trong quân đội, đặt trong cuộc đấu tranh chung của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước chỉ đạo, điều hành thống nhất, thường xuyên trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng, chính quyền, công an, đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân địa phương. Mỗi tổ chức, lực lượng ở từng cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều là chủ thể của hoạt động đấu tranh. Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, mỗi lực lượng trong quân đội có vai trò riêng, đều tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta.

Phương thức đấu tranh, sử dụng tổng hợp các phương thức đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, trong đó, lấy đấu tranh phi vũ trang là chính, mà cốt lõi là công tác vận động quần chúng, nhằm vô hiệu hoá sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phản động.

Phương châm đấu tranh là chủ động ngăn ngừa, lấy giáo dục thuyết phục, vận động là chính, lấy giữ vững sự ổn định chính trị, lợi ích quốc gia dân tộc làm điểm tương đồng để đoàn kết dân tộc, tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy; khi tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh, các điểm nóng liên quan đến vấn đề tôn giáo phải xử lý kiên quyết, khôn khéo, thận trọng, đúng pháp luật, không để lây lan, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập, không để địch mượn cớ can thiệp; kết hợp chặt chẽ giữa “luật đạo” và “luật đời”, luật đạo phải trên cơ sở luật đời.

Nội dung đấu tranh, với tất cả các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo, diễn ra toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thế nào, diễn ra trên lĩnh vực nào, thì chúng ta đấu tranh vạch trần, vô hiệu hoá âm mưu, thủ đoạn diễn ra trên lĩnh vực đó. 

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta

 Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống Việt Nam là một trong những thủ đoạn trọng tâm, thâm độc mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Qua đó, chúng hòng phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. 

Gần đây, các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước ráo riết thực hiện thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta. Chúng tập trung vào việc kích động đòi ly khai, tự trị, tấn công trực diện vào hệ HTCT ở cơ sở - nền móng, nền tảng của HTCT, chế độ XHCN ở nước ta, hòng làm suy yếu HTCT và chế độ ta. Thể hiện cụ thể:

Một là, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện đường lối, của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo ở một số địa phương để kích động, gây bức xúc trong đồng bào dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo với Đảng, Nhà nước; gây mâu thuẫn, chia rẽ, thù hằn dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Điển hình là những vụ việc không chấp hành quy định phòng, chống dịch củacấp ủy, chính quyền địa phương, khuyến cáo hạn chế các hoạt động tập trung đông người, các sinh hoạt tôn giáo không quá 30 người, song ở một số nơi đã tiến hành các hoạt động tôn giáo với hàng trăm tín đồ. Được chính quyền địa phương nhắc nhở, một số đối tượng đã quay phim, chụp hình gửi cho các tổ chức phản động để xuyên tạc, vu khống chính quyền đàn áp, ngăn cản tín đồ hoạt động tôn giáo... Hành động của bọn chúng nhằm gây bức xúc, mâu thuẫn giữa đồng bào dân tộc, tín đồ tôn giáo với cấp ủy, chính quyền địa phương, với Đảng, Nhà nước ta; gây mâu thuẫn, thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. 

Đảng, Nhà nước, các cấp ủy địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo vạch trần các thủ đoạn, phản bác hoạt động phá hoại của bọn chúng; HTCT cơ sở đã tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực phản động, bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương, sự tin tưởng của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương.

Hai là, lợi dụng phong tục, tập quán lạc hậu, trình độ còn hạn chế của một số đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo để truyền đạo trái pháp luật; dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, ép buộc đồng bào chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, tạo các “điểm nóng” gây mất ổn định về chính trị, an ninh, trật tự.

Ba là, lôi kéo, kích động đồng bào dân tộc thiểu số đòi thành lập “tôn giáo riêng”

Những năm qua, ở một số nơi tại Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực phản động đã tăng cường hoạt động nhằm thành lập một số “tôn giáo riêng” của người dân tộc thiểu số như “Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, đạo “Tin lành riêng của người Mông”, “Phật giáo riêng của người Khmer”… hòng “tôn giáo hóa” một số vùng dân tộc thiểu số và mục tiêu quốc tế hóa vấn đề “Vương quốc Khmer Krôm”, “Vương quốc Chăm”, “Nhà nước Mông”, “Nhà nước Tin lành Đề-ga”, âm mưu ly khai các vùng này ra khỏi đất nước và cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Bốn là, tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tín đồ tôn giáo đòi lại đất đai có nguồn gốc tôn giáo mà từ nhiều năm nay đã và đang phục vụ sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, gây nên tình hình phức tạp ở một số địa phương.

Năm là, các tổ chức nhân quyền quốc tế dưới sự điều hành của các thế lực phản động, thù địch thường xuyên đưa ra những báo cáo, đánh giá xuyên tạc, vu cáo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở nước ta, đòi đưa nước ta vào danh sách “những nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”.

Tổ chức Theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) đã lợi dụng sự kiện một số đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng nước ta xử lý để tung ra những luận điệu xuyên tạc dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ vu cáo: “Việt Nam đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền và đưa ra nhận định sai trái, thù địch, kích động, như: “người dân Việt Nam chưa bao giờ có tự do, dân chủ, nhân quyền”; viện dẫn một số vụ việc gây rối ở một số nơi như Nghệ An, Hà Tĩnh… bị cơ quan chức năng xử lý, nhưng mơ hồ về thực chất vụ việc và cố tình xuyên tạc bản chất vụ việc nhằm phục vụ âm mưu của bọn chúng.  

Một số phần tử cơ hội chính trị trong nước liên kết với bọn phản động ở nước ngoài thành lập các tổ chức, như: “Quỹ người Thượng”, “Hội người Mông thế giới”; “Hội văn hóa cổ truyền người Mông”; “Liên hiệp người Dao Mỹ”; “Trung tâm nghiên cứu Thái học”; “Hội người Thượng Đề-ga (MDA)”, “Hội những người miền núi (MFI)”, “Hội bảo vệ nhân quyền (MHRO)”; “Văn phòng Chămpa quốc tế - IOC”… nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn phá hoại của bọn chúng.

Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.

Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

 

 Vùng Cảnh sát biển 2 tích cực tham gia xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” trên biển

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên địa bàn cả nước nói chung, ở từng vùng biển nói riêng là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là nội dung quan trọng, xuyên suốt, được Đảng ủy, chỉ huy Vùng Cảnh sát biển 2 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong thực thi pháp luật trên biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Công tác tuyên truyền, giáo dục là chủ đạo

Xây dựng “thế trận lòng dân”, thực chất là xây dựng yếu tố chính trị, tinh thần, mà cốt lõi là làm cho lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa được quy tụ một cách chủ động thành “thế trận”, làm nền tảng để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn về vị trí, vai trò của biển, đảo, cũng như quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và quốc tế về biển, đảo. Từ đó, nâng cao lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống của dân tộc, sự kiên trung, bất khuất của địa phương; xây dựng ý thức, trách nhiệm đối với việc thực hiện chủ trương, đường lối, mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn liền với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của trên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng đã cụ thể hóa thành các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng; xây dựng kế hoạch thực hiện chặt chẽ, theo phân cấp. Trong đó, chú trọng xác định nội dung phù hợp, tích cực đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền theo hướng phong phú, đa dạng, sáng tạo, gắn với chức năng, nhiệm vụ của Vùng và từng đơn vị. Ngoài nội dung tuyên truyền cho ngư dân nắm được những kiến thức cơ bản của pháp luật quốc tế và Việt Nam về biển, đảo, như: Công ước Luật Biển năm 1982; Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Thủy sản; Luật Phòng chống tội phạm ma túy; Luật Cảnh sát biển Việt Nam,… Vùng còn tăng cường tuyên truyền theo chuyên đề về chống đánh bắt hải sản trái phép trên vùng biển nước ngoài, đánh bắt hải sản có tính chất tận diệt và phá hoại môi trường sinh thái biển; các chính sách của Đảng và Nhà nước trong khuyến khích, động viên nhân dân định cư, sinh sống trên đảo, tích cực bám ngư trường; tình hình biển, đảo; chức năng, nhiệm vụ, truyền thống của Cảnh sát biển Việt Nam và Vùng Cảnh sát biển 2, v.v. Về đối tượng tuyên truyền, tập trung chủ yếu vào ngư dân trực tiếp hoạt động trên biển, cán bộ, đảng viên và nhân dân các địa phương ven biển, trên đảo, giáo viên, học sinh các trường; đồng thời, mở rộng đến đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo trên địa bàn.

Để đạt hiệu quả thiết thực, Bộ Tư lệnh Vùng đặt ra yêu cầu cao về tính đa dạng, trực quan, dễ hiểu, hấp dẫn, bám sát đối tượng trong các hình thức, phương pháp tuyên truyền. Theo đó, Vùng tập trung chỉ đạo các đơn vị trực thuộc kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền miệng với các hình thức khác, như: thi tìm hiểu, giao lưu văn hóa, văn nghệ, hoạt động kết nghĩa; in tờ rơi, tờ gấp, phát hành sách, cẩm nang, xây dựng video theo chủ đề; cử các tổ, đội tuyên truyền theo nhiệm vụ; phát loa trên các tàu khi thực hiện nhiệm vụ trên biển,… kết hợp tuyên truyền tập trung với đi sâu vào từng đối tượng, từng địa bàn, từng thời điểm. Đặc biệt là tổ chức thành công nhiều cuộc thi “Em yêu biển đảo quê hương” ở các trường học với nội dung phong phú, đa dạng, hấp dẫn, thu hút đông đảo giáo viên, học sinh tham gia, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Ngoài ra, Vùng còn quan tâm thực hiện tốt công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương và là đơn vị đầu tiên trong toàn lực lượng Cảnh sát biển hoàn thành việc triển khai chuyên mục “Vì chủ quyền, an ninh, an toàn biển, đảo” hằng tháng trên sóng đài truyền hình  các tỉnh, thành phố ven biển trên địa bàn. Để công tác tuyên truyền được thường xuyên, hiệu quả, Vùng đã phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương trên địa bàn đóng quân ở tất cả các khâu, từ ký kết quy chế, xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện.

Từ năm 2021 đến nay, Vùng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tuyên truyền cho hơn 11.800 cán bộ, ngư dân, giáo viên, học sinh; cấp phát trên 17.300 tờ rơi các loại, 200 cuốn sách “Công tác thông tin tuyên truyền chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”, 100 cuốn cẩm nang về tín ngưỡng, tôn giáo,... cho hàng trăm tàu của ngư dân đánh bắt hải sản trên vùng biển thuộc Vùng quản lý. Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, sự kiên trì của các lực lượng trong công tác tuyên truyền đã góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội trong các tầng lớp nhân dân, khơi dậy và nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức  đấu tranh bảo vệ chủ quyền, an ninh, an toàn trên vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Cùng nhà tài trợ tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân

Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ gắn với tăng cường công tác dân vận là nội dung cốt lõi để xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển

Là đơn vị thực thi nhiệm vụ trên vùng biển rộng, nhạy cảm, chưa có đường phân định trên biển với nước bạn, luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, khó lường và là vùng biển thường xuyên xảy ra các vụ tai nạn, mất an toàn hàng hải do thiên tai và hành động đe dọa của tàu chấp pháp nước ngoài đối với ngư dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Vùng thường xuyên tổ chức tốt việc tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, duy trì thực thi pháp luật, bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo. Qua đó, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi đánh bắt hải sản, thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép của tàu, thuyền nước ngoài trong vùng biển của ta; đấu tranh kiên quyết với những hành vi xua đuổi, đâm va, cướp ngư cụ, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn trên biển; đồng thời, trực tiếp hướng dẫn cho ngư dân không vi phạm vùng biển nước ngoài. Sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ Vùng Cảnh sát biển 2 thực sự là điểm tựa vững chắc cho ngư dân vươn khơi bám biển, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thực hiện “chủ quyền dân sự” trên các ngư trường truyền thống của đất nước.

Cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn cho ngư dân được Bộ Tư lệnh Vùng xác định là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, là mệnh lệnh trái tim đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ. Do vậy, bất luận điều kiện thời tiết khó khăn, mưa bão hoặc ở vùng biển xa, các lực lượng, phương tiện của Vùng vẫn có mặt kịp thời để cứu giúp ngư dân. Riêng từ năm 2020 đến nay, Bộ Tư lệnh Vùng đã điều động 18 lượt tàu, xuồng thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu kéo được 18 tàu, thuyền với 57 thuyền viên bị nạn. Các cơ quan, đơn vị của Vùng chủ động phối hợp với địa phương tổ chức tốt các lớp tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng công tác bảo đảm an toàn, phương pháp sơ cấp cứu người bị đuối nước cho ngư dân, tư vấn điều khiển tàu trong điều kiện thời tiết xấu. Tích cực tham gia cùng chính quyền địa phương hướng dẫn tàu thuyền neo đậu, hỗ trợ sơ tán nhân dân đến nơi tránh trú an toàn, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống. Đặc biệt, Bộ Tư lệnh Vùng đã làm tốt công tác phối hợp, hiệp đồng với cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố trên địa bàn thực hiện tốt Nghị định số 30/2010/NĐ-CP, ngày 29/3/2010, Nghị định số 130/2015/NĐ-CP, ngày 18/12/2015 của Chính phủ và Thông tư số 153/2016/TT-BQP, ngày 30/9/2016 của Bộ Quốc phòng về huy động nhân lực tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của Tổ quốc.

Cùng với đó, Bộ Tư lệnh Vùng tích cực tham mưu, giúp địa phương trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, phát triển kinh tế biển, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, tham gia xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trên địa bàn, nhất là những nơi khó khăn, các xã đảo, huyện đảo. Trong đó, xác định tiếp tục đẩy mạnh, đa dạng hóa nội dung, hình thức hoạt động, nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân” là nội dung trọng tâm. Trước thực trạng di cư lao động cùng với những khó khăn, nguy hiểm trong mưu sinh trên biển làm cho nguồn nhân lực ngư nghiệp ngày càng sụt giảm, Bộ Tư lệnh Vùng phối hợp cùng cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung tuyên truyền, vận động và hỗ trợ ngư dân giữ nghề truyền thống, yêu biển, bám ngư trường, phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống bền vững.

Bộ Tư lệnh Vùng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chủ động, tích cực phối hợp với các lực lượng trên địa bàn xã đảo, huyện đảo, ven biển thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Xây dựng nông thôn mới”, giúp nhân dân bằng những việc làm thiết thực, như: bê tông hóa đường liên thôn; tu sửa nghĩa trang liệt sĩ; vệ sinh đường làng ngõ xóm, bãi biển; trồng rừng chắn bão. Đồng thời, thường xuyên tổ chức khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho người dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn các xã đảo, huyện đảo; thực hiện chương trình “Chung tay làm sạch môi trường biển” với hàng nghìn lượt người tham gia. Để thực hiện có hiệu quả, Bộ Tư lệnh Vùng đã chủ động tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, nhà hảo tâm tham gia giúp đỡ cả vật chất và tinh thần, cùng cán bộ, chiến sĩ của Vùng đồng hành với ngư dân, kết nối trái tim của đất liền với đảo bằng nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, như: thăm hỏi, động viên, tặng quà gia đình chính sách, ngư dân nghèo, nhận đỡ đầu học sinh nghèo học giỏi; tặng cờ Tổ quốc; phao cứu sinh; dụng cụ y tế, vật tư phòng chống dịch và nhiều vật dụng thiết thực khác, v.v. Qua đó, giúp ngư dân giảm bớt khó khăn trong cuộc sống và lá Cờ Tổ quốc ngày một nhiều hơn, đỏ thắm trên các vùng biển nước ta như những “cột mốc sống” khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ toàn Đơn vị đã được đáp lại bởi tình cảm quý mến của người dân, để nhân dân thực sự là “tai mắt” rất quan trọng của các lực lượng chấp pháp trên biển, luôn tin tưởng, cung cấp những thông tin có giá trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền, an ninh, an toàn trên biển.

Những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả trên là tiền đề quan trọng để Vùng Cảnh sát biển 2 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển vững chắc, làm nền tảng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh, an toàn trên vùng biển được giao.

                                                                        Nguồn: Đại tá LÊ HUY SINH, Chính ủy Vùng

 Bác bỏ những luận điệu phản động!

Ảnh minh họa

Trước những thông tin sai lệch, dối trá, bôi đen sự thật nhằm xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống phá Đảng và chế độ này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA MỞ ĐẦU MỘT THỜI ĐẠI MỚI TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Càng có đội lùi của thời gian, chúng ta càng khẳng định rằng: Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười vẫn vẹn nguyên, trường tồn. 105 năm đã trôi qua (1917-2022), song sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc, làm rung chuyển cả thế giới cũng như việc cuộc cách mạng vĩ đại ấy đã mở ra con đường đưa các dân tộc thuộc địa, bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc; trong đó có Việt Nam ở Đông Nam châu Á là không thể phủ nhận! Đó chính là một cuộc Cách mạng mở đường, đúng như V.I Lênin đã khẳng định: “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu xây dựng nhà nước Xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1).

Với Việt Nam, vào thập niên 1920, khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đang bôn ba trên hành trình tìm đường cứu nước, trải nghiệm và khảo sát các chế độ chính trị xã hội ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục, thì Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công. Không lâu sau, Quốc tế thứ III - Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin sáng lập ngày 2/3/1919 tại Mátxcơva (Liên Xô) đã “bắt đầu thực hiện khẩu hiệu vĩ đại nhất của Mác, khẩu hiệu tổng kết thực tiễn trong một thế kỷ của chủ nghĩa xã hội và của phong trào công nhân, khẩu hiệu biểu hiện bằng khái niệm: chuyên chính của giai cấp vô sản” . Ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đã giúp Người tìm thấy con đường để giải phóng dân tộc mình, nhân dân mình khỏi kiếp lầm than. Và thế là, như một sự lựa chọn của lịch sử, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ lựa chọn, bỏ phiếu cho Quốc tế thứ III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên - một trong những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, mà còn đồng thời lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.

Một hành trình hoạt động cách mạng về lý luận và thực tiễn, hình thành con đường cách mạng Việt Nam bắt đầu. Và cũng từ sự lựa chọn có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng này, sau đó, trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(2); “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(3) và “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4)

Khi những điều kiện cần và đủ đã chín muồi, Người đã không chỉ vận dụng những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để sáng lập một Đảng Mácxít - Lêninnít cách mạng chân chính; đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; cổ vũ, động viên và quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng; xây dựng căn cứ địa cách mạng… mà còn lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng, đón và chớp đúng thời cơ  để vùng lên giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị của Nhật, Pháp và giành chính quyền về tay nhân dân. Với Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM DO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG TA VÀ NHÂN DÂN LỰA CHỌN LÀ ĐÚNG ĐẮN

Bác Hồ tại Đại hội Tours năm 1920. Ảnh: T.L

 Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, tháng 12-1920.Ảnh tư liệu/congan.com.vn

Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam những năm cuối thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít - Lêninnít để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa tên đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, của quyền con người mà trước đó “họ chưa bao giờ có được”…

Thực tế cho thấy rằng, một ngày sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời chủ trì cuộc họp để giải quyết những công việc cấp bách. Giữa bộn bề công việc và ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, 6 nhiệm vụ cấp bách mà Người cùng Chính phủ quyết liệt triển khai thực hiện đều không ngoài những quyết sách nhằm chống thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được và bắt đầu kiến thiết đất nước. Trong những ngày tháng cam go đó, không thể không nhắc đến những nhiệm vụ chính trị quan trọng được triển khai thành công như: Xúc tiến tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, bỏ phiếu kín; soạn thảo và sớm thông qua tại Quốc hội khóa I để Việt Nam có một bản Hiến pháp dân chủ, công bình của các giai cấp - Hiến pháp 1946; thực hiện công cuộc xóa nạn mù chữ; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để từng bước xóa nạn đói; tiến hành các hoạt động ngoại giao mềm dẻo, hòa hoãn với kẻ thù, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ”, thôn tính đất nước của quân Tưởng và Pháp (hòa với Tưởng để tập trung đánh Pháp; hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng về nước)…

Trong điều kiện vừa giành được độc lập, phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức, những quyết sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng (đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11/1945) và Chính phủ không chỉ mang lại cho người dân Việt Nam những lợi ích thiết thực của độc lập, tự do, mà còn góp phần củng cố, nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Vì thế, không có việc chế độ dân chủ cộng hòa ở Việt Nam khi đó là “phi dân chủ”, là thực hiện chuyên chính vô sản nên “đã tàn sát” những người yêu nước trong các đảng phái khác, “gây đổ vỡ lớn trong dân tộc” như sự bịa đặt của Tâp hợp dân chủ đa nguyên. Thực tế, những công việc mà chính quyền cách mạng triển khai đều không ngoài thực thi nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của người dân cả nước. Nếu Việt Nam thực sự “phi dân chủ”, thì chắc chắn không thể có cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Hơn nữa, nếu không có dân chủ, nếu Đảng thực sự “độc tài và chuyên quyền” như các thế lực thù địch vu khống, thì cũng không thể có khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng, củng cố trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức cùng các tầng lớp lao động khác trở thành động lực chủ yếu của cách mạng được tập hợp trong các hình thức Mặt trận từ năm 1930 đến nay (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) được.

Có một sự thật cũng cần phải khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam chắc chắn không phải là “cuộc nội chiến Bắc - Nam” và cuộc trường chinh kháng chiến đó cũng không phải là sự áp đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng như các luận điệu phản động, xuyên tạc tung lên mạng xã hội. Mà chỉ có một sự thật- đó là một cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cho khát vọng “thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”, cho niềm tin tưởng “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” và “đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(5)… dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việc quy chụp cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “nội chiến” chính là một trong những chiêu trò đổi trắng thay đen của các nhà “rân chủ”, ngáo “dân chủ tư sản”.  Luận điệu xuyên tạc này không phải là sự thật, mà sự thật là nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, sau 21 năm kiên cường kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ, miền Nam đã được giải phóng, cả nước đã thống nhất vào mùa Xuân năm 1975. Như vậy là, nhân dân Việt Nam yêu nước đã đồng tâm, hợp lực và đoàn kết để chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc mình; cho phẩm giá làm người của chính mình như mình lựa chọn, chứ không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam “sai lầm từ đầu”, “mê muội rập khuôn theo Liên Xô”, “đi theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ”, đã “áp đặt cuộc nội chiến” như sự quy chụp và vu khống của các thế lực thù địch.

SỰ THẬT LÀ MINH CHỨNG SINH ĐỘNG NHẤT

Một góc TP. Hồ Chí Minh hôm nay. Ảnh tư liệu

Một góc TP. Hồ Chí Minh hôm nay. Ảnh tư liệu

Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước (1945-1975). Ước mơ về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, "non sông liền một dải" cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực. Những hồi ức "ngày Bắc đêm Nam", "kẻ Bắc người Nam" khi đất nước bị chia đôi đã trở thành quá khứ. Đi cùng đó, chế độ “Việt Nam cộng hòa” thân Mỹ cũng không còn hiện diện. Sự thật là, sau khi cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, thì hòa bình, độc lập, tự do và một đất nước Việt Nam khởi sắc, ngày một phát triển sau những năm dài chiến tranh tàn khốc đã mang lại cho mỗi người dân trên mọi miền của Tổ quốc một đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn; năm sau tốt hơn năm trước. Đặc biệt, sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đồng thời, cũng chứng minh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, liên minh chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của mình, quyết tâm đi tới một tương lai hạnh phúc tươi đẹp, đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa”(6) là hoàn toàn đúng đắn!

Cùng với đó, cũng cần phải khẳng định rằng, với thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc “đem người nô lệ thành người tự do” vào mùa Thu năm 1945 cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng, nhân dân Việt Nam đã khẳng định được nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; đồng thời, cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình, mở đầu cho những thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh sau đó. Đặc biệt, một sự thật cũng không thể phủ nhận nữa là, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội hơn 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng và phát triển; không chỉ vững vàng, bản lĩnh, kiên định trước những biến động của tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, mà còn và luôn xứng đáng là Đảng cầm quyền, độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam - lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 2013 đã hiến định.

Trân trọng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - những cuộc cách mạng không chỉ ghi dấu mốc trong lịch sử của mỗi dân tộc mà còn là một mốc son trong lịch sử thế giới đương đại là không thể cãi bàn. Bởi rằng, trân trọng những hy sinh và cả những thành tựu của quá khứ cũng chính là trân trọng nguồn sức mạnh nội lực của chính mình, dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng. Nên là, những luận điệu phản động cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga “đã sụp đổ tại chính quê hương của nó”,  đã “chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng” và Việt Nam đi theo “vết xe đổ đó là sai lầm” thật thiển cận.  Không phải Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là chủ nghĩa Mác - Lênin đã “hết thời”, mà đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực vì những lý do chủ quan và khách quan của nó. Đồng thời, cũng không phải vì những khó khăn, thách thức đang tiếp tục phải đối diện trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà có thể quy chụp rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đưa đất nước đến nghèo đói, đưa đất nước “đi vào ngõ cụt”.

Công nhân làm việc tại Nhà máy sản xuất ôtô VinFast. (Ảnh: TTXVN)

Công nhân làm việc tại Nhà máy sản xuất ôtô VinFast. (Ảnh: TTXVN)

Một Việt Nam "chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" là minh chứng khách quan sinh động nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc! Vì thế, dù nhân danh ai và tổ chức nào, thì khách quan cũng không thể xuyên tạc, bẻ cong được giá trị thời đại, có tính định hướng lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũng như sự lựa chọn con đường cứu nước duy nhất đúng, phù hợp xu thế thời đại, phù hợp điều kiện, vị thế địa chính trị Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tế, việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam là sự thật và sự thật đó cho thấy các nhà “rân chủ” vừa hay xuyên tạc vừa hay mơ hão! Chắc chắn, ở Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng đối lập; không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và thực thi nền dân chủ tư sản, nên giấc mơ “Việt Nam dân chủ, tự do tư sản” của các nhà “rân chủ” chỉ còn là ảo vọng!

                                                                                                Nguồn: TS. Văn Thị Thanh Mai