Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

Nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ tự giác, thường xuyên của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, là nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, việc rèn luyện đạo đức cách mạng theo chỉ dẫn của Người và tinh thần Đại hội XIII của Đảng chính là góp phần vào thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mỗi đảng viên, cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. 1- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến những bến bờ thắng lợi; đồng thời, là một danh nhân văn hóa thế giới, nên Người luôn hiểu rõ và thực hành các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Với tầm vóc của một nhân cách lớn, không phải đến khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, có vị trí và vai trò ngày càng vững chắc trong lòng nhân dân, được lịch sử ghi nhận qua những thắng lợi vĩ đại do Đảng lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; mà ngay từ khi Đảng ta còn ở buổi sơ khai, đến những ngày đầu chính thức cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời của người cách mạng. Khi Đảng còn chưa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đặc điểm của các dân tộc phương Đông là luôn tôn trọng và đánh giá cao những tấm gương đạo đức trong sáng, cao cả, hết lòng phụng sự Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Những bậc vua sáng, tôi hiền trong lịch sử từ xa xưa có công mở mang bờ cõi, giữ yên sự vững bền của xã tắc, cho đến những bậc tiên hiền, những vị có công lập làng, giữ xóm… luôn được nhân dân ghi nhận, tôn làm thánh, thờ làm thành hoàng và truyền tụng từ đời này qua đời khác. Vì thế, ngay từ đầu những năm 1920, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát đặc điểm này của dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc Á Đông nói chung, để đưa ra chỉ dẫn cần thiết cho mỗi người cộng sản trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững sự tin yêu của quần chúng nhân dân: Đối với các dân tộc Á Đông, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Năm 1927, qua tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ những yêu cầu về đạo đức của người cộng sản, về tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng. Tu dưỡng, rèn luyện theo những chỉ dẫn đó, các lớp đảng viên tiền bối của Đảng đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời mình để tô thắm thêm đạo đức trong sáng của người cách mạng, nên đã thuyết phục được nhân dân một lòng một dạ tin vào Đảng, đi theo Đảng. Cũng vì thế, mặc dù chỉ có chưa tới năm nghìn đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đem lại độc lập cho dân tộc sau hơn 80 năm dưới ách thực dân xâm lược, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước, các cán bộ, đảng viên của Đảng đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, tỏ rõ sự xứng đáng với danh hiệu đảng viên cộng sản cao quý. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, thì những đảng viên của Đảng trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở công tác trong hoàn cảnh, điều kiện mới, khi kẻ thù trước mặt không chỉ là quân thù và hy sinh, mất mát là mạng sống cá nhân, mà còn phải đối diện với những “viên đạn bọc đường”, luôn làm xao động ý chí phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của họ để mưu cầu lợi ích cá nhân. Nhận thấy rõ điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên về nghĩa vụ của họ trước quốc dân, đồng bào và chỉ rõ: Đảng không phải là tổ chức để làm quan, phát tài, mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc; vì thế, đảng viên phải luôn rèn luyện, phấn đấu, luôn sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Những lời căn dặn, nhắc nhở của Người giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, thấy rõ những tiêu chí cần phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với sự mong đợi, kỳ vọng của quần chúng nhân dân, với nhiệm vụ do Đảng giao phó, xứng với danh hiệu đảng viên cộng sản. Những yêu cầu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong nhiều bài nói, bài viết ngay từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gửi đội ngũ cán bộ, đảng viên và bộ máy chính quyền các cấp, ở các vùng, miền và thể hiện tập trung hơn cả chính là ở tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, năm 1947. Đây có thể xem như một bộ tổng tập đầu tiên về những tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, về yêu cầu và chỉ dẫn đối với hoạt động của chính quyền cách mạng, là sự cảnh báo về những thói hư, tật xấu mà người cán bộ, đảng viên hay mắc phải, để từ đó đề ra biện pháp phòng, chống những thói hư, tật xấu đó. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đảng ta cầm quyền trên một nửa lãnh thổ trong điều kiện phải chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ với miền Bắc và chi viện cho phong trào cách mạng miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước. Khi đó, những thói hư, tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, sự vững mạnh, hiệu quả lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhận thức rõ nguy cơ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1955; tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1958, đặc biệt là tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân viết năm 1969. 2- Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng việc nêu bật những thành tích của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có được những thành tích đó là nhờ đông đảo đảng viên luôn kiên trì phấn đấu theo lý tưởng của Đảng, trở thành những người đi trước mở đường, dẫn dắt quần chúng nhân dân chinh phục những cột mốc trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, vẫn “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém”(1), họ chính là những người “mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”(2). Vì sa vào chủ nghĩa cá nhân, nên họ “tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền”(3), họ cũng “mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(4). Để ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(5). Về phía mỗi đảng viên, Người yêu cầu phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(6). Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của chủ nghĩa cá nhân. Nguyên nhân chủ quan, là do những cá nhân này thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên “phẩm chất, đạo đức còn thấp kém”. Nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân từ thực tế xã hội khi những tồn dư do xã hội cũ để lại từ lối mòn suy nghĩ, đã tác động không tốt tới nhận thức chính trị của một số đảng viên, khiến cho họ tuy là đảng viên nhưng chưa thực sự xứng đáng với tư cách đảng viên cộng sản. Bên cạnh đó, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nghiêm túc trong thực hiện việc theo dõi, bồi dưỡng, đánh giá trước khi kết nạp quần chúng vào Đảng; sau khi kết nạp đảng, không nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tự phê bình và phê bình, tập trung dân chủ… trong thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như trong sinh hoạt hằng ngày. Những hạn chế đó khiến cho một số cán bộ, đảng viên thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, ít được kiểm tra, giúp đỡ trong công việc và sinh hoạt hằng ngày, nên đã làm cho căn bệnh cá nhân chủ nghĩa phát sinh và ngày càng trầm trọng. Để ngăn ngừa và đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biện pháp căn bản. Thứ nhất, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”, “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”. Thứ hai, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên về các tiêu chí của người cộng sản; trong đó, cần chú ý “về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. Thứ ba, thực hiện nghiêm các biện pháp xây dựng Đảng về tổ chức, như “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng… Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. Thứ tư, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, theo đó tổ chức đảng các cấp “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Những chỉ dẫn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn luôn là kim chỉ nam cho mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như mỗi đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cũng như trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức người cộng sản một cách hiệu quả. 3- Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những chỉ dẫn quan trọng của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân, thời gian tới, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng đề ra. Một là, làm tốt việc giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của toàn hệ thống chính trị và lan tỏa trong nhân dân, để quan điểm, đường lối chính trị khoa học, cách mạng trở thành dòng chủ lưu chính chi phối suy nghĩ, hành động của toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng là định hướng quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cả hệ thống chính trị, góp phần bảo đảm kết quả thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng đạt yêu cầu, mục đích đề ra. Thời gian qua, bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn tình trạng “việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời… Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(7). Để khắc phục những hạn chế này, thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành phải: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, “Công tác tư tưởng phải… làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội”(8). Hai là, làm tốt công tác phát triển đảng viên. Trong thời gian qua, việc “Kết nạp đảng viên một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng… Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, việc rà soát, sàng lọc đảng viên chưa thường xuyên, thiếu cương quyết”(9). Để khắc phục những hạn chế đó, đồng thời nâng cao chất lượng đảng viên, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là: “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp”(10). Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019, của Ban Bí thư, “Về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Cần làm tốt công tác lựa chọn, bồi dưỡng các quần chúng ưu tú và việc rèn luyện, thử thách cán bộ, đảng viên trong thực tiễn cách mạng. Cần tuân thủ nghiêm chỉ dẫn của V.I. Lê-nin trong phát triển đảng viên là “thà ít mà tốt”. Đảng vững mạnh không phải ở số lượng đông đảo đảng viên, mà ở sức mạnh to lớn, đầy thuyết phục do những thành viên xứng đáng với danh hiệu người đảng viên cộng sản thể hiện trước quần chúng nhân dân, trong thực tiễn cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ba là, tổ chức đảng các cấp cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình,… nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Sức mạnh của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng nói riêng là ở sự đồng tâm nhất trí của tập thể cùng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ; cùng hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng; cùng giúp nhau chiến thắng những kẻ thù ẩn sâu bên trong bản thân mỗi người - những suy nghĩ mang tính cá nhân ích kỷ, không vì lý tưởng, sự nghiệp chung… Thời gian qua, “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”(11). Để khắc phục, đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm nói trên của đảng viên, tổ chức đảng, thời gian tới cần “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng… Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”(12). Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng chỉ hoàn thành được sứ mệnh của mình khi luôn hướng mọi hoạt động của mình vào phục vụ nhân dân; giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thời gian qua, tổ chức đảng các cấp, bên cạnh những thành tích đạt được trong việc phục vụ nhân dân, cũng như việc bảo đảm chịu sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả thấp”(13). Vì thế, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đặc biệt “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên… Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”(14)./. ---------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 546 (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 546-547 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 547 (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 168 (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 231, 232 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 190 (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 241 - 242 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 179 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 241 (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 179 (14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 238 Nguồn: Tạp chí Cộng sản

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú

Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ, phương thức quan trọng để nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, tạo nguồn để Đảng xem xét kết nạp, bổ sung cho đội ngũ của mình. Đây là một trong những công việc có vai trò, ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác cán bộ của Đảng. Vị trí, tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng về chính trị gắn với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú Bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị; là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên có định hướng chính trị đúng đắn, luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong mọi tình huống, không hoang mang, dao động trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình. Đó chính là sự vững vàng, kiên định, chủ động trong cả suy nghĩ và hành động trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống; đúng như V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: Chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Ở đây, bản lĩnh chính trị đòi hỏi và gắn liền với sự kiên định; do đó, Đại hội XIII của Đảng khi đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo đã nhấn mạnh quan điểm thứ nhất là: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(1). Để đối tượng kết nạp vào Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng thì phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa sự tác động khách quan của tổ chức đảng tiến hành “đào tạo, bồi dưỡng chính trị” với sự nỗ lực chủ quan của quần chúng “rèn luyện, thử thách trong thực tiễn”. Nhưng trong mối quan hệ này, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan không tách bạch một cách tuyệt đối, mà có tác động biện chứng qua lại, tương hỗ với nhau: Trong “đào tạo, bồi dưỡng chính trị” cần có sự chủ động, tích cực tiếp thu, nỗ lực chủ quan của bản thân quần chúng và trong “rèn luyện, thử thách trong thực tiễn” cũng cần có sự định hướng, dìu dắt, kèm cặp, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xác nhận, động viên của tổ chức đảng. Để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú trước khi kết nạp vào Đảng và sau khi trở thành đảng viên dự bị thì việc đào tạo, bồi dưỡng về chính trị và rèn luyện, thử thách trong thực tiễn có vai trò quan trọng ngang nhau và cả hai mặt này phải được kết hợp chặt chẽ, hiệu quả trong mối quan hệ biện chứng thống nhất, không thể tách rời nhau. Một mặt, đào tạo, bồi dưỡng về chính trị là quá trình tổ chức, giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong Đảng và trong quần chúng nhân dân, nhất là quần chúng ưu tú, là đối tượng kết nạp vào Đảng, nhằm từng bước xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên ý thức, bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta...; mặt khác, việc rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, như “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, nhằm tôi luyện quần chúng ưu tú, giúp họ trưởng thành về mọi mặt, kiểm nghiệm và có điều kiện ngày càng nâng cao bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách trong cuộc sống đầy biến động, nhiều cám dỗ. Hai mặt trong một thể thống nhất biện chứng này tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tiêu chí cuối cùng để đánh giá sự kết hợp hai mặt của thể thống nhất biện chứng này có chặt chẽ, hiệu quả hay không chính là việc bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú có được nâng cao lên không, có vững vàng không? Quần chúng có xứng đáng được kết nạp vào Đảng không? “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam...”(2). Đảng không ngừng lớn mạnh nhờ thường xuyên làm tốt công tác phát triển Đảng, chăm lo bồi dưỡng những quần chúng ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và trong các tầng lớp nhân dân khác để bổ sung vào đội ngũ của mình. Thời gian qua, nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, các tổ chức đảng, các cấp ủy thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, giáo dục quần chúng về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nâng cao nhận thức, hiểu biết về Đảng; đồng thời, tạo điều kiện, tạo cơ hội, giúp đỡ cho quần chúng được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tham gia, hoạt động trong các phong trào và trong thực tế cuộc sống. Sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, làm chuyển biến nhận thức, giúp họ đủ điều kiện để kết nạp vào Đảng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, đặc biệt là việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về thế giới quan, phương pháp luận khoa học; có nhận thức tư tưởng đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vào đường lối đổi mới; có năng lực hoạt động thực tiễn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển đất nước. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cũng đang đứng trước những khó khăn, thử thách mới. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là quần chúng, hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố rất phức tạp. Không ít cán bộ, đảng viên đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng và đảng viên mới nói riêng, càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết và được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Học viên các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng là những quần chúng ưu tú, có quá trình phấn đấu, rèn luyện và có động cơ vào Đảng đúng đắn, tự nguyện xin vào Đảng, được chi bộ giới thiệu tham gia học tập chính trị tại lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, điều kiện để được xét kết nạp vào Đảng là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”(3). Đối tượng kết nạp vào Đảng là những người hoạt động trong phong trào quần chúng, qua đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cùng với quá trình rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, ngày càng thể hiện rõ tính tích cực, hăng hái, đi đầu cả về nhận thức và hành động; là những người lao động, học tập, công tác có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, có khả năng cảm hóa, giáo dục, tập hợp quần chúng, được quần chúng tin cậy và noi theo. Khi hội tụ đủ những điều kiện đó, quần chúng ưu tú sẽ được xét kết nạp vào Đảng. Bởi vì, đảng viên là “chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”, là người lãnh đạo quần chúng; vì thế, người không được quần chúng tín nhiệm thì không thể trở thành đảng viên. Đảng chỉ kết nạp những người thực sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quyết không thu nhận vào hàng ngũ của mình những người mang động cơ thiếu trong sáng, lệch lạc; càng không để cho các phần tử cơ hội lọt vào hàng ngũ của Đảng. Do đó, những người là đối tượng kết nạp vào Đảng cần được tổ chức cơ sở đảng chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cho họ những kiến thức cơ bản và có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam... Trên cơ sở đó, mỗi người xác định cho mình động cơ vào Đảng thật sự đúng đắn, tích cực học tập, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn để trở thành đảng viên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho quần chúng ưu tú chuẩn bị kết nạp vào Đảng được hiểu là tổng thể các khâu, bao gồm: Tạo nguồn để tổ chức lớp học, tiến hành mở lớp, thực hiện các nội dung giảng dạy, học tập và các nội dung giáo dục khác, đánh giá kết quả học tập của học viên, theo dõi hiệu quả công tác bồi dưỡng... Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị là chất lượng hoạt động của tổng thể các khâu trong suốt quá trình tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho học viên. Do vậy, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho học viên lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng là thực hiện nâng cao chất lượng từng khâu và các yếu tố tác động trong quá trình bồi dưỡng nhằm đạt hiệu quả là, qua học tập, học viên nắm vững những yêu cầu cơ bản của từng chuyên đề, được bồi dưỡng về lý luận chính trị, hiểu biết mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho học viên lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và đảng viên mới là một nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực công tác tư tưởng chính trị của Đảng, có vị trí, tầm quan trọng trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên của Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Vị trí, tầm quan trọng của rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú bắt nguồn từ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(4) và “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(6). Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thông qua đường lối, chủ trương đúng đắn, được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật; thông qua sự gương mẫu thực hiện của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Toàn bộ sức mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được tạo thành từ tố chất và năng lực của từng đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(7). Đối với những quần chúng ưu tú chuẩn bị kết nạp vào Đảng, việc học tập, bồi dưỡng về chính trị là để có điều kiện hiểu biết, nắm vững những kiến thức cơ bản và có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có cơ sở lý luận để tiếp tục phấn đấu được đứng vào hàng ngũ của Đảng và trở thành đảng viên chính thức của Đảng. Đồng thời, quần chúng ưu tú qua rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, có khả năng vận động, lãnh đạo, giáo dục, giác ngộ quần chúng nhân dân tích cực thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII Những năm tới, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường, nhiều nhân tố tích cực và tiêu cực đan xen, đặt ra nhiệm vụ mới đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị. Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, đánh giá: “Công tác phát triển đảng viên được chú trọng; số lượng đảng viên nữ, trẻ, người dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng. Chất lượng đội ngũ đảng viên chuyển biến tích cực, trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị được nâng cao hơn”(8). Tuy nhiên, “một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng của không ít đảng viên chưa đúng, không trong sáng. Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý; tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng”(9). Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do: “Một số tổ chức cơ sở đảng buông lỏng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chưa nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên... Công tác phát triển đảng viên ở một số nơi còn hạn chế, nặng về số lượng, chưa quan tâm giáo dục lý tưởng cách mạng và rèn luyện, thử thách đối với quần chúng phấn đấu vào Đảng; chất lượng một số đảng viên mới còn hạn chế”(10). Trong thời gian tới, trước những yêu cầu mới của tình hình, Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra 3 quan điểm, trong đó nhấn mạnh: “Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng... Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, quan tâm phát triển đảng viên trong đoàn viên thanh niên và công đoàn, hội viên ưu tú, quần chúng tiêu biểu, nhất là ở địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”(11). Nghị quyết xác định mục tiêu: Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2020 - 2030 đạt từ 3% - 4% tổng số đảng viên. Đồng thời, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên, trong đó nhấn mạnh: Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy trong công tác phát triển Đảng; xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển đảng viên của cả nhiệm kỳ và hằng năm; tạo môi trường thuận lợi để quần chúng giác ngộ lý tưởng, có động cơ trong sáng, rèn luyện, phấn đấu vào Đảng; tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác ở địa bàn, tổ chức, đơn vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên để tập hợp quần chúng, tạo nguồn, giới thiệu đoàn viên, hội viên ưu tú, xây dựng lực lượng cho Đảng; đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp vào Đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng(12). Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 61-HD/BTGTW, ngày 16-6-2022, “Về thực hiện chương trình bồi dưỡng nhận thức về Đảng”, với mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả của công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, góp phần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc khoa học đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú, theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII và Hướng dẫn số 61-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau: Một là, cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho quần chúng về vai trò, ý nghĩa của việc học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Mỗi quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng sẽ trở thành “hạt giống quý” của Đảng; do đó, phải đề cao hơn nữa vai trò, ý thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc định hướng chính trị cho quần chúng, bởi đây là cơ sở hàng đầu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bồi dưỡng, học tập lý luận chính trị, khắc phục tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị của quần chúng hiện nay. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý của các cấp chính quyền, thực hiện tốt sự phân công, phân cấp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Hai là, phát huy tinh thần tích cực, tự giác học tập lý luận chính trị của quần chúng ưu tú. Bản thân mỗi quần chúng ưu tú phải tự ý thức được tinh thần, trách nhiệm, thấy được tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, trong đó có học tập lý luận chính trị. Xây dựng, thiết kế nội dung học tập cho quần chúng phải toàn diện, từ lý luận chính trị, bổ sung kiến thức chuyên môn cần thiết đến rèn luyện phương pháp, kỹ năng, hoạt động trong phong trào thực tiễn; học tập trong trường, lớp và học tập từ thực tế công việc, trong cuộc sống và học hỏi nhân dân... Ba là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách quần chúng trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn. Cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên chăm lo thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho quần chúng ưu tú, nhất là đối tượng đoàn viên thanh niên, công đoàn, hội viên hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh... thông qua các hình thức, như học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, khuyến khích tổ chức các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đối tượng kết nạp vào Đảng ngay tại cơ sở để học viên tiết kiệm được thời gian đi lại; tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng ưu tú được đi học thêm văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ chính trị; tổ chức các buổi tọa đàm, báo cáo chuyên đề, gặp gỡ đối thoại với những gương điển hình tiên tiến... Sau đó, cho quần chúng ưu tú viết bài thu hoạch nhận thức về Đảng với các nội dung đã được học tập, bồi dưỡng. Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng về chính trị thì khâu rèn luyện, thử thách quần chúng ưu tú trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn rất cần được quan tâm sâu sát, tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “học đi đôi với hành”, giữa lý luận với thực tiễn. Cấp ủy cơ sở cần tổ chức các phong trào thi đua yêu nước để phát triển, bồi dưỡng, tạo nguồn quần chúng ưu tú cho Đảng; chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể, thông qua các phong trào thi đua yêu nước, nhất là việc thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có hiệu quả, để tạo môi trường thuận lợi cho quần chúng ưu tú tham gia các hoạt động, các phong trào thực tiễn. Giao cho họ thực hiện những công việc khó, đòi hỏi sự nhiệt tình, xung kích, giúp quần chúng có điều kiện phát huy khả năng, bộc lộ suy nghĩ, nhận thức, nguyện vọng qua việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và hoạt động công tác xã hội; phân công đảng viên kèm cặp, giáo dục, giúp đỡ để phát hiện những nhân tố tích cực, tiên tiến, thực sự là đoàn viên, hội viên ưu tú, từ đó giới thiệu với Đảng xem xét kết nạp. Bốn là, tăng cường hiệu quả việc sử dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú. Quần chúng thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, sự khác biệt về giới tính, tâm lý, lứa tuổi dẫn đến nhận thức về chính trị của mỗi người cũng khác nhau. Chủ động sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để tuyên truyền, giáo dục chính trị cho quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp cho mỗi cá nhân thận trọng hơn khi tham gia mạng xã hội, tích cực tìm hiểu, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là nguồn chính thống, cẩn trọng khi đăng tải bài viết, “thích” hoặc chia sẻ các liên kết và tham gia bình luận các chủ đề trên mạng xã hội. Khuyến khích quần chúng ưu tú mạnh dạn bảo vệ những điều đúng, lẽ phải, tạo sự lan tỏa tích cực tại địa phương, cơ quan, đơn vị và dám đấu tranh chống lại những điều sai trái, tiêu cực, những thông tin phiến diện, xuyên tạc, xấu, độc. Quần chúng ưu tú cần phát huy thế mạnh về công nghệ thông tin, công nghệ số, là cầu nối tin cậy, kịp thời triển khai tuyên truyền các nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cung cấp thông tin chính thống, thông tin tích cực, định hướng đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực, nhất là trên không gian mạng. Năm là, chú trọng, tăng cường các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn để rèn luyện, thử thách quần chúng ưu tú. Các tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ, cựu chiến binh, hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên phát động các phong trào, như “Tuổi trẻ xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”... Qua các phong trào, các hoạt động thực tiễn nhằm phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, năng động, sáng tạo của tuổi trẻ trong việc đề ra các hoạt động, mô hình, giải pháp để giải quyết các vấn đề mà người dân quan tâm; đồng thời, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đông đảo đoàn viên, thanh niên, hội viên hội phụ nữ...; qua đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các công trình, hoạt động của các tổ chức đoàn, hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, quần chúng ưu tú mới bộc lộ, chứng minh khả năng trong công tác vận động nhân dân, đồng thời nâng cao uy tín của từng quần chúng ưu tú trong việc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại địa phương, cơ quan, đơn vị. Sáu là, cấp ủy, tổ chức đảng làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc giới thiệu quần chúng ưu tú tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chính trị; quản lý chặt chẽ học viên từ khi bắt đầu tham gia đến khi kết thúc khóa học. Đổi mới nội dung, phương pháp truyền đạt, học tập, kiểm tra, quản lý và đánh giá kết quả học tập; có giải pháp nhằm đánh giá học viên sau đào tạo, bồi dưỡng... Thực tế cho thấy rằng, để làm tốt công tác phát triển đảng viên từ quần chúng ưu tú cần phải có sự tích cực, chủ động từ phía tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân... và các cấp ủy. Việc kết nạp đảng viên mới phải lấy chất lượng là chính, kết nạp đúng tiêu chuẩn những quần chúng ưu tú vào Đảng, không chạy theo số lượng; đồng thời, khắc phục tình trạng thực hiện chậm, hoặc chưa quan tâm đúng mức tới công tác phát triển đảng viên mới từ quần chúng ưu tú ở một số tổ chức cơ sở đảng hiện nay./. ---------------- (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 109 (2) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 4 (3) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr. 8 (4), (5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 6, tr. 30, 32 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 113 (8), (9), (10), (11) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 155, 157 - 158, 158 - 159, 160 - 161 (12) Xem: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Sđd, tr. 176 - 177 Nguồn: Tạp chí Cộng sản

Cống hiến của đồng chí Võ Chí Công trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Với hơn 80 năm hoạt động cách mạng, ở những cương vị công tác khác nhau, đồng chí Võ Chí Công(1) đã trải qua những chặng đường đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng, oanh liệt và vẻ vang. Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí luôn thể hiện là người cộng sản kiên trung, bất khuất, một cán bộ tài năng, trực tiếp lãnh đạo phong trào, đồng thời có những đóng góp quan trọng vào việc hoạch định đường lối của Đảng, góp phần đưa cách mạng vượt qua những khó khăn, thử thách để đi đến thắng lợi. Bám sát cơ sở, nhạy bén nắm bắt thực tiễn, trung thành và kiên định, đóng góp rất quan trọng vào việc hoạch định đường lối kháng chiến giải phóng dân tộc Một trong những cống hiến xuất sắc của đồng chí Võ Chí Công là đề xuất với Trung ương những vấn đề mang ý nghĩa chiến lược trong giữ gìn lực lượng và phát triển phong trào cách mạng giai đoạn khó khăn nhất, khẳng định phải sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, góp phần quan trọng vào việc hình thành Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), chỉ ra con đường phát triển cơ bản của cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, trù liệu tình hình sẽ hết sức phức tạp, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đồng chí Võ Chí Công (đang tham gia cải cách ruộng đất ở Việt Bắc) bí mật trở lại Khu 5, chỉ đạo cách mạng trong tình hình mới. Lúc này, cách mạng miền Nam, trước sự đánh phá liên tục và tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đang bị thiệt hại rất lớn. Tại Liên khu 5, địa bàn có nhiều vùng tự do rộng lớn, các đảng bộ bị thiệt hại nặng. Đến cuối năm 1957, vùng đồng bằng bị thiệt hại 70% số chi ủy viên, 60% số huyện ủy viên và 40% số tỉnh ủy viên, 12 huyện không còn cơ sở đảng(2). Trưởng thành trong gian khó của phong trào đấu tranh cách mạng, đồng chí Võ Chí Công là người cộng sản kiên định, gian khổ không sờn lòng, khó khăn không lùi bước. Trên cương vị Phó Bí thư Liên khu ủy 5, với trách nhiệm của người lãnh đạo phong trào, đồng chí luôn trăn trở về đường lối và phương pháp đấu tranh ở miền Nam. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ thực tiễn cùng Liên khu ủy chỉ đạo giữ gìn lực lượng và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí nhận định: “đồng bào dân tộc có ưu thế chính trị trong đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp với địch..., mặc dù địch tiến hành đủ kiểu đàn áp khủng bố, càn quét, nhưng lực lượng đảng viên, phong trào quần chúng vẫn được củng cố và phát triển”(3). Đây là cơ sở để các đồng chí lãnh đạo Liên khu ủy đúc rút kinh nghiệm: Muốn đấu tranh thắng lợi với địch phải có đấu tranh vũ trang. “Kinh nghiệm quý báu nhất ở Khu 5 trong thời kỳ này là ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng ở miền núi và biết dùng bạo lực quần chúng nên phong trào miền núi tồn tại và phát triển. Đó là kinh nghiệm cơ bản nhất, là thành công nhất”(4). Với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, vận dụng sáng tạo lý luận về bạo lực cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể ở miền Nam, đồng chí cho rằng, dùng “bạo lực chống lại bạo lực mới thắng được địch. Nếu không dùng bạo lực mà chỉ dùng đấu tranh chính trị thì cách mạng sẽ thất bại”(5). Năm 1958, đồng chí Võ Chí Công ra Bắc dự họp Bộ Chính trị và Trung ương bàn về cách mạng miền Nam. Với kinh nghiệm thực tế chiến trường, đồng chí nhất trí cao với bản Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Nam bộ soạn thảo (cuối năm 1956). Được gặp Bác Hồ và đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Võ Chí Công phản ánh với Trung ương những tâm tư, nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Liên khu 5, sự trăn trở của đồng chí trước những hành động khủng bố, đàn áp của kẻ thù. Tham dự Hội nghị Trung ương 15 (tháng 1-1959), đồng chí có nhiều ý kiến đóng góp sắc bén; giúp cho Hội nghị có thêm cơ sở thực tiễn từ chiến trường Liên khu 5 và Nam Bộ, để quyết định chuyển phong trào cách mạng ở miền Nam từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 mở ra thời kỳ đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, đưa phong trào cách mạng miền Nam vượt qua khó khăn, thử thách. Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đánh giá về vai trò của đồng chí Võ Chí Công: “Trong những ngày đen tối của cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã nhận được những ý kiến nhận định, đánh giá sát thực về tình hình cách mạng miền Nam của đồng chí Võ Chí Công. Trên cơ sở ý kiến của đồng chí cùng với bản Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, Ban Chấp hành Trung ương đã xây dựng nên Nghị quyết 15 lịch sử, mở đầu thời kỳ đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù ở miền Nam”(6). Sau khi dự Hội nghị Trung ương 15, đồng chí Võ Chí Công trở về căn cứ. Trên cương vị Bí thư Liên khu ủy 5(7), đồng chí triệu tập hội nghị truyền đạt chủ trương mới của Đảng; góp phần quan trọng làm cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 nhanh chóng đi vào thực tiễn, thấm sâu vào từng cán bộ, đảng viên. Đồng chí tỏ thái độ cương quyết ủng hộ quần chúng nổi dậy đánh địch càn quét ở một số địa phương. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa Trà Bồng ở miền Tây Quảng Ngãi cuối tháng 8-1959 buộc địch rút khỏi nhiều đồn bốt, giải phóng một vùng rộng lớn, chống cuộc càn quét của một sư đoàn địch giành thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng có ý nghĩa sâu sắc với thực tiễn cách mạng. Tuy nhiên, trong hàng ngũ lãnh đạo và cán bộ địa phương cơ quan Liên khu ủy cũng có những ý kiến băn khoăn: Hành động như thế là đúng hay sai? Sớm hay kịp thời? Chủ động hay bị động?(8). Đồng chí Võ Chí Công về Quảng Ngãi, trực tiếp đến tận Trà Bồng xem xét và đánh giá, cùng các đồng chí trong Tỉnh ủy bàn bạc, phân tích tình hình và đi đến quyết định biểu dương và lấy điển hình này nhân rộng ra các địa phương khác. Đồng chí Võ Chí Công kết luận: “Cuộc nổi dậy của nhân dân Trà Bồng nổ ra kịp thời, có chuẩn bị, có lãnh đạo, đứng vững được, đi đúng đường lối cách mạng miền Nam, đóng góp nhiều kinh nghiệm quý báu cho việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười lăm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II”(9). Nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, kiên quyết, nhạy bén, chỉ đạo chớp thời cơ, dám đánh và quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược Tháng 10-1961, đồng chí Võ Chí Công được Trung ương chỉ định giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Chí Công. Ngay khi nhận nhiệm vụ, đồng chí cùng tập thể Trung ương Cục miền Nam đề ra nhiều quyết sách đúng đắn, giải quyết những vấn đề cấp bách mà thực tiễn cách mạng miền Nam đặt ra. Tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất(10), đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Giữ cương vị này một thời gian, tháng 4-1964, Bộ Chính trị điều đồng chí Võ Chí Công trở lại Khu 5, giữ chức Bí thư Khu ủy Khu 5(11) kiêm Chính ủy Quân khu 5, đồng thời là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Trong lúc phong trào cách mạng Khu 5 đang gặp nhiều khó khăn, đồng chí Võ Chí Công là hạt nhân lãnh đạo, góp phần giữ vững và đưa phong trào cách mạng đi lên. Cống hiến quan trọng của đồng chí là xốc lại tình hình, phê phán tư tưởng hữu khuynh, phát động phong trào tự phê bình và phê bình trong Khu ủy. Đồng chí chủ trì họp Hội nghị Thường vụ Khu ủy (tháng 6-1964), tiến hành tự phê bình về những thiếu sót trong chỉ đạo phong trào cách mạng, khẳng định đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị là những hình thức đấu tranh cơ bản, có vai trò, ý nghĩa quyết định trong phong trào cách mạng ở miền Nam. Đồng chí nhanh chóng vực dậy phong trào và đưa phong trào cách mạng giành được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng. Đồng chí đã cùng Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo quyết liệt công cuộc phá ấp chiến lược ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, khắc phục tình trạng “chạy xà đùa” khi đối đầu với chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ - ngụy. Sự tham gia chỉ đạo kịp thời của đồng chí đã giúp cho phong trào cách mạng miền Nam tháo gỡ được những khó khăn, lúng túng, từng bước tiến lên đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Cuối năm 1964, đầu năm 1965, trước những đòn tiến công dồn dập của quân và dân ta trên chiến trường, để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam. Khu 5, với vị trí chiến lược nối hai miền đất nước, là địa bàn phải đối mặt với kẻ thù đầu tiên, nơi tập trung tới 2/3 số quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Những căn cứ quân sự lớn của Mỹ ở Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Pleiku, Cam Ranh được xây dựng. Chủ động, quyết tâm đánh đế quốc Mỹ và tìm cách thắng đế quốc Mỹ là yêu cầu đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong những năm tháng thử thách vô cùng ác liệt đó. Nắm bắt tâm lý gờm Mỹ, ngại Mỹ xuất hiện trong một bộ phận cán bộ và nhân dân, đồng chí Võ Chí Công đã cùng với Khu ủy Khu 5 quyết định đẩy mạnh công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kiên trì phương châm đấu tranh cả về quân sự và chính trị, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Tinh thần tiến công cách mạng không ngừng cùng với những quyết sách nhạy bén, táo bạo của đồng chí Võ Chí Công đã góp phần ổn định tư tưởng, củng cố quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Khu 5. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 11 (tháng 3-1965) về chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam nếu địch gây ra, nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, ngay trong tháng 3-1965, Khu ủy Khu 5 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Võ Chí Công, chủ trương kiên quyết dựa vào thế trận, lực lượng sẵn có, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động tiến công địch. Hội nghị cán bộ trung - cao cấp toàn Quân khu 5 được tổ chức, thảo luận mấy vấn đề cơ bản: Việc đế quốc Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam là chủ động hay bị động? Ta có thể đánh và thắng quân Mỹ không? Và đánh thắng như thế nào? Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi, phân tích thực tiễn chiến trường, hơn 200 cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nhất trí với câu trả lời: Mỹ vào là bị động, ta có khả năng đánh thắng quân chiến đấu Mỹ. Hội nghị chủ trương: “Củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng vành đai diệt Mỹ ở những nơi có quân chiến đấu Mỹ, tổ chức đánh phủ đầu quân Mỹ… phát động phong trào quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ trong toàn khu”(12). Chủ trương xây dựng vành đai diệt Mỹ chứng tỏ sự nhạy bén, sáng tạo của lãnh đạo Khu ủy, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của đồng chí Võ Chí Công, trước tình hình vô cùng thử thách của cách mạng, cho thấy tinh thần táo bạo trong chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở một địa bàn mà chiến tranh diễn ra ác liệt nhất, ở địa phương đầu tiên phải đối đầu với quân Mỹ. Đêm 25 rạng ngày 26-5-1965, Đại đội 2, Tiểu đoàn 70 tỉnh Quảng Nam thực hiện trận đầu tiên đánh phủ đầu quân Mỹ ở Núi Thành, tiêu diệt được 1 đại đội quân Mỹ trong 30 phút. Thắng lợi của trận Núi Thành (trên vành đai diệt Mỹ Chu Lai) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đây là trận đánh thắng quân Mỹ đầu tiên ở miền Nam, củng cố và khẳng định lòng tin, quyết tâm đánh Mỹ, phát động tinh thần dám đánh và quyết đánh thắng Mỹ trong toàn dân và lực lượng vũ trang cả nước. Trận Núi Thành xuất hiện khẩu hiệu hành động “tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”. Quân khu 5 đã tổng kết và phát động phong trào đánh Mỹ trong toàn khu. Từ thực tiễn những trận đánh quân Mỹ ở Núi Thành (tháng 5-1965), Vạn Tường (tháng 8-1965) và xung quanh căn cứ Chu Lai, Đà Nẵng..., quân và dân Khu 5 là địa phương đi đầu trong việc tìm ra cách đánh và cách thắng đế quốc Mỹ. Thành tích kháng chiến của quân, dân Khu 5 góp phần để Trung ương Đảng nhận định sát tình hình, đề ra nhiều quyết sách quan trọng. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12 của Đảng (tháng 12-1965) hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh cả nước kiềm chế và đánh thắng giặc Mỹ trên chiến trường miền Nam. Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược Mỹ. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Khu ủy Khu 5 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Võ Chí Công đã họp hội nghị quán triệt chỉ thị, chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Tuy nhiên, trong lúc lực lượng của khu và các tỉnh trong khu đã ém sát các địa bàn hoạt động ở các đô thị, thì lại có lệnh chuyển ngày khởi nghĩa. Với cương vị Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, đồng chí Võ Chí Công kiên quyết đề đạt với Trung ương cho Khu 5 nổ súng theo ngày đã định. Sự chỉ đạo linh hoạt đó không chỉ giúp ta làm chủ được một số thành phố theo yêu cầu đề ra, mà còn tránh tổn thất cho lực lượng cách mạng. Trên thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân, dân Khu 5 là cuộc tiến công có tính chiến lược, với quy mô rộng khắp, là một trong những chiến công oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Khu 5, góp phần cùng miền Nam giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ(13). Sự nhạy bén của một bộ óc lãnh đạo mẫn cảm với thời cơ được đồng chí thể hiện rõ nét nhất trong chiến dịch mùa Xuân năm 1975. Vào những tháng ngày cuối cùng quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước nguy cơ tan rã của Quân đoàn 1 ngụy quân tại Đà Nẵng, đồng chí đề xuất với Bộ Chính trị và đồng chí Lê Duẩn nên chớp thời cơ để giải phóng nhanh Đà Nẵng. Suy nghĩ táo bạo và kịp thời của đồng chí Võ Chí Công đã giúp quân và dân ta nhanh chóng đánh tan 10 vạn quân ngụy, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng - thành phố lớn thứ 2 ở miền Nam, góp phần đưa chiến dịch Hồ Chí Minh đến toàn thắng vào ngày 30-4-1975. Với những đóng góp to lớn, đồng chí Võ Chí Công là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc trong phong trào đấu tranh cách mạng, người con ưu tú của mảnh đất Quảng Nam - Ðà Nẵng trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ. Đất nước thống nhất, với tài năng, uy tín của mình, đồng chí Võ Chí Công tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao phó nhiều trọng trách. Phát huy kinh nghiệm trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là kinh nghiệm trong lãnh đạo ở Khu 5, đồng chí Võ Chí Công đã có sự vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dù ở cương vị công tác nào, đồng chí cũng để lại nhiều dấu ấn quan trọng, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Với những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí Võ Chí Công trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, một anh “Năm Công” gần gũi và trìu mến trong lòng nhân dân. Quá trình hoạt động cách mạng liên tục, trải qua nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau, dù ở đâu, làm việc gì, đồng chí cũng đem hết trí tuệ, tài năng, sức lực để cống hiến cho Đảng và nhân dân, luôn đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên, lên trước lợi ích cá nhân. Nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Võ Chí Công, chúng ta nguyện học tập tấm gương sáng của đồng chí, quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. ----------------------- (1) Đồng chí Võ Chí Công tên khai sinh là Võ Toàn, sinh ngày 7-8-1912, tại làng Khương Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay thuộc thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. (2) Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước/ Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 310 (3) Võ Chí Công: Trên những chặng đường cách mạng (hồi ký), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 176 (4) Một số ý kiến về lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng bộ Khu 5 từ năm 1954 đến năm 1970 - Ý kiến của anh Năm Công gửi Trường Đảng khu Khóa 16, Tài liệu Viện Lịch sử Đảng. K5/23.6, 13 (5) Võ Chí Công: Trên những chặng đường cách mạng (hồi ký), Sđd, tr. 178 - 179 (6) Đỗ Mười: Đồng chí Võ Chí Công - Người cộng sản kiên cường - Nhà lãnh đạo tài năng của Đảng. In trong sách: Ban Tuyên giáo Trung ương - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Tỉnh ủy Quảng Nam: Đồng chí Võ Chí Công với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 27 (7) Cuối năm 1958, Trung ương điều động đồng chí Trần Lương ra Trung ương, đồng chí Võ Chí Công giữ cương vị Bí thư Liên khu ủy. (8) Tỉnh ủy Quảng Nam - Ban Tuyên giáo: Kỷ yếu Hội thảo căn cứ Liên Khu ủy 5 tại các huyện Bến Hiên, Bến Giằng, tỉnh Quảng Nam (1955-1959), Tam Kỳ, tháng 7-2012, tr. 39 (9) Tỉnh ủy Quảng Nam: Võ Chí Công - Người con ưu tú của quê hương Quảng Nam Đà Nẵng, 2008, tr. 325 (10) Từ ngày 16-2 đến ngày 3-3-1962 (11) Từ 5-1961, Bộ Chính trị quyết định tổ chức chiến trường Liên khu 5 thành 2 khu: Khu 5 và Khu 6, thành lập Quân khu 5 và Quân khu 6. (12) Bộ Tư lệnh Quân khu V: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (thời kỳ 1954 - 1968), 1989, t. II, tr. 205 (13) Trong đợt này, quân và dân Khu V đã tiến công vào 10 thành phố, thị xã, 20 thị trấn (quận, lỵ), diệt 20.000 quân địch, đánh thiệt hại nhiều cơ quan hành chính tỉnh, quận, nhiều cơ quan chỉ huy quân sự địch. Nguồn: Tạp chí Cộng sản

CẢNH GIÁC VỚI TÀ ĐẠO "ĐẠO TRỜI THÁI BÌNH"

 

Đạo Trời Thái Bình' là tà đạo, không được phép hoạt động tại Việt Nam. Người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không để các đối tượng lôi kéo tham gia.

Thời gian qua, sự xuất hiện và phát triển của các “hiện tượng tôn giáo mới” đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh, trật tự. Ngoại trừ một số ít tổ chức hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật, mong muốn được Nhà nước cấp đăng ký hoạt động, công nhận tư cách pháp nhân, thì các “hiện tượng tôn giáo mới” đều mang tính mê tín dị đoan, hoạt động “tà đạo”, phản khoa học; tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó có “Đạo Trời Thái Bình”, một tà đạo vừa mới được phát hiện trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

“Đạo Trời Thái Bình” hay còn gọi là “Pháp Vương Như Ý” do Hoàng Sonny (Việt kiều Canada tự xưng “Đức Thầy Danh Vô Thị”, “Phật Di Lặc tái thế”) khởi xướng từ năm 2012; hình thức sinh hoạt chủ yếu là ngồi thiền kết hợp với ngâm thơ, ca hát dựa trên nền tảng triết lý của Phật giáo; thờ Phật Di Lặc, Phật A Di Đà và Phật Quan Âm.

Với thủ đoạn lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” gắn với nhu cầu về sức khỏe, “Đạo Trời Thái Bình” đã lôi kéo được một bộ phận người dân tham gia ở các địa phương như Lâm Đồng, Tiền Giang, Đồng Nai, Hải Phòng… Họ tuyên truyền rằng thế giới đang ở kỳ ba, kỷ nguyên của Phật Di Lặc, thế giới đang thay đổi, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm phóng xạ, nguồn nước… nếu không tu hành sẽ bị diệt vong trong ngày Long Hoa Đại Hội (ngày đắc đạo và cũng là ngày tận thế). Những người tham gia phải ngồi thiền, đọc kinh, ăn chay các ngày 01, 14, 30 âm lịch hàng tháng để được đắc đạo, trở thành thần, thánh tiên.

Trên địa bàn tỉnh Bình Phước, ngày 5/10/2022, nhận được tin báo của người dân, cơ quan Công an đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn 2 đối tượng (là mẹ con, cùng trú TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương) có hành vi tuyên truyền, lôi kéo người tham gia “Đạo Trời Thái Bình” tại phường Tân Xuân, TP Đồng Xoài.

Tại hiện trường, cơ quan Công an thu giữ được một số tài liệu và vật phẩm liên quan. Đây cũng là lần đầu tiên “Đạo Trời Thái Bình” được phát hiện trên địa bàn tỉnh. Hiện vụ việc đang được tiếp tục xác minh, làm rõ.

“Đạo Trời Thái Bình” là tà đạo, không được phép hoạt động tại Việt Nam, cần phải kiên quyết ngăn chặn, lên án và xóa bỏ. Người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không để các đối tượng lôi kéo tham gia. Khi phát hiện hoạt động liên quan đến “Đạo Trời Thái Bình” phải báo ngay cho cơ quan Công an gần nhất hoặc chính quyền địa phương để kịp thời xử lý.


Nguồn: CAND.com

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ

 Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: "Một người lo bằng kho người làm", triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi "nhà dột từ nóc".

Lại có câu ca dao: "Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào" là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải "lo" đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại "nhúng chàm" để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành "tấm gương mờ" để người đời bêu riếu... "Tài" và "đức" là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có "tài" nhưng còn thiếu "đức". Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"(1). Những "tấm gương mờ" kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không "gánh được nặng" và chẳng "đi được xa".

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là "cần, kiệm, liêm, chính". Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự "thực hành": "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời"(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức "vô liêm", không trong sạch thì làm sao "được lòng dân". Người xưa rất coi trọng chữ "liêm". Cụ Khổng Tử mỉa mai: "Người mà không liêm, không bằng súc vật". Cụ Mạnh Tử trăn trở: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy". Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về "tấm gương" của Napoléon "đại tài nhưng tham lam", từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: "Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không "tri túc" (chừng mực) mà thất bại"(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng "kết quả bị rơi xuống đất", theo Bác Hồ có 3 lý do là "tham lam", "không khiêm tốn", "không biết lượng sức mình". Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng "đã làm con giời lại muốn làm cả giời". Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và "kết quả" thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!

Phật giáo coi tính "tham" là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến "bể khổ". Khổng Tử coi sự "tham lợi" chỉ có ở kẻ "tiểu nhân". Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: "Ít lòng tham muốn về vật chất"! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ "trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng", đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: "Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách "hứa" sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ "làm gương" như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương "đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ"(4). Hình tượng ẩn dụ "cây" Đảng ta tươi tốt là nhờ "gốc rễ" được "thấm nhuần" máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: "Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được"(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào "sáng" hơn "đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng".

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ "coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài"(6). Xa dân nên thành "quan cách", không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không "cần kiệm" mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía "một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào" nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy "hoang phí là một tội ác" thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý "chín bỏ làm mười", "xuê xoa", "an phận thủ thường", "đấu tranh là... tránh đâu"... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải "gương mẫu", "nêu gương", phải là "đầu tàu"... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải "thực hành trước" các nguyên tắc "Cần, kiệm, liêm, chính", "chí công", "vô tư" . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!


CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG VẪN ĐANG TIẾP DIỄN

 Sáng 15/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội thuộc Đơn vị bầu cử số 1 thành phố Hà Nội đã tiếp xúc cử tri các quận: Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, chuẩn bị cho kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV. Tại Hội nghị, cử tri đã nghe đại biểu Nguyễn Quốc Duyệt (Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô) báo cáo về dự kiến nội dung kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV.

Tại hội nghị, các cử tri bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cử tri đánh giá rất cao công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Cử tri cũng bày tỏ tiếc nuối khi vừa qua nhiều cán bộ cấp Trung ương và nhiều công chức đã bị bắt để điều tra vi phạm pháp luật ở các lĩnh vực, ngành nghề. Đặc biệt, vụ đại án Việt Á khiến 100 người đã bị bắt là con số rất đau xót.

Cử tri đề nghị Quốc hội, Chính phủ tăng cường các giải pháp để kiểm soát quyền lực, bởi vẫn còn tình trạng cán bộ lạm quyền, lộng quyền, cơ quan cấp dưới ban hành những quy định vượt thẩm quyền, chưa phù hợp. Cử tri cũng đề nghị nâng cao vai trò giám sát của các đại biểu Quốc hội hơn nữa. Các cử tri đánh giá, việc 7 Ủy viên Trung ương Đảng bị xử lý khai trừ, cách chức, cho thôi giữ chức vụ trong hơn một năm qua được dư luận đánh giá rất cao…

Lắng nghe ý kiến cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá, các ý kiến đều ngắn gọn, sâu sắc và sát thực tiễn. Đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, vừa qua, Trung ương đã xử lý rất quyết liệt vấn đề này. Những cán bộ vi phạm kỷ luật đều bị xử lý rất nghiêm khắc, nhất là cán bộ nắm trong tay quyền lực lại "bè cánh", "móc nối", "lợi ích nhóm" như ở tỉnh Hải Dương vừa qua.

Theo Tổng Bí thư, tại Hội nghị Trung ương 6 mới đây đã kỷ luật Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương ở mức cao nhất là cách chức Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, khai trừ Đảng. Cách thức xử lý đối với cán bộ vi phạm được Trung ương thực hiện công khai, minh bạch, khách quan, rõ đến đâu làm đến đấy. Quy trình xử lý có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, thống nhất từ xử lý về mặt Đảng, chính quyền đến pháp luật. Với tinh thần giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe là chính để những người khác không vi phạm.

"Vì sự tiến bộ chung, vì để giáo dục người khác đừng đi vào vết xe đổ ấy, Trung ương buộc phải làm và yêu cầu các cấp cũng phải làm như Trung ương", Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư cho biết, Trung ương cũng vừa ra quy định rất mới về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Trong đó, khuyến khích cán bộ bị kỷ luật từ chức hoặc chuyển sang công việc khác phù hợp hơn. Vừa qua, một số đồng chí đã chủ động xin rút không tham gia Ban Chấp hành Trung ương, xin từ chức.

Nhấn mạnh, cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn đang còn tiếp diễn, Tổng Bí thư cho biết, những vụ trọng tâm, trọng điểm đang làm. "Những vụ từ cách đây nhiều năm rất ghê gớm, đều sẽ được đưa ra ánh sáng. Ai bao che, ai bỏ trốn rồi cũng sẽ bị xử lý", Tổng Bí thư nói, đồng thời lưu ý phải cảnh giác trước những thông tin do các thế lực cơ hội, phản động xuyên tạc về mục đích, ý nghĩa của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua.


QUÂN ĐỘI SẴN SÀNG ỨNG PHÓ VỚI CÁC TÌNH HUỐNG THIÊN TAI

 Ngày 17-10, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam có điện yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung khắc phục hậu quả bão số 5, giúp nhân dân vận chuyển lương thực, thực phẩm, hàng cứu trợ, ổn định đời sống; thường xuyên cập nhật, nắm chắc diễn biến mưa lũ, bão số 6, duy trì chặt chẽ chế độ ứng trực cứu hộ, cứu nạn ở các cấp, tuyệt đối không được lơ là, chủ quan; có biện pháp bảo đảm an toàn doanh trại, kho tàng và vũ khí trang bị.

Cùng với đó, các đơn vị chủ động lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó, tìm kiếm cứu nạn khi có tình huống; chú ý bảo đảm an toàn khi làm nhiệm vụ.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình bão, mưa lũ diễn biến phức tạp, cấp ủy, chỉ huy các quân khu, quân chủng, binh chủng tăng cường bám nắm, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền chủ động phối hợp với đơn vị chức năng tham mưu với chính quyền địa phương kiểm tra các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt, dễ bị chia cắt, cô lập để sơ tán nhân dân đến nơi an toàn; triển khai công tác ứng phó theo phương châm “4 tại chỗ”, sẵn sàng điều động lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả bão, mưa lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất và các sự cố đê, kè, hồ đập...

Cùng ngày, Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cũng ban hành công điện về việc tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong phòng, chống, khắc phục hậu quả mưa lũ tại miền Trung và Tây Nguyên, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật, thực hiện tốt công tác dân vận, chính sách; chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt-việc tốt trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ; kịp thời động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai.


NGƯỜI ANH HÙNG 53 LẦN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ "DŨNG SỸ DIỆT MỸ"

 Anh hùng Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, tại thôn Mỹ Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Năm 1965, ông viết thư xin gia nhập quân ngũ, tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam, và được điều động vào chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên.

Từ năm 1967 đến năm 1970, Anh hùng Trịnh Tố Tâm tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, ông đã chỉ huy đơn vị mình đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch (trong đó có 700 tên lính Mỹ), phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tầu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng ông diệt 272 tên địch (trong đó có 185 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.

Với những chiến công lớn, Trịnh Tố Tâm đã được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 2 hạng Ba) và 53 lần được công nhận là “Dũng sỹ”. Ngày 20-9-1971, Trịnh Tố Tâm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1996, Anh hùng Trịnh Tố Tâm mắc bệnh hiểm nghèo do ảnh hưởng của chất độc hóa học trong thời gian tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên và qua đời hưởng Thọ 51 tuổi.


LỊCH SỬ RỒI SẼ ĐI VỀ ĐÂU


Nghe một bạn trẻ sinh viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội trả lời câu hỏi "Bác Hồ sinh năm bao nhiêu?", rằng: "Bác Hồ sinh năm 1989" mà thấy đau lòng.


Vậy mà lúc nào cũng nói "Bác Hồ vĩ đại", "cháu yêu Bác Hồ Chí Minh" nhưng Bác sinh năm bao nhiêu cũng không biết. Chịu thật đấy!!!


Lịch sử đấy, lịch sử Việt Nam hẳn hoi chứ không phải cái gì xa lạ cả. Còn nhớ, cách đây ít lâu có người lại cho rằng cần phải đặt môn Lịch sử vào trong nhóm các môn tự chọn, khéo đến lúc ấy hỏi Bác Hồ là ai cũng không biết. 


Nói thì hơi ngoa, nhưng tình trạng mơ hồ lịch sử trong giới trẻ hiện  nay thì thực sự tôi cảm thấy hơi quan ngại. Trước đây, có em học sinh trả lời rằng Quang Trung - Nguyễn Huệ là hai anh em, có em nó là bạn thân, thậm chí, có em trả lời là........ hai bố con. Thật buồn!!!


Trừ những nhà nghiên cứu lịch sử là những người tinh tường về bộ môn này, còn lại với giới trẻ chúng ta thì chỉ cần hiểu những kiến thức cơ bản của lịch sử là đủ. Và theo tôi, năm sinh, năm mất của Bác Hồ cũng là một trong những là kiến thức cơ bản của lịch sử. Đấy là tôi còn chưa kể đến ngày sinh, ngày mất của Bác cũng cần phải nắm được.


Có thể thấy, một bộ phận giới trẻ hiện nay dường như lãng quên môn lịch sử mà hướng đến những giá trị mà họ cho rằng là văn minh, hiện đại. Có những người thuộc vanh vách ngày tháng năm sinh của một số ca sĩ, diễn viên, nhưng khi hỏi về các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thì tắc tịt.


Không nắm được kiến thức cơ bản của lịch sử lỗi một phần là từ nhà trường, nhưng trước hết là ở các em đã không tự trau dồi kiến thức cơ bản của lịch sử. Ừ thì có thể lúc đó do quá bất ngờ nên các em bị lãng quên nên nói nhầm, nhưng dù sao thì việc trả lời như vậy thì cũng thật là đáng trách.

Chiêu trò bình mới rượu cũ đòi "tự trị dân tộc" vẽ viễn cảnh hão huyền

 Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn, phương thức để tiến hành hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc chống phá nước ta. Trong đó, chúng tập trung vào một số phương thức, thủ đoạn sau:

Một là, triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các “điểm nóng” tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách bôi đen cán bộ lãnh đạo để kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc và cho rằng, chỉ có thành lập “nhà nước mới, quốc gia mới riêng thì mới giàu có, văn minh, phát triển” để lôi kéo, vận động đồng bào DTTS chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.  

Hai là, Lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, thông qua tôn giáo thâm nhập, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như: "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên để hình thành “Nhà nước Đề ga độc lập”; lợi dụng "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; lợi dụng "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... Chúng tập trung móc nối, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào DTTS, học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS, đối tượng cầm đầu, cốt cán các “tà đạo, đạo lạ”, “hiện tượng tôn giáo mới” trong vùng DTTS...

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo, kích động người DTTS, người dân ở vùng sâu, vùng xa chống phá Nhà nước ta. Đây là một thủ đoạn mới hết sức tinh vi mà các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để tác động, mua chuộc đồng bào DTTS; dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế người DTTS, chi phối các địa bàn; qua đó hòng kích động, lôi kéo người DTTS tham gia hoạt động đòi ly khai, tự trị, thành lập “nhà nước riêng”; gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Đặc biệt, thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, kẻ địch còn tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa để thu thập tình hình, cung cấp cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Bốn là, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho một số đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của riêng các DTTS, từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chăm Pa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Lợi dụng “quyền dân tộc tự quyết” làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao với nước ta; gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các DTTS ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

Năm là, tìm mọi cách để tác động quốc hội các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở các vùng DTTS trong nước. Thông qua đó, họ tìm cách vận động các nước, các chính khách, người Việt ở nước ngoài tài trợ vật chất, tiền, phương tiện để tiến hành các hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc đối với nước ta. Họ còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước ta từ bên trong. Bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong như: "Hội người Mông thế giới", "Hội những người miền núi", "Nhà nước Đề ga độc lập"... tăng cường tổ chức biểu tình ủng hộ các đối tượng trong nước hoạt động tích cực, quyết liệt hơn. 

Tự phê bình và phê bình - giải pháp căn cơ khắc phục biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ tư (khóa XIII), về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cùng với tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần thực hiện mục tiêu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, nó là “giặc nội xâm”, kẻ thù ở trong lòng mỗi con người, muốn chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, một trong những biện pháp rất quan trọng là phải tự phê bình và phê bình, Người coi “thang thuốc tốt nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa một cách thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày” và phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống suốt đời. Điều đặc biệt hơn, Người luôn căn dặn rất kỹ về mục đích, cách (phương pháp) tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn; để đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Người còn nhấn mạnh, muốn chưa khỏi bệnh cá nhân chủ nghĩa, tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải lấy lòng nhân ái, thành thật để phê bình đồng chí mình. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm; không “thâm thọc, mỉa mai”, “bới bèo ra bọ, vạch lá tìm sâu”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người; hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và phải sửa chữa cho bằng được… làm được như thế thì sẽ sớm chữa được bệnh cá nhân chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và như thế “Đảng cũng khỏe mạnh vô cùng”.

Thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cần thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để nhận biết rõ những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Muốn nhận thức nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Kết luận số 21-NQ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Quy định về những điều đảng viên không được làm”. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, tiếp tục quán triệt, nghiên cứu, học tập nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trong đó, nghiên cứu kỹ, nắm chắc 5 phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và 10 biểu hiện nhận diện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã thống nhất. Có như vậy mới nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa cá nhân và sự cần thiết, cấp bách phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức cách mạng.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự phê bình và phê bình kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người, nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, nó cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hàng ngày, trước, trong và sau mỗi khi thực hiện nhiệm vụ hoặc ra quyết định nào đó. Từ trong suy nghĩ, hành động phải xem xét thật kỹ lưỡng suy nghĩ ấy, hành động ấy có vướng vào những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân hay không. Phải thiết thực, chân thành lắng nghe ý kiến phê bình thật thà của đồng chí đồng đội, từ đó nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm và biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời, phấn đấu thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức đảng trong thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tế bào của Đảng, đều sinh hoạt trong một tổ chức đảng nhất định. Vai trò, chức năng của các tổ chức đảng là quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua các chế độ sinh hoạt, trong đó tự phê bình và phê bình là một chế độ, đồng thời là vấn đề quy luật trong xây dựng và phát triển Đảng. Do đó, thực hiện một cách có hiệu quả, thường xuyên, liên tục chế độ tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhận ra những khuyết điểm, những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, giao nhiệm vụ, xác định thời gian sửa chữa cho cán bộ, đảng viên, giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Các tổ chức đảng, nhất là chi ủy, chi bộ phải phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thông qua các chế độ sinh hoạt như: sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Trong đó, nêu cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng, phương pháp công tác của bí thư cấp ủy, nhất là trong khơi dậy tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng của mỗi cán bộ, đảng viên.

HỌC NGHỊ QUYẾT, PHẢI HỌC THẬT!

Không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng trách, đáng buồn nhưng ít người dám lên tiếng phản ánh, đấu tranh. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”.


Tại các buổi quán triệt tập trung, vài cá nhân hồn nhiên “đi ra, đi vào”, “nghịch” điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước… Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch…


Những câu chuyện trên cho thấy, hiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Ở nhiều nơi, cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”… mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đây thực sự là một thực tế đáng báo động!


Sự nguy hại nằm ở chỗ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội bằng nghị quyết. Ấy vậy mà việc học nghị quyết lại bị xem nhẹ, hời hợt, hình thức… thì tinh thần, nội dung nghị quyết liệu có thấm, ngấm vào cán bộ, có đi vào thực tiễn? Hay nghị quyết một đằng triển khai một nẻo? Nghị quyết đúng, triển khai sai?


Nguyên nhân của thực trạng trên được ngụy biện rằng, học nghị quyết vốn là nội dung “khô, khó, khổ”; trong khi có quá nhiều nghị quyết phải học tập và việc cân đối thời gian giữa họp hành, công tác với học nghị quyết thường chồng lấn, gây khó cho cán bộ, đảng viên.


Thực chất, đó là những lời chống chế. Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Điều đáng bàn là cách thức tổ chức vẫn chưa được đổi mới căn bản mà chỉ theo lối cũ; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá, kiểm tra. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.


“Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng…” chính là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng xác định. Theo đó, một khi cán bộ, đảng viên rơi vào biểu hiện suy thoái này thì phải có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm túc, triệt để, không có vùng cấm theo kỷ luật Đảng. Phải xem biểu hiện suy thoái này là mối nguy hại đặc biệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo của Đảng.


Nhiều ý kiến cho rằng, đã là học tập nghị quyết thì cần phải bảo đảm các khâu, các bước, các nhân tố của quá trình “dạy” và “học”. Theo đó, người quán triệt, báo cáo chuyên đề nghị quyết cần được lựa chọn kỹ lưỡng-phải là cán bộ thực sự có trình độ, năng lực, uy tín và hiểu sâu sắc về nghị quyết. Nội dung học tập cũng được lựa chọn, khu biệt hoặc lược hóa những vấn đề cần thiết, sát với nhiệm vụ từng cơ quan, địa phương, đối tượng. Phương pháp, hình thức cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của đối tượng; chủ yếu trang bị các vấn đề cơ bản và định hướng nghiên cứu tiếp theo…


Đặc biệt, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng tổ chức học tập nghị quyết phải được xem là khâu quan trọng. Không nên đơn thuần phân cấp tổ chức học tập mà cần có sự đan chéo kiểm tra theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang; kết hợp với việc tổng kết, đúc rút mô hình tổ chức học tập nghị quyết hiệu quả để nhân rộng, phổ biến kinh nghiệm. Kết quả học tập nghị quyết không nên gò ép, giao khoán chỉ tiêu một cách xơ cứng mà cần bám sát thực tế, đánh giá nghiêm túc, thực chất thì mới nêu cao tinh thần, trách nhiệm của đối tượng.


Để giải quyết thấu đáo những phần việc nêu trên, rất cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cơ quan chức năng Trung ương và hệ thống tổ chức đảng các cấp. Có như vậy thì nghị quyết mới sớm đi vào cuộc sống, mà trước hết là đi vào khối óc, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên-những người gánh sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết.

QĐND

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay

 Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong những năm qua, đại đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu đổi mới của đất nước; tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở nước ta. Họ dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”… Họ đưa ra chiêu bài đòi “tự do tôn giáo”, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở Tây Bắc; “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên với “Tin lành Đề ga” làm quốc đạo… hòng kích động, chia rẽ các tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của ta. Cụ thể là:

Một là, các thế lực thù địch lợi dụng xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế cũng như thông qua hoạt động tài trợ kinh tế, từ thiện, các tổ chức phản động ngoài nước đã chuyển tài liệu tôn giáo có nội dung phản động vào trong nước với mục đích xuyên tạc bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, vu khống về chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước nhằm tạo cớ can thiệp sâu vào công việc nội bộ nước ta. Đồng thời, chúng đẩy mạnh các hoạt động gây dựng lực lượng chống đối ở trong nước nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo dựng những nhân tố tiến tới chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Hai là, chúng âm mưu thúc đẩy sự liên kết hoạt động giữa các tôn giáo (liên tôn); phối hợp chặt chẽ với các lực lượng phản động, cơ hội chính trị trong nước để tạo dựng ngọn cờ, hình thành lực lượng đối lập, làm “đối trọng” với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, làm sầm uất xứ đạo, khuyếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để tập hợp lực lượng và dẫn dắt đồng bào thực hiện mưu đồ chính trị phản động của chúng.

Nổi bật trong thủ đoạn trên, trong những năm gần đây, trên địa bàn Tây Bắc và Tây Nghệ An, các thế lực thù địch đã ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra đạo “Vàng Chứ” để thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Vùng Tây Nguyên, chúng đòi thành lập đạo Tin Lành Đềga với mưu toan là cơ sở cho ý đồ thành lập “Nhà nước Đềga độc lập”. Ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khơ me sinh sống, chúng chủ trương dựng nên “Nhà nước Khơ me Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp hệ Phật giáo Nam tông Khơ me Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Ba là, bằng nhiều thủ đoạn và chiêu trò thâm hiểm, xảo quyệt, chúng từng bước xúc tiến việc nắm quyền điều khiển các tổ chức tôn giáo để biến những tổ chức này thành các tổ chức chính trị, đảng chính trị để làm chỗ dựa, “núp bóng” cho các hoạt động phá hoại và mưu đồ phản động. Chúng triệt để lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để phê phán, xuyên tạc, bôi nhọ hòng hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, họ đòi tôn giáo phải độc lập, không chịu sự quản lý của Nhà nước; tâng bốc, ca ngợi “tự do tôn giáo” ở các nước tư bản; yêu cầu Nhà nước ta “công nhận” hoạt động của các tổ chức tôn giáo giả hiệu như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Tin lành Đềga, Vàng Chứ, đạo Hà mòn,…; đòi thả các “tù nhân tôn giáo” - những kẻ đội lốt tôn giáo vi phạm pháp luật; kêu gọi Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo”,...

Để đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù; giữ vững môi trường an ninh trật tự, đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong tình hình hiện nay, công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước cần tập trung làm tốt những nhiệm vụ cơ bản:

Trước hết, cần tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo. Từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật về tôn giáo cũng như hướng dẫn về thực hiện công tác tôn giáo đối với từng địa bàn cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới. Đồng thời, phải tiến hành có hiệu quả các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tại những vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo nhằm tạo ra môi trường ổn định và nền tảng vững chắc cho việc thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong đồng bào các tôn giáo.

Thứ hai, cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, xem xét, giải quyết việc cấp đăng ký hoạt động tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo để thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phải phát huy cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội trong tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước đến các chức sắc, chức việc cũng như đến mỗi tín đồ các tôn giáo. Vận động chức sắc, chức việc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo” thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Cùng với đó, phải tập trung giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc, nảy sinh trong công tác tôn giáo như: vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Cùng với đó, phải kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.

Thứ ba, cần tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) trong tuyên truyền, vận động và làm nòng cốt cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là đồng bào tín đồ các tôn giáo nhận diện và tố giác âm mưu cùng các hành vi, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước.

Vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đè dân tộc chống phá cách mạng nước ta

 Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, vấn đề dân tộc luôn là một trong những nội dung chủ đạo được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm phá hoại, trước hết là phá hoại sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhận diện và chủ động đấu tranh với âm mưu này là hết sức cần thiết.

Một là, các thế lực thù địch triệt để “tôn giáo hóa dân tộc” để phá hoại phát triển kinh tế, phá hoại sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo" riêng cho người DTTS như "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên; "Tin lành của người Mông" ở Tây Bắc, "Phật giáo của người Khơme" ở Tây Nam bộ… Từ tôn giáo hoá dân tộc, chúng kích động chia rẽ, làm thay đổi tập quán làm ăn; phá hoại giao thương, hội nhập.

Ở không ít địa phương, chúng lợi dụng tôn giáo hoá dân tộc để cát cứ, chia sẽ, kích động cản trở việc xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các trung tâm thương mại, lôi kéo đồng bào thực hiện các tập quán du canh du cư, tự cung tự cấp…Các vụ việc xảy ra như ở Khu công nghiệp Formosa (Hà Tĩnh), biểu tình tại các khu công nghiệp ở Bình Dương, biểu tình ở Binh Thuận… gần đây cho thấy rất rõ điều đó

Hai là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”,“từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là người DTTS, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam. Lợi dụng những sự cố thiên tai, môi trường, nhất là các sự việc ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp, chúng kích động, thông qua hoạt động từ thiện để xuyên tạc, lôi kéo quần chúng; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính quyền cũng như sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, các thế lực thù địch hỗ trợ các đối tượng phản động, cực đoan trong nước tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; đồng thời qua đó tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ của nước ta để thu thập tình hình, cung cấp cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ba là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các điểm nóng tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, lôi kéo đồng bào DTTS tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Chúng âm mưu xuyên tạc, phá hoại các dự án phát triển kinh tế, nhất là các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các dự án khai thác khoáng sản; thổi phồng vấn đề môi trường, cho rằng “chính quyền hi sinh môi trường vì lợi ích kinh tế”…

Bốn là, triệt để tác động các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức các cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở các vùng DTTS ở nước ta. Điển hình như: Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Mỹ; Nghị quyết của Nghị viện châu Âu, Báo cáo thường niên của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế (AI)... Thông qua các cuộc tiếp xúc song phương, đa phương và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực với Việt Nam để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc; gắn vấn đề “quyền dân tộc tự quyết”, “dân chủ, nhân quyền” đối với nước ta.