!
Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022
LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XHCN ĐÔNG ÂU SỤP ĐỔ NHƯNG ĐẢNG TA VẪN VỮNG VÀNG TRƯỚC MUÔN TRÙNG SÓNG GIÓ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC TIẾN LÊN, CÓ CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY
Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres thăm chính thức Việt Nam
Nhận lời mời của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres đến Thủ đô Hà Nội, thăm chính thức Việt Nam từ ngày 21-22/10.
Chủ tịch nước gặp mặt nữ đại biểu là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội
Chiều 20/10, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt nữ đại biểu là các đồng chí nữ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí nữ Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII, các nữ đại biểu Quốc hội khóa XV.
Việt Nam - đại diện xứng đáng tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
Việt Nam - đại diện xứng đáng tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
(ĐCSVN) – Việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp
quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép,
đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản
động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt
Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.
Ngày 11/10 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ),
Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng nhân quyền
nhiệm kỳ 2023 – 2025, trong đó có Việt Nam. Việt Nam nhận được 145/189 phiếu
tán thành, chiếm gần 80% và thuộc nhóm nhận được sự ủng hộ cao nhất. Sự kiện
này đã ghi thêm một dấu ấn, một thắng lợi mới trên lĩnh vực ngoại giao, đồng thời
cũng khẳng định được uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy
nhiên, các đối tượng phản động, thù địch đã lợi dụng sự kiện này để liên tục
xuyên tạc, phản đối, tìm mọi cách hạ thấp uy tín của Việt Nam cả trước, trong
và sau khi diễn ra sự kiện này. Đây là thủ đoạn cần được nhận diện và đấu tranh
phản bác mạnh mẽ.
Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết
quả hoàn toàn khách quan
Thời gian qua, vào trước
thời điểm bỏ phiếu, các tổ chức phản động như Việt Tân và một số tổ chức nhân
quyền, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Hoa Kỳ
đã liên tục chống phá qua nhiều kênh thông tin, bằng nhiều cách thức tiếp cận
khác nhau. Ngày 3/10/2022, đại diện của tổ chức khủng bố Việt Tân (Hoàng Tứ
Duy) đã lên tiếng trong buổi họp báo do UN Watch tổ chức, phản đối mạnh mẽ việc
Việt Nam tham gia là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, cho rằng
Việt Nam không xứng đáng với vai trò này. Ngày 4/10/2022, 8 tổ chức nhân quyền
đã đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Ngày
8/10/2022, một liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ từ châu Âu, Hoa Kỳ,
Canada đồng thanh kêu gọi các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc bác tư cách ứng
cử vào Hội đồng nhân quyền của Việt Nam. Không chỉ vậy, nhiều trang cá nhân của
các đối tượng chống đối, phản động cũng đồng loạt lên tiếng với thái độ “chế giễu”,
xuyên tạc, bôi nhọ về vị thế của Việt Nam, cho rằng việc Việt Nam tham gia vào
Hội đồng nhân quyền là vô lý, cho rằng Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng về nhân
quyền, do đó không xứng đáng để tham gia vào Hội đồng nhân quyền của Liên hợp
quốc.
Với các luận điệu này, trước hết cần khẳng định việc Việt Nam
trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan,
công tâm, phản ánh tính tất yếu của quá trình vận động, kiến tạo và nỗ lực đóng
góp của Việt Nam vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế
giới – một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc. Việt Nam trúng cử vào Hội
đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu đồng thuận cao, sự đánh giá tích cực
của báo chí nước ngoài cũng như sự ủng hộ, ghi nhận và kỳ vọng của cộng đồng quốc
tế với những đóng góp quan trọng của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên
thế giới.
Có thể thấy, với vai trò là thành viên Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam ngày càng củng cố thêm uy tín và vị thế của mình
trên trường quốc tế, cho thấy sự nỗ lực, sáng tạo trong tư duy chiến lược cũng
như tính hiệu quả của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta những năm gần
đây. Điều này cũng lan toả và truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh con người,
đất nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình, đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo,
đồng thời giúp truyền tải chính xác, đúng đắn hơn về chủ trương, chính sách và
thành tựu trong đảm bảo quyền con người ở nước ta.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán xác định con
người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự
phát triển. Việc bảo vệ quyền con người luôn được lồng ghép, cụ thể hoá trong
các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể
chế hoá trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó các quyền con người, quyền công
dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ Việt Nam trong vai trò mới
Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam hoàn toàn xứng đáng
và có thể làm tốt bất cứ vai trò quốc tế quan trọng nào. Việt Nam đã từng trúng
cử và đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã hai lần trúng cử là Uỷ viên không thường trực
chính thức của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ
2020 – 2021). Kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng
9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây
dựng hoà bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là điều
phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng Nhân quyền.
Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ
quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị
cho UPR chu kỳ 3. Việc Việt Nam quan tâm đến các công ước quốc tế về bảo vệ và
thúc đẩy quyền con người cũng đã tạo ấn tượng sâu đậm tới cộng đồng quốc tế về
nỗ lực đóng góp nâng cao đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Không chỉ dư luận nhân dân trong nước ủng hộ, tự hào mà các
cơ quan báo chí nước ngoài cũng đưa tin bài, thể hiện sự ủng hộ Việt Nam trong
vai trò thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Báo Washington Times
ngày 21/9/2022 đã đăng bài viết trong đó ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Bài viết cho thấy Việt Nam tiếp
tục được đánh giá cao tại Liên hợp quốc với việc cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn
giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, là thành viên
tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững
của Liên hợp quốc. Hơn nữa, cuộc chiến chống đại dịch COVID – 19 của Việt Nam
cũng ghi nhận nhiều kết quả. Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cho một số quốc gia về
điều kiện, cơ sở vật chất để phòng chống dịch. Bài viết tổng kết rằng, kể từ
khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã
đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hòa bình, phát
triển và đảm bảo quyền con người.
Theo bà Caitlin Wiesen, Nguyên trưởng Đại diện thường trú
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, một trong những
thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người là công cuộc
xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Không phải ngẫu
nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện
cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.
Có thể thấy rằng, việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định
đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ
chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả
của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.
Sự kiện này một lần nữa khẳng định cho ý chí, quan điểm đúng
đắn của Đảng và Nhà nước ta về coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người
trong phát triển đất nước, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối
ngoại của Đảng ta trong tình hình mới. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ
trong cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,
cùng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành tốt nhiệm
vụ tại Hội đồng nhân quyền, chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới
hoà bình, đảm bảo quyền con người trong xã hội./.
VẬN DỤNG CHỈ DẪN CỦA V.I.LÊNIN ĐỂ CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI Ở VIỆT NAM
VẬN DỤNG CHỈ DẪN CỦA V.I.LÊNIN ĐỂ CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển, nhất là trong hơn 34
năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ động đấu tranh với những
tư tưởng và những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa được triển khai xuyên suốt trong Đảng,
trong hệ thống chính trị đã góp phần tạo sự thống nhất nhận thức chính trị của
cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận trong xã hội.
Trong hành trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và luôn
kiên quyết chống lại các quan điểm sai trái, thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua cuộc đấu
tranh này gay go, phức tạp này, Đảng không chỉ khẳng định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng mà còn góp phần loại bỏ được nhiều phần tử cơ hội, loại trừ những người
không đủ tiêu chuẩn, những kẻ phiêu lưu, khiêu khích ra khỏi Đảng. Thông qua
đó, làm cho Đảng được tôi luyện và trưởng thành, thực sự là đội ngũ đoàn kết,
thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự có sức mạnh, đủ năng lực
cầm quyền, lãnh đạo và sức chiến đấu trong mọi hoàn cảnh.
Tuy nhiên, thực tiễn công tác xây dựng Đảng cũng cho thấy, vì
cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy
lùi; có mặt, có một bộ phận còn diễn biến phức tạp. Ở không ít tổ chức Đảng vẫn
còn có một bộ phận những người cơ hội chủ nghĩa, không chỉ mơ hồ, hoang mang,
dao động, lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng, thiếu sự tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị không vững vàng mà còn sa vào chủ
nghĩa cá nhân, tham ô, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm,
v.v.. Sự suy thoái đó chính là nguy cơ thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” từ bên trong Đảng và chế độ.
Cùng với đó, trước mỗi kỳ đại hội Đảng nói riêng và trong
công tác cán bộ nói chung, ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn còn đó những kẻ
cơ hội "diễn gương", luôn tỏ ra có tác phong quần chúng, đi đâu cũng
chủ động thăm già, hỏi trẻ, khích lệ đồng chí, đồng nghiệp, nhưng thực chất là
“nhẫn nhịn” để chờ thời, lấy phiếu vào quy hoạch, để được bổ nhiệm. Rồi từ đó,
dùng vị thế "đạt được" của mình vi phạm, thậm chí bỏ qua nguyên tắc tập
trung dân chủ mà quyết định những vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân; tác động xấu đến tâm tư, tình cảm và
niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ… Dạng cán bộ, đảng viên này và những
biểu hiện cơ hội đó đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây
dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chỉ
rõ. Đó là, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “phai nhạt lý tưởng cách
mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận
thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính
trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường
lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…Cá nhân chủ nghĩa,
sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm
đến lợi ích tập thể…Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy
chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để
phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền
hạn của mình để trục lợi. Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân
chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
Vì thế, để “kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái “lợi ích
nhóm”, nói không đi đôi với làm”[7] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và chủ
động phòng và đấu tranh chống những kẻ cơ hội, những biểu hiện cơ hội trong bối cảnh toàn Đảng đang chuẩn bị và tiến
hành Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung thực hiện
những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp về tầm quan trọng
của việc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Cùng với đó, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và luật
pháp của Nhà nước trên tinh thần giữ vững tính Đảng, tính chính trị, tính khoa
học, nguyên tắc thống nhất giữ lý luận và thực tiễn trong đấu tranh về tư tưởng,
lý luận của Đảng. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để
chủ động, sáng tạo, thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, bám sát tình hình
thực tiễn trong cuộc đấu tranh này trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Quán triệt mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp luận khoa học,
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để không chỉ thực
hiện tốt “nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với
tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương
lĩnh và sách lược của mình”[8], mà còn chủ động đấu tranh vạch trần tính chất
phản khoa học, phản động trong những quan điểm, tư tưởng sai trái của những phần
tử cơ hội. Đi liền cùng đó là đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực
tiễn, tổng kết thực tiễn để kết luận những vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra, thiết
thực xây dựng Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hai là, phát huy vai trò sức mạnh của cả hệ thống chính trị,
sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc,
nhiều tầng nấc trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói
chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Cụ thể, nâng cao tính chủ động, thiết
thực, hiệu quả của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương trong công tác
tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,
chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên trận địa tư tưởng.
Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, của đội ngũ cán bộ nghiên
cứu lý luận, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành và tính kịp thời, đa dạng,
phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thanh, truyền hình, coi đó
là nhiệm vụ, trách nhiệm chính trị cao cả của mọi tổ chức, mọi lực lượng dưới sự
lãnh đạo của Đảng để phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.
Trong đó, cần sử dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức,
phương pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; khơi dậy và phát huy cao độ khả
năng, thế mạnh của mỗi tổ chức, mỗi lực lượng tham gia; đồng thời, khắc phục sự
đấu tranh kiểu một chiều, khuôn sáo theo công thức định sẵn, thoát ly các vấn đề
mới nảy sinh từ thực tiễn. Chú trọng xây dựng và tổ chức các lực lượng, nhất là
lực lượng nòng cốt có trình độ chuyên sâu, có phương pháp khoa học, đáp ứng yêu
cầu của tình hình và nhiệm vụ trong cuộc đấu tranh gay go, phức tạp này gắn với
việc nâng cao hiệu quả việc giám sát hoạt động, ngăn chặn liên lạc, vô hiệu hóa
hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các đối tượng cơ hội, của các thế
lực thù địch trên mạng xã hội bằng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ hữu hiệu.
Ba là, gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về Đẩy mạnh học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để không chỉ phát huy vai
trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, nắm rõ tâm tư, nguyện vọng, tình hình
chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời uốn nắn những
nhận thức lệch lạc mà còn góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ.
Cụ thể, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ gắn với
công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối
sống, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh chống tham ô, tham nhũng,
quan liêu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám
sát, thực hành dân chủ trong Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân…; đồng thời,
thường xuyên sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết đưa những người
không đủ tiêu chuẩn, những đảng viên thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức
lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp
luật của Nhà nước ra khỏi Đảng gắn với coi trọng chất lượng công tác phát triển
Đảng.
Bốn là, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng
viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa
phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong việc nêu cao ý thức tự rèn luyện, tự bảo
vệ mình trong sạch về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động và tích
cực đấu tranh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, âm mưu
"diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Mỗi người trong thực
nhiệm vụ chính trị, thực thi công vụ phải thống nhất giữa nói và làm, giữa dám
nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo theo
tinh thần Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về Trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Quy định số 47-QĐ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương về Những điều đảng viên không được làm và Quy định số
08-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng
viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương; nhất là trong phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,
những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội như tư duy nhiệm kỳ, đầu cơ chính trị, chạy
phiếu bầu, chạy quy hoạch, luân chuyển, chạy chức, chạy quyền…
Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở;
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Quy chế giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Đồng thời, hướng về cơ sở, gắn bó mật thiết với
nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong bảo
vệ Đảng, Nhà nước và chế độ; trong giám sát việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm
công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước;
trong chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới các cấp đảm bảo tiêu chuản vừa hồng vừa
chuyên; nhất là, cần tạo nhiều kênh thông tin, nhiều diễn đàn để lắng nghe và
tiếp nhận ý kiến góp ý xây dựng của nhân dân, coi đó là một biện pháp hữu hiệu
để sớm phát hiện những kẻ cơ hội trong Đảng và những kẻ cơ hội đang tìm mọi
cách chui vào Đảng nhằm thăng quan, phát tài, "vinh thân, phì gia",
mưu cầu lợi ích cá nhân, nhóm lợi ích, dòng họ, địa phương./.
Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề xung đột Nga - Ukraine
Quan điểm, lập trường
của Việt Nam về vấn đề xung đột Nga - Ukraine là rất khách quan và rõ ràng, đó
là: Việt Nam kêu gọi các bên chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo vệ an
ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu.Ấy thế nhưng, lợi dụng
việc Đại Hội đồng Liên Hợp quốc vừa thông qua Nghị quyết về tình hình Ukraine,
trên một số diễn đàn, mạng xã hội, một số cá nhân lại đang cố tình tái diễn những
luận điệu xuyên tạc, suy diễn quan điểm của Việt Nam về cuộc xung đột này.
Việt Nam kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình tại
Ukraine
Ngày 12/10, Đại Hội đồng
Liên hợp quốc đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết kêu gọi các quốc gia trên thế giới
không công nhận việc Nga sáp nhập 4 vùng lãnh thổ ở Ukraine thông qua trưng cầu
dân ý. Nghị quyết nhận được 143/193 phiếu ủng hộ. Có 5 nước bỏ phiếu chống lại
nghị quyết, bao gồm Nga và 35 nước bỏ phiếu trắng.
Sau khi nghị quyết trên được thông qua, trên một số diễn đàn
Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đã cố tình
đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng quan điểm của Việt Nam là
“chung chung”, “không rõ ràng”, “tránh đối đầu”, Việt Nam đã không đi theo số
đông, một lần nữa cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc
xung đột Nga - Ukraine, quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine đã “thụt
lùi” thêm một lần nữa.
Luận điệu của họ là, lá phiếu của Việt Nam khiến nhiều người
cảm thấy “thất vọng”, Việt Nam “ngoài lề” trong khối ASEAN, lá phiếu này sẽ để
lại nhiều “hệ lụy” đối với Việt Nam. Một số người thì ngang nhiên xuyên tạc rằng:
Việt Nam phản đối chiến tranh, phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng
hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, lá phiếu trên khiến nhiều
người phải suy nghĩ lại về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam. Cá biệt,
còn có luận điệu xuyên tạc rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu
“chung chung”; “Nghị quyết trên là vấn đề thuộc về nhân quyền mà lương tri phải
lên tiếng bảo vệ lẽ phải thì Việt Nam lại làm ngược lại”; cái gọi là “đứng về lẽ
phải, công lý” mà Việt Nam đưa ra đối với cuộc xung đột này chỉ là ngụy tạo…
Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần
nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng Liên hợp
quốc tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 thảo luận về tình hình Ukraine, Đại
sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã
nhấn mạnh rằng: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng,
nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải
pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật
pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho
hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.
Ngày 12/10, phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang,
Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc tiếp tục khẳng định: Việt
Nam theo dõi sát và đặc biệt quan ngại trước các diễn biến gần đây tại Ukraine,
nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo đảm tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và
các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Trong đó, có việc không can thiệp
vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế theo luật pháp quốc tế,
đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các
quốc gia.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh, xuất phát từ lịch sử phải
trải qua nhiều cuộc chiến tranh để giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc,
Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình và phản đối mọi hành vi đe dọa hoặc sử
dụng vũ lực để xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc
gia. Do đó, Việt Nam tiếp tục kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo
vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu; đồng thời,
kiên trì thúc đẩy đối thoại, đàm phán để tìm giải pháp hòa bình lâu dài cho các
bất đồng trên cơ sở phù hợp và triệt để tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến
chương Liên hợp quốc, tính tới lợi ích, quan tâm chính đáng của các bên liên
quan, vì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
Trước đó, tại họp báo thường kỳ chiều ngày 6/10, trả lời câu
hỏi của báo chí về vấn đề Nga sáp nhập 4 tỉnh của Ukraine, Người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Việt Nam kêu gọi các bên liên
quan nối lại đối thoại, giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở
tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Là
thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Việt Nam sẵn sàng
đóng góp vào quá trình thúc đẩy đối thoại tìm kiếm giải pháp để sớm ổn định
tình hình, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”.
Như vậy, có thể thấy rằng, quan điểm nhất quán của Việt Nam
là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải
pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho
đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam
đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đột xung đột giữa
Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào
xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine.
Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ
Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở
các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình
đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối
tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối
ngoại. Trong chính sách đối ngoại đa phương đó, Việt Nam luôn khẳng định cả Nga
và Ukraine đều là đối tác quan trọng, là bạn bè truyền thống, lâu đời và Việt
Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng,
trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn
định.
Đây cũng chính là thông điệp mà Thủ tướng Chính phủ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính đã đưa ra trong chuyến thăm và
làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc tháng 5/2022, đó là: Trong một thế giới đầy biến
động, cạnh tranh chiến lược và nhiều lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn
chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật
pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả
cùng chiến thắng.
Việt Nam cũng luôn nhất quán và giữ vững nguyên tắc chính
sách quốc phòng “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với
nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng
lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là sự khẳng định, quốc phòng Việt Nam là nền
quốc phòng toàn dân, mang tính hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết,
kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ
nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc
ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước phải chịu nhiều
nỗi đau, mất mát do chiến tranh, hơn ai hết dân tộc Việt Nam luôn thấu hiểu và
trân trọng giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Để có được nền hòa bình, độc
lập, tự do như ngày nay, dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu của
biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước nên Việt Nam luôn trân quý và mong muốn
duy trì một thế giới hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển. Cũng chính vì vậy,
như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì
hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn
mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương
nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp. Việt Nam luôn thẳng thắn, chân
thành trong quan hệ quốc tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia -
dân tộc với trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế.
Như vậy, có thể thấy rằng, một lần nữa các cá nhân, tổ chức
thiếu thiện chí, thù địch với Đảng, Nhà nước Việt Nam lại tái diễn những luận
điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine. Đây
thực chất là một âm mưu rất thâm độc và hết sức nguy hiểm bởi những luận điệu
trên không nằm ngoài mục đích là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt
Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam;
kích động dư luận trong và ngoài nước chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam./.
Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng
Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng
(ĐCSVN) - Sau khi cách
mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) thành công, việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước
vô sản đầu tiên trên thế giới là rất cấp bách. Để xứng đáng với vị thế là Đảng
cầm quyền thì công tác kiểm tra, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng là rất
quan trọng.
Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, V.I.Lênin cho rằng công tác kiểm tra là một nội dung, phương thức
lãnh đạo quan trọng đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Khi đã giành được
chính quyền, một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết là phải tiến hành
công tác kiểm tra và xây dựng được tổ chức bộ máy cũng như đội ngũ cán bộ kiểm
tra đủ về số lượng; có trình độ, có năng lực và phẩm chất cách mạng, biết vượt
qua mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Những tư tưởng
của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm
tra là những bài học có giá trị đối với Đảng Cộng sản (b) Nga và Đảng Cộng sản
Việt Nam trong công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ
luật Đảng nói riêng.
1. Về vị trí, vai trò
của công tác kiểm tra
Theo V.I.Lênin, để
chính quyền Xô - viết đứng vững trước sự chống phá của các thế lực phản cách mạng
cả trong và ngoài nước thì những người lãnh đạo phải tiến hành kiểm tra, kiểm
soát. Người chỉ ra rằng: “Hiện nay, thực tiễn là tất cả; rằng đã đến một thời kỳ
lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn, trở nên sinh động bằng thực tiễn, được
sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn” (1).
Ở đây, V.I.Lênin khẳng
định kiểm tra như là nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng vì có
chủ trương đúng, có tổ chức thực hiện nhưng thiếu kiểm tra cũng rất khó có kết
quả tốt được.
Người còn khẳng định ý
nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kiểm soát và coi đây là công cụ chắc
chắn nhất để bảo vệ những mầm mống của xã hội mới. Người yêu cầu Đảng, Nhà nước
phải nắm chắc công tác kiểm tra, V.I.Lênin nhấn mạnh: "Theo ý tôi, điều chủ
yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh (đấy là
chúng ta u mê đến ngu xuẩn) sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện.
Đó là vấn đề then chốt nhất" (2). "Nghiên cứu con người, tìm những
cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh
lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" (3).
Kiểm tra con người và
kiểm tra việc chấp hành trong thực tế có mục đích và ý nghĩa hết sức quan trọng
trong quá trình lãnh đạo. V.I.Lênin cho rằng: Kiểm tra như thế là cần thiết cả
về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. Về mặt lý luận là để căn cứ vào thực
tế, vào kinh nghiệm mà biết chắc được rằng các nghị quyết đã được thông qua có
đúng hay không và đúng đến mức nào, cần phải sửa đổi những gì. Về mặt thực tiễn
là để học tập cho biết cách tuân theo các nghị quyết ấy một cách thật sự, học tập
để biết coi các nghị quyết ấy là những chỉ thị cần được áp dụng trực tiếp và
ngay lập tức vào thực tế.
Người viết: “nhiệm vụ
quan trọng bậc nhất của giai đoạn không phải là ra những sắc lệnh, tiến hành
các cuộc cải tổ mà là lựa chọn người; thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối
với công việc đang làm; kiểm tra công việc thực tế”
Như vậy, mục đích của
công tác kiểm tra theo V.I.Lênin nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng
(bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc
thực hiện); phát hiện người tốt, việc tốt; ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của
Đảng; thực hiện có kết quả cao nhất các quyết định đã được đưa ra và xây dựng,
củng cố tổ chức Đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể xã hội ngày càng trong sạch,
vững mạnh.
Điều đó có nghĩa bất kỳ
một chủ trương, quyết định, nghị quyết, chỉ thị, chính sách nào dù lớn hay nhỏ
đều phải được kiểm tra với kế hoạch, chương trình kiểm tra cụ thể. Bởi vì, khi
đã có chủ trương, nghị quyết, chính sách dù là đúng thì vẫn phải tiến hành công
tác kiểm tra. Chỉ có kiểm tra và kiểm tra thường xuyên thì những chủ trương,
chính sách đó mới hoàn thiện và trở thành hiện thực.
Điều chúng ta cần lưu
ý là việc hiểu về quy trình lãnh đạo bao gồm các khâu cơ bản là: ra quyết định,
tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện chỉ có tính tương đối về
mặt nhận thức. Nếu trên thực tế tuyệt đối hóa các khâu của quy trình lãnh đạo
thành từng bước riêng rẽ như thực hiện quy trình kiểm tra hiện nay là: bước chuẩn
bị, bước tiến hành và bước kết thúc sẽ dẫn đến sai lầm rất nghiêm trọng.
Trong quy trình lãnh đạo,
khi tiến hành từng khâu thì luôn phải tiến hành công tác kiểm tra. Kiểm tra
ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định để xem quyết định đó có đúng hay không, kiểm
tra lúc tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra ngay cả những cán bộ được giao
thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Nếu máy móc thực hiện tuần tự từng bước như để ra
quyết định xong, tổ chức thực hiện quyết định rồi mới tiến hành kiểm tra thì
chúng ta đã biến công tác kiểm tra thành việc đi “bới móc”, “vạch lá tìm sâu”,
kiểm tra chỉ để thi hành kỷ luật bởi đã ra quyết định sai, tổ chức thực hiện
sai thì tất yếu khi kiểm tra chỉ còn việc đánh giá xem có sai phạm nhiều hay
ít, phải thi hành kỷ luật ở mức nào. Kiểm tra phải được lồng vào tất cả các
khâu sẽ có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm ngay từ khi mới manh nha từ
lúc ra quyết định hoặc khi tổ chức thực hiện. Trong thực tế, do nhận thức sai dẫn
đến khi thực hiện đã tách rời thành những khâu trong quy trình lãnh đạo thành độc
lập, thậm chí biệt lập nên hậu quả để lại rất nghiêm trọng. Nhiều cán bộ cấp
cao bị kỷ luật khi đứng trước Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng từng nói, giá mà
các đồng chí kiểm tra phát hiện sớm thì hậu quả không nặng nề như vậy.
V.I.Lênin cho rằng,
làm tốt công tác kiểm tra sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh “chống chủ nghĩa quan
liêu, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy óc sáng kiến, nhằm phát hiện, lột mặt nạ
và đuổi ra khỏi Đảng những kẻ lén lút chui vào đảng” (5).
V.I.Lênin khẳng định,
kiểm tra tốt sẽ góp phần đấu tranh chống bệnh quan liêu, bệnh giấy tờ: “Trọng
tâm công tác của các đồng chí chính là chấn chỉnh lại công việc đang quan liêu
đến ghê tởm của chúng ta, là đấu tranh chống bệnh quan liêu giấy tờ, là kiểm
tra việc thực hiện.
Kiểm tra việc thực hiện,
kiểm tra xem cái gì diễn ra trong thực tế - đó là nhiệm vụ chủ yếu và nhiệm vụ
chính của đồng chí” (6).
2. Về xây dựng cơ quan
kiểm tra
Sau Cách mạng tháng Mười,
khi trở thành Đảng cầm quyền, các cơ quan lãnh đạo quan trọng nhất của Đảng được
thành lập, bao gồm: Bộ Chính trị, Bộ Tổ chức, Ban Bí thư (tất cả các cơ quan
này đều được thành lập sau Đại hội VIII của Đảng Cộng sản (b) Nga vào năm
1919). Trong "Dự thảo nghị quyết về những nhiệm vụ trước mắt của công tác
xây dựng Đảng", trình bày tại Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b)
Nga, ngày 24-11-1920 có ghi: "thừa nhận sự cần thiết phải thành lập Ban kiểm
tra song song với Ban Chấp hành Trung ương, thành phần ban này phải gồm những đồng
chí có trình độ nhất định trong lĩnh vực công tác đảng, có kinh nghiệm nhất,
không thiên vị và có khả năng thực hiện công tác kiểm tra hoàn toàn theo tinh
thần của Đảng. Là một cơ quan do Đại hội bầu ra, Ban kiểm tra phải được quyền
thu nhận mọi đơn thư khiếu tố và xem xét các đơn ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp
hành Trung ương, trong trường hợp cần thiết, thì tổ chức những phiên họp chung,
liên tịch với Ban chấp hành trung ương hoặc chuyển vấn đề cho đại hội đảng giải
quyết" (7).
Ý kiến của V.I.Lênin
đã được Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b) Nga thông qua và cơ quan -
Ban Kiểm tra Trung ương đã được Đại hội bầu ra. V.I.Lênin chuẩn bị viết:
"Tôi đề nghị đại hội bào vào Ban kiểm tra trung ương từ 75 đến 100 (tất cả
các con số, đương nhiên đều áng chừng) ủy viên mới, lựa chon trong công nhân và
nông dân” (8).
Thực tế sau hơn một
năm hoạt động, Ban Kiểm tra do Đại hội bầu ra đã làm việc rất có hiệu quả. Tại
Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, tháng 3-1922, V.I.Lênin đã đánh giá:
"Ban Kiểm tra Trung ương là một cơ quan rất tốt, và bây giờ chúng ta sẽ
giao cho nó nhiều quyền hành hơn" (9). V.I.Lênin cho rằng trong Đảng có ba
cơ quan đảng, là những cơ quan bảo đảm đầy đủ nhất trong việc chống lại những ảnh
hưởng của địa phương và cá nhân, “tức là: Bộ Tổ chức của Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Ban Kiểm tra Trung ương. Nên nói thêm
rằng cơ quan thứ ba này, tức là Ban Kiểm tra Trung ương, cơ quan chỉ chịu trách
nhiệm trước đại hội đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế nào để cho các uỷ
viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của bất cứ bộ dân uỷ
nào, cơ quan hành chính nào và cơ quan nào của Chính quyền xô-viết" (10).
Đến tác phẩm "Chúng ta phải cải tổ Bộ Dân uỷ Thanh tra công nông như thế
nào?" viết tháng Giêng năm 1923, V.I.Lênin lại một lần nữa khẳng định: Ban
Kiểm tra Trung ương có quyền tham dự vào các kỳ Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành
Trung ương - Hội nghị tối cao của Đảng. Người đề nghị trao quyền hạn cụ thể cho
các Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương: “có nhiệm vụ tham dự, với một số lượng nhất
định, vào mỗi phiên họp của Bộ Chính trị, sẽ phải là một nhóm cố kết; nó,
"không được vị nể cả nhân", phải giữ gìn sao cho không được một uy
quyền nào của Tổng Bí thư hay một uỷ viên trong Ban Chấp hành Trung ương có thể
ngăn cản mình chất vấn, kiểm tra các hồ sơ, và nói chung, nắm được tình hình hết
sức rõ ràng và xử lý mọi việc hết sức đúng đắn” (11). Những uỷ viên Ban Chấp
hành Trung ương có nhiệm vụ (dưới sự lãnh đạo của Đoàn Chủ tịch của họ), xem
xét đều đặn tất cả những hồ sơ và tài liệu và còn có quyền kiểm tra hoạt động
hành chính của các cơ quan nhà nước.
Để đạt được như vậy, về
cách thức tổ chức, theo V.I.Lênin, Ban Kiểm tra “là cơ quan do Đại hội bầu ra”
và “chỉ chịu trách nhiệm trước Đại hội Đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế
nào để cho các uỷ viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của
bất cứ Bộ dân uỷ nào, cơ quan hành chính nào của Chính quyền xô-viết"
(12).
Tư tưởng này của
V.I.Lênin là nhằm nâng tầm ảnh hưởng của cơ quan kiểm tra vì nếu cơ quan kiểm
tra do đại hội bầu ra và chỉ chịu trách nhiệm trước đại hội sẽ làm cho hoạt động
của cơ quan này độc lập, không bị chi phối bởi nếu là cơ quan tham mưa giúp việc
cho cấp ủy sẽ rất khó đảm báo tính khách quan trong thực hiện nhiệm vụ.
Về nhiệm vụ và chế độ
công tác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Ban Kiểm tra phải được quyền thu nhận mọi đơn thư
khiếu tố và xem xét các đơn thư ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp hành Trung
ương, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức những phiên họp chung, liên tịch với
Ban Chấp hành Trung ương hoặc chuyển cho Đại hội Đảng giải quyết” (13).
Đến năm 1923, một lần
nữa V.I.Lênin lại yêu cầu: “Ban Kiểm tra có quyền tham dự vào các kỳ hội nghị
toàn thể Ban Chấp hành Trung ương - hội nghị tối cao của Đảng” và Người yêu cầu
phải: “Biến Ban này thành cơ quan thật sự đại diện cho lương tri của Đảng và
giai cấp vô sản” (14).
Vào năm 1923, tức là
sau 5 năm hoạt động của các cơ quan đảng và bộ máy chính quyền Xô viết,
V.I.Lênin đã phát hiện những hạn chế, bất cập, chồng chéo của chúng. Việc cải tổ
bộ máy nhà nước Xô viết và các cơ quan đảng theo nguyên tắc "thà ít mà tốt"
đã được V.I.Lênin chỉ ra. Ý tưởng hợp nhất hai cơ quan: Bộ Dân uỷ thanh tra
công nông với Ban Kiểm tra Trung ương đã được hình thành. V.I.Lênin cho rằng,
việc hợp nhất hai cơ quan đó sẽ có ích cho cả hai. Một mặt, Bộ Dân uỷ thanh tra
công nông sẽ vì thế mà có được một uy tín rất cao; mặt khác, Ban Chấp hành
Trung ương của Đảng cùng với Ban Kiểm tra Trung ương sẽ hoàn toàn trở thành một
hội nghị tối cao của Đảng. Rất tiếc, quan điểm này của V.I.Lênin chưa được thực
hiện trên thực tế vì Người đã qua đời.
3. Về xây dựng đội ngũ
cán bộ kiểm tra
Không chỉ quan tâm kiện
toàn cơ chế tổ chức Ban kiểm tra, V.I.Lênin còn rất quan tâm đến đội ngũ những
người làm công tác kiểm tra từ khâu lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến chế độ đãi
ngộ. Người quan niệm, những cán bộ kiểm tra phải thật sự là những người mẫu mực
nhất, "không thể chê trách được".
Để trở thành cán bộ kiểm
tra, theo V.I.Lênin, người cán bộ đó phải qua lựa chọn cẩn thận, sát hạch,
thanh tra kỹ, được đặc biệt tin cẩn và được huấn luyện rất công phu: “Những
công nhân mà chúng ta chỉ định là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những
người cộng sản không thể chê trách được, và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ
lực lâu dài để huấn luyện cho họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu
công tác của họ” (15). Nội dung kiến thức mà những cán bộ kiểm tra phải tiếp nhận
rất phong phú, toàn diện, bao gồm kiến thức lý luận, công tác tổ chức, quản lý
nhà nước, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn v.v. V.I.Lênin viết: "Họ cũng có
nhiệm vụ phải học lý luận, nghĩa là lý luận về tổ chức công tác mà họ có ý định
chuyên làm; họ cũng sẽ phải thực tập dưới dự lãnh đạo của những đồng chí có
kinh nghiệm, hoặc của những giáo sư các viện nghiên cứu cao cấp về tổ chức lao
động" (16). Người cán bộ kiểm tra không chỉ được đào tạo trên sách vở -
"hoạt động thuần tuý học viện", mà họ sẽ còn phải chuẩn bị để làm những
công tác thực tiễn trong cuộc đấu tranh với những phần tử thoái hóa, biến chất
trong bộ máy nhà nước như “...chuẩn bị đi săn, tôi không nói là săn bọn ăn cắp,
mà là săn một hạng người cũng đại loại như vậy” (17).
Đối với thành viên Ủy
ban Kiểm tra Trung ương, theo V.I.Lênin: “Những đồng chí được tuyển lựa sẽ phải
trải qua, với tư cách là đảng viên, một cuộc thẩm tra giống như cuộc thẩm tra
mà tất cả các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải trải qua, vì các đồng chí ấy
sẽ có hết thảy mọi quyền hạn của chức vụ ấy” (18).
Ngoài công tác lựa chọn,
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, V.I.Lênin còn đặc biệt quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối
với cán bộ kiểm tra nhằm tạo cho họ toàn tâm toàn ý làm việc. Thực tế cho thấy,
nếu cán bộ kiểm tra có cuộc sống quá bần hàn và kham khổ thì rất khó yêu cầu họ
đứng vững trước mọi cám dỗ đời thường. Người chỉ rõ: "họ sẽ phải có năng lực
công tác cao, phải được thanh tra một cách cẩn thận, phải là người đặc biệt tin
cẩn, và sẽ được hưởng lương cao giúp cho họ thoát khỏi hoàn cảnh thật sự là khốn
khổ (nếu không phải là hơn thế) như hoàn cảnh hiện thời của những viên chức
trong Bộ dân uỷ thanh tra công nông" (19). VI.Lênin yêu cầu cán bộ kiểm
tra phải thật sự là những người mẫu mực: “Những công nhân mà chúng ta chỉ định
là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những người cộng sản không thể chê
trách được. Và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ lực lâu dài để huấn luyện cho
họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu công tác của họ" (20).
4. Những suy nghĩ về
việc vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng. Trong giai đoạn
hiện nay, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cán bộ kiểm tra đảng nói chung
phải bảo đảm các tiêu chuẩn cơ bản sau:
1. Phải tuyệt đối
trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
Đây là nhiệm vụ của đảng
viên nói chung, đồng thời cũng là yêu cầu nghiêm ngặt và quan trọng đầu tiên đối
với người cán bộ kiểm tra. Nếu không trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng
của Đảng, không thường xuyên nghiên cứu, nắm vững và trung thành với Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chính sách và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
thì cán bộ kiểm tra không thể thực hiện được tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật Đảng do Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp uỷ giao.
2. Phải có dũng khí
cách mạng, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao.
Dũng khí cách mạng và
tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ kiểm tra thể hiện ở sự yên tâm công tác,
yêu ngành, yêu nghề, ý chí phấn đấu để nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác; kiên quyết khắc phục và không lùi bước trước mọi khó khăn, trở ngại trong
công tác và đời sống; tập trung trí tuệ, năng lực, chủ động và sáng tạo thực hiện
tốt nhiệm vụ được giao. Mọi suy nghĩ và hành động phải xuất phát từ động cơ
trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống những hành động vô tổ chức, vô kỷ luật,
vô trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Tôn trọng
sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên và uy tín của tổ chức đảng. Khi xem
xét, kết luận, xử lý kỷ luật phải đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời, có
lý, có tình; dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh với những sai lầm, khuyết điểm; chịu
trách nhiệm đầy đủ với các kết luận, quyết định mà bản thân tham gia thảo luận
và biểu quyết. Tác phong công tác phải khoa học, thận trọng, cụ thể, tỷ mỉ;
không chủ quan, đơn giản, qua loa, tắc trách.
Cán bộ kiểm tra không
những phải có dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao, mà còn phải có ý
thức tổ chức kỷ luật, tự giác và nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết, chỉ thị,
quy định của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên và
các nguyên tắc, chế độ công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng quy trình,
phương pháp công tác kiểm tra; giữ bí mật nội dung, tài liệu, thực hiện đúng quy
định về kỷ luật báo cáo, kỷ luật phát ngôn.
3. Phải trung thực,
khách quan, công tâm, trong sạch.
Cán bộ kiểm tra phải
có đức tính trung thực, khách quan, công tâm, trong sạch, đó vừa là phẩm chất đạo
đức vừa là cơ sở tạo nên sự tin cậy của tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên và quần
chúng nhân dân đối với cán bộ kiểm tra.
Khi xem xét, đánh giá
người và việc, cán bộ kiểm tra phải vì lợi ích của Đảng, của sự nghiệp cách mạng
mà nói đúng sự thật, không thiên vị, định kiến, không chen động cơ cá nhân hoặc
chạy theo tình cảm riêng tư; không bị chi phối trước bất cứ sức ép nào. Trong
điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện
nay, những nhân tố tiêu cực đang hằng ngày, hằng giờ tác động vào đội ngũ cán bộ
kiểm tra của Đảng. Do đó, cán bộ kiểm tra phải biết giữ gìn lối sống trong sạch,
lành mạnh, không vì lợi ích cá nhân mà làm những điều sai trái, ảnh hưởng xấu đến
uy tín của đội ngũ cán bộ kiểm tra, hạn chế kết quả thực hiện nhiệm vụ của
ngành, làm tổn hại đến lợi ích và thanh danh của Đảng.
4. Phải có tinh thần
đoàn kết đúng đắn và tình cảm cách mạng sâu sắc.
Đoàn kết là nguyên tắc
của Đảng, là yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Đoàn kết trong
Đảng phải trên cơ sở thống nhất về quan điểm chính trị, nguyên tắc tổ chức của
Đảng, vì lợi ích chung; không để cho chủ nghĩa cá nhân chen vào làm suy yếu sự
đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết gắn liền với tình cảm cách mạng và
tình thương yêu đồng chí.
Khi tiến hành công tác
kiểm tra, phải xem xét sự việc một các toàn diện, phải thấu hiểu hoàn cảnh và
điều kiện công tác, mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức đảng và đảng viên. Mạnh dạn đấu
tranh và có phương pháp trong đấu tranh, phê bình; giúp đỡ đồng chí, phân định
rõ đúng, sai. Kịp thời cổ vũ mặt tốt, nhân tố mới, bảo vệ những tổ chức và cá
nhân làm đúng; có phương hướng khắc phục mặt xấu, tiêu cực; góp phần chủ động
phòng ngừa vi phạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên. Biết thương yêu, quý
trọng đồng chí nhưng không vì thế mà xuê xoa, bỏ qua một cách tuỳ tiện đối với
khuyết điểm, sai lầm của đồng chí. Biết nghiêm khắc với khuyết điểm của bản
thân, nhưng biết rộng lượng với khuyết điểm của đồng chí. Không xa lánh mà phải
gần gũi giúp đỡ đồng chí khi có khuyết điểm, sai lầm.
Có tinh thần đoàn kết
và tình cảm cách mạng, cán bộ kiểm tra mới có điều kiện thuận lợi để thực hiện
tốt việc phối hợp công tác trong nội bộ và với các ngành liên quan; góp phần
giúp cấp uỷ có giải pháp đúng đắn trong việc giải quyết các hiện tượng mất đoàn
kết, bè phái, cục bộ, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Những tiêu chuẩn cơ bản,
chủ yếu nêu trên đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng cũng chính là nội
dung chủ yếu của văn hoá kiểm tra mà mỗi cán bộ kiểm tra phải phấn đấu rèn luyện hiện nay./.
PHÁT HUY VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
PHÁT HUY VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
- Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm
vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên. Ngày 17/5, Học viện Chính trị (Bộ Quốc
phòng), Ban Chỉ đạo 35, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức hội thảo khoa học
"Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay". PGS.TS.
Phạm Văn Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo 35
khẳng định: Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận trực tiếp
cho mọi hoạt động của quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng
quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ. Hội thảo
"Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay" tiếp tục
chỉ ra những nội dung quan trọng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực tiễn
và giải pháp phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng. Từ đó, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ
trương, giải pháp; quán triệt, vận dụng và tích hợp nội dung đấu tranh bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội trên từng
lĩnh vực công tác, nhất là trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các nhà trường
quân đội. Tại hội thảo, đã có hơn 100 bài tham luận được gửi đến. Các tham luận
đều khẳng định đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường
xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Đồng thời,
hội thảo tập trung phân tích và khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là
bảo vệ, phát triển và vận dụng đúng đắn những giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khẳng định quân đội luôn
là lực lượng đi đầu đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng. Các tham luận tại hội thảo khẳng định để phát huy
vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập
trung thực hiện tốt các vấn đề quan trọng. Đó là, tiếp tục quán triệt, triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định,
quy chế, kết luận của Đảng và của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng. Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục
chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ,
chiến sĩ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả
công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp
thời và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.

