Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XHCN ĐÔNG ÂU SỤP ĐỔ NHƯNG ĐẢNG TA VẪN VỮNG VÀNG TRƯỚC MUÔN TRÙNG SÓNG GIÓ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC TIẾN LÊN, CÓ CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY

!


Cuối những năm 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Liên Xô - hòn đá tảng và là “anh cả” của CNXH đã sụp đổ; theo đó các nước XHCN ở Đông Âu cũng vì thế mà sụp đổ theo. Nhiều người cho rằng, Liên Xô và các nước theo chế độ XHCN trên toàn thế giới sụp đổ là thất bại của học thuyết Mác - Lê Nin, họ đồn đoán về sự thất bại toàn diện trên phạm vi toàn thế giới của chủ nghĩa cộng sản. Thế nhưng tất cả đã lầm! Việt Nam nhanh chóng nhận ra những sai lầm khuyết điểm mà đảng cộng sản Liên Xô mắc phải, để từ đó có những quyết sách đúng đắn, kịp thời; đưa cả dân tộc tiến lên. Thực tế cho thấy, việc Liên Xô và các nước theo con đường XHCN tan rã là do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là các vấn đề nội tại; chính đảng viên của họ đã tiêu diệt đảng của họ.
Đảng Cộng sản Liên Xô đã trải qua rất nhiều khó khăn thử thách và đã vượt qua tất cả: Năm 1917, 35 vạn đảng viên đã lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, cùng nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước để bảo vệ thành công cách mạng. Năm 1941, 5.540.000 đảng viên đã cùng nhân dân chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, lãnh đạo công cuộc xây dựng Liên Xô trở thành siêu cường. Vậy nhưng, năm 1991, Đảng Cộng sản Liên Xô với 20 triệu đảng viên lại sụp đổ, không phải do kẻ thù bên ngoài, mà chính là do những mầm mống diễn biến, tự diễn biến tư tưởng bên trong nội bộ Đảng. Phi chính trị hóa quân đội, truyền thông, báo chí và cả xét lại lịch sử, sai lầm trong cải tổ kinh tế mà người đứng đầu là Mikhail Gorbachev - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Yakovlev, Trưởng Ban Tuyên Giáo Đảng Cộng sản Liên Xô.
Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và ngày càng gay gắt…Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là nỗi đau đoạn trường của những người Cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Cộng Sản, Lê Nin đã từng cảnh báo “không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản, ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những lỗi lầm không kịp khắc phục”. Tiếc thay, ngay trên quê hương của Lê Nin vĩ đại, hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội lại sụp đổ một cách nhanh chóng vì những nguyên nhân nội tại là chủ yếu mà trước đó Lê Nin đã cảnh báo.
Kinh nghiệm máu xương từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu thôi thúc Việt Nam phải kiên định Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và bản chất cách mạng nhất, khoa học nhất của chủ thuyết. Học thuyết Mác-Lênin nhất định phải được phát triển có tính đến những thay đổi diễn ra trên thế giới và tình hình trong nước. Đảng cộng sản Việt Nam không hề hoảng loạn hay hoang mang, giao động; vẫn trung thành tuyệt đối với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một mặt sáng tạo, đổi mới phù hợp với tình hình Việt Nam, một mặt mở rộng quan hệ quốc tế; chủ động đối thoại với Mỹ, Trung để bình thường hóa quan hệ. Những năm cuối thập niên 80, đầu 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đối diện với muôn trùng gian khó, tưởng chừng không thể gượng dậy được. Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước chưa lâu, lại phải đánh Pôn Pốt và quân bành trướng Bắc kinh, kéo dài đến cuối những năm 80. Đất nước kiệt quệ về kinh tế, bị tàn phá nặng nề; bị cấm vận kéo dài, làm phát tăng rất cao và đỉnh điểm là năm 1986, làm phát 774%.
Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 chính là bước ngoạt của cách mạng Việt Nam, là đại hội của đổi mới, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng khoảng kinh tế, từng bước vươn lên và đạt được những thành tựu rực rỡ. Đại hội VI nhận rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân”.
Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót. Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”. Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận. Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc: Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp. Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.
Sau ngày Liên Xô sụp đổ, chúng ta đã khó lại càng khó hơn. Yêu cầu cấp bách là phải đổi mới, nói như cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là “những việc cần làm ngay”. Ta dần dân tháo được những khó khăn, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991 và Hoa Kỳ là 1995. Cùng năm 1995, ta trở thành thành viên Asean, tổ chức ban đầu lập ra là để chống Việt Nam và chủ nghĩa Cộng sản. Ngày nay, ta quan hệ trên bình diện rộng, vừa làm bạn được với cả Mỹ - Trung, vừa làm bạn được với Hàn Quốc - Triều Tiên…đó là sự sáng suốt trong đường lối ngoại giao của mền dẻo, khôn khéo của Đảng. Tạo dựng môi trường hòa bình, tranh thủ thời cơ và vận hội, thu hút đầu tư để phát triển đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Từ 1995 đến nay, chúng ta mới được yên ổn để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Từ chỗ bị cô lập, đến nay ta đã thiết lập mối quan hệ với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ chỗ đói ăn trước đổi mới mà trở thành quốc gia có thu nhập trung bình; nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Cổ nhân dạy “dân dĩ thực vi thiên”, có nghĩa là, dân lấy cái ăn làm trời; họ cần tự do, ấm no, hạnh phúc và phẩm giá là tiêu chí hàng đầu và chỉ có đảng Cộng sản Việt Nam mới đem lại cho nhân dân Việt Nam điều đó. Lịch sử đảng trải qua 92 năm đã chứng minh một sự thật không thể chối cãi rằng: không một tổ chức nào đủ khả năng lãnh đạo đất nước, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đứng lên khai tử chế độ thực dân, đế quốc, làm nên những cuộc chiến vệ quốc vĩ đại nhất trong thế kỷ 20, đập tan âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Đánh tan Fulro và bè lũ Việt Tân do Hoàng Cơ Minh cầm đầu và các mưu đồ khủng bố, kích động bạo loạn; xây dựng một Việt Nam có cơ đồ, tiềm năng, vị thế và uy tín như hôm nay.
Để đạt những thành tựu như ngày hôm nay, nói như tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong là: “"Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", đó là sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Đảng thường xuyên xuyên tự đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Đoàn kết trên dưới một lòng để cùng nhau chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ của sự ấm no, tự do, hạnh phúc như hôm nay. Năm 1995, GDP đầu người của Việt Nam là 358,7 USD, đứng thứ 175/195 quốc gia, là một trong 20 quốc gia nghèo nhất thế giới. Đến hết năm 2020, GDP đầu người là 3.497 USD, đứng thứ 121/195 quốc gia. Quy mô nền kinh tế đạt 340,6 tỷ USD, là nền kinh tế lớn thứ 37 thế giới, thứ 4 Đông Nam Á. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được cải thiện. Thực tiễn chỉ ra rằng, sau 25 năm, thu nhập đầu người Việt Nam đã cao gấp 9,75 lần, tăng 54 hạng (từ 175 lên 121, trong Asean vượt qua Philippines) và về qui mô nền kinh tế lớn gấp 12,9 lần, vượt qua 21 quốc gia (trong Asean có Singapore và Malaysia). Điều đó có nghĩa rằng 25 năm qua (1995-2020) chúng ta đã làm được kỳ tích. Việt Nam đã đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về qui mô lẫn mức sống của người dân, tăng 21 hạng về qui mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người (thịnh vượng) trên bảng xếp hạng các quốc gia. Năm 2021, đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu với những biến thể mới, cản trở đà phục hồi của kinh tế thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, tăng trưởng kinh tế năm 2021 chỉ ở mức 2,58%, thấp nhất trong vòng 30 năm qua, tuy nhiên so với mức tăng trưởng bình quân chung của khu vực và trên thế giới thì mức tăng trưởng của Việt Nam vẫn cao hơn so với mặt bằng chung. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm, an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng tăng theo hướng phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân…
Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết, chung lưng đấu cật để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vững vàng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để đưa đất nước tiến lên. Người Việt Nam có khát vọng cháy bỏng và ý chí tự lực tự cường để cùng nhau tiến về phía trước, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, của tổ quốc. Chúng ta tiếp tục đổi mới, cải cách về thể chế, tiếp tục tự do hoá nền kinh tế, đẩy mạnh kinh tế tư nhân, đẩy mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn nữa. Cầu thị và xây dựng đất nước với cán bộ là công bộc của dân, xây dựng một Chính phủ theo hướng phục vụ, kiến tạo; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tạo điều kiện cho các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước đầu tư phát triển, giải quyết tốt việc làm, từng bước xóa đói, giảm nghèo; tạo dựng môi trường thuận lợi cho đầu tư và phát triển bền vững, vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.
Cộng đồng Quốc tế có cái nhìn tích cực về chúng ta, họ đánh giá dựa trên những phân tích khoa học, logic chứ không phải là nói cho đẹp lòng nhau! Họ đã dự báo triển vọng tươi sáng và vị trí đáng tự hào của kinh tế Việt Nam trong 15-25-30 năm nữa và chính Đảng ta cũng đã đặt mục tiêu đến năm 2045, cụ thể hóa bằng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Để đạt được những thành tựu nổi bật trên tất cả lĩnh vực như hiện nay là nhờ sự đoàn kết, nhất trí, trên dưới một lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; lòng dân - ý Đảng và ý Đảng - lòng dân hòa quyện vào nhau, hợp nhất để tạo ra sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Là cơ sở, là nền móng vững chắc để tin tưởng vào một ngày tươi sáng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong hai nhiệm kỳ vừa qua; Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã rất thẳng thắn nhìn vào thực tế, dám nghĩ, dám làm và cương quyết làm để triệt đối với tiêu cực, tham nhũng và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Công cuộc “đốt lò” đã làm cho nhân dân Việt Nam rất tin tưởng, rất vui mừng, phấn khởi. Từ cán bộ, đảng viên bình thường cho đến tầm Ủy viên BCT, mắc sai phạm theo các mức độ khác nhau đều bị xử lý thích đáng theo điều lệ Đảng, theo quy định của pháp luật, không hề có vùng cấm nào cả! Đó chính là hồng phúc của nhân dân ta! Đảng đã từng ngày củng cố niềm tin từ nhân dân, gắn bó máu thịt với dân, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân mà phụng sự.
Trong bối cảnh đại dịch covid 19 bủa vây, Đảng và nhà nước ta chủ trương “không bỏ ai ở lại phía sau”. Những người không may nhiễm bệnh, họ được chăm sóc, chữa trị chu đáo. Các tỉnh thành trong cả nước đoàn kết trên dưới một lòng để chống chọi với covid 19 và những gì tốt nhất đã được nhà nước ta mang vào tâm dịch, cùng với cán bộ và nhân dân khống chế và dập dịch! Gian nan mới tỏ mặt anh hùng, lúc khó khăn nhất là khi mà con người xích lại gần nhau nhất, đoàn kết nhất. Chúng ta cách li, điều trị cho người bệnh bằng tình yêu thương vô bờ bến; bộ đội, y, bác sĩ và cả hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở đã nỗ lực tối đa trên tinh thần không để ai bị bỏ lại, ấm tình đồng bào! Trong gian khó thì tình người phát lộ hơn bao giờ hết, nhân dân ta đối xử với nhau sự dịu dàng như lòng mẹ để bao bọc và chăm sóc, hy sinh cho nhau trong cơn hoạn nạn. Chứng minh cho thế giới thấy một Việt Nam nhân bản đến nhường nào.
Cổ nhân dạy rằng, trong hoạn nạn mới tỏ mặt anh hùng; lửa thử vàng gian nan thử sức là thế đó! Đại dịch bùng phát, tốc độ lây lan nhanh, đất nước đứng trước thử thách mới. Cả nước ta chẳng ai bảo ai, đã tự nguyện góp sức chống dịch. Việt Nam dũng cảm đánh giặc Covid-19 trên tuyến đầu và nhân dân ta là chỗ dựa, là hậu phương vững chắc để chi viện cho các “chiến trường” khắp cả nước. Câu chuyện nghĩa tình, tương thân, tương ái, đùm bộc lẫn nhau đã được người Việt Nam thay nhau kể. Đây là lúc tình đoàn kết dân tộc cao hơn lúc nào hết!
Nhiều nước trên thế giới không hiểu vì sao mà một Việt Nam nhỏ bé lại có thể chiến đấu và chiến thắng bất kỳ kẻ thù nào, suốt chiều dài lịch sử hơn 4000 năm. Đây là câu trả lời xác đáng nhất, dẫn chứng thuyết phục nhất về một Việt Nam bách chiến bách thắng. Cả dân tộc đồng lòng, chung sức thì không kẻ thù nào có thể chiến thắng được nhân dân Việt Nam. Covid-19 hiểm ác nhưng rồi sẽ phải bị khai tử bởi người Việt. Khi khó khăn nhất là lúc người Việt mạnh mẽ nhất. Cả nước một lòng, quyết chiến và toàn thắng giặc Covid-19 tàn bạo vì dưới gầm trời này, không đâu bằng tổ quốc của chúng ta. Ngoại giao vắc xin là điểm sáng của Việt Nam, Đảng, nhà nước ta đã tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn vắc xin để tiêm cho nhân dân. Bộ Y tế cho biết tính đến ngày 6/3/2022, Việt Nam đã tiếp nhận hơn 219 triệu liều vaccine phòng COVID-19, thực hiện tiêm chủng hơn 197,5 triệu liều; trong đó người từ 18 tuổi trở lên đã tiêm mũi 1 đạt 100%, mũi 2: 98,7% và mũi 3: 38,4%. Trẻ em trong độ tuổi 12-17 tuổi đã tiêm mũi 1 là 99%, mũi 2 là 93,8%. Đó là cơ sở, là biện pháp hữu hiệu nhất trong việc phòng chống covid 19, Việt Nam đã thực hiện thành công chiến lược vaccine 'đi sau - về trước' với chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước tới nay, trở thành một trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ tiêm vaccine cao nhất trên thế giới.
Phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như tham những vẫn tiềm ẩn, khó lường và ngày càng tinh vi hơn; năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu đặt ra; đất nước ta vẫn chưa phải là đất nước có nền khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, chất lượng cuộc sống được nâng lên rõ rệt nhưng vẫn chưa bằng các nước phát triển; tái cơ cầu nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế cần tập trung tháo gỡ…Đó là điều mà nhân dân hy vọng vào nhiệm kỳ XIII của Đảng sẽ từng bước tháo gỡ những khó khăn, thách thức; tranh thủ thời cơ và vận hội mới để đưa cả nước tiến lên. Dù còn nhiều khó khăn, bất cập nhưng phải khẳng định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, chính Đảng chứ không phải tổ chức nào khác đủ sức mang gành nặng tổ quốc trên đôi vai của mình! Rồng Việt Nam sẽ cưỡi sấm lên trời
Mặc dù CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, nhưng điều này không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đường đi lên XHCN là sai làm, là thất bại. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH. Đây là sự sụp đổ của một mô hình CNXH giáo điều, rập khuôn, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về CNXH. Sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Trung Quốc, Lào, Cu Ba, Triều Tiên hay những quốc gia có khuynh hướng cánh tả như Venezuela và một số nước Mỹ La Tinh cũng chứng tỏ CNXH với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vẫn là một giá trị bền vững.
Thời đại ngày nay đang có nhiều biến đổi ngày càng khó lường, có nhiều học thuyết khác nhau nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ. Với lý luận hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn trang bị cho giai cấp công nhân hiện đại cách tiếp cận khoa học, khách quan về thế giới đương đại cũng như con đường giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân. Trên cơ sở tiếp cận khách quan, khoa học, giai cấp công nhân với phương pháp luận khoa học biện chứng sẽ nhận thức rõ quy luận vận động của lịch sử loài người. Trên cơ sở đó, tin tưởng vào tương lai của nhân loại một cách có căn cứ. Dù thế giới có đổi thay, dù khoa học công nghệ có biến đổi nhanh, khó lường, dù chủ nghĩa đế quốc không từ thủ đoạn nào chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tin vào chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào tương lai tươi sáng của nhân loại, tin vào con đường giải phóng mình và giải phóng nhân loại tiến bộ.
Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức. Liên Xô và các nước theo CNXH sụp đổ nhưng chúng ta vẫn vững vàng; chế độ ta vẫn chiếm trọn niềm tin yêu và cả trái tim của nhân dân Việt Nam đời đời văn hiến. Điều đó chứng minh rằng: Liên Xô sụp đổ là do tự chính tay họ đã tạo ra chứ không phải là thất bại của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin; sai lầm khuyết điểm không thể vãn hồi của Liên Xô chính là bài học xương máu để Đảng ta lấy làm gương tự đổi mới, tự chấn chỉnh mình. Nhân dân Việt Nam tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu, như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn./.
Sưu Tầm

Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres thăm chính thức Việt Nam

 


Nhận lời mời của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres đến Thủ đô Hà Nội, thăm chính thức Việt Nam từ ngày 21-22/10.

Chủ tịch nước gặp mặt nữ đại biểu là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội

 


Chiều 20/10, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt nữ đại biểu là các đồng chí nữ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí nữ Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII, các nữ đại biểu Quốc hội khóa XV.

Việt Nam - đại diện xứng đáng tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

 Việt Nam - đại diện xứng đáng tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

(ĐCSVN) – Việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.

Ngày 11/10 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025, trong đó có Việt Nam. Việt Nam nhận được 145/189 phiếu tán thành, chiếm gần 80% và thuộc nhóm nhận được sự ủng hộ cao nhất. Sự kiện này đã ghi thêm một dấu ấn, một thắng lợi mới trên lĩnh vực ngoại giao, đồng thời cũng khẳng định được uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các đối tượng phản động, thù địch đã lợi dụng sự kiện này để liên tục xuyên tạc, phản đối, tìm mọi cách hạ thấp uy tín của Việt Nam cả trước, trong và sau khi diễn ra sự kiện này. Đây là thủ đoạn cần được nhận diện và đấu tranh phản bác mạnh mẽ.

Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan

 Thời gian qua, vào trước thời điểm bỏ phiếu, các tổ chức phản động như Việt Tân và một số tổ chức nhân quyền, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Hoa Kỳ đã liên tục chống phá qua nhiều kênh thông tin, bằng nhiều cách thức tiếp cận khác nhau. Ngày 3/10/2022, đại diện của tổ chức khủng bố Việt Tân (Hoàng Tứ Duy) đã lên tiếng trong buổi họp báo do UN Watch tổ chức, phản đối mạnh mẽ việc Việt Nam tham gia là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, cho rằng Việt Nam không xứng đáng với vai trò này. Ngày 4/10/2022, 8 tổ chức nhân quyền đã đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Ngày 8/10/2022, một liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ từ châu Âu, Hoa Kỳ, Canada đồng thanh kêu gọi các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc bác tư cách ứng cử vào Hội đồng nhân quyền của Việt Nam. Không chỉ vậy, nhiều trang cá nhân của các đối tượng chống đối, phản động cũng đồng loạt lên tiếng với thái độ “chế giễu”, xuyên tạc, bôi nhọ về vị thế của Việt Nam, cho rằng việc Việt Nam tham gia vào Hội đồng nhân quyền là vô lý, cho rằng Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền, do đó không xứng đáng để tham gia vào Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc.

Với các luận điệu này, trước hết cần khẳng định việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan, công tâm, phản ánh tính tất yếu của quá trình vận động, kiến tạo và nỗ lực đóng góp của Việt Nam vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới – một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu đồng thuận cao, sự đánh giá tích cực của báo chí nước ngoài cũng như sự ủng hộ, ghi nhận và kỳ vọng của cộng đồng quốc tế với những đóng góp quan trọng của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới.

Có thể thấy, với vai trò là thành viên Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam ngày càng củng cố thêm uy tín và vị thế của mình trên trường quốc tế, cho thấy sự nỗ lực, sáng tạo trong tư duy chiến lược cũng như tính hiệu quả của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta những năm gần đây. Điều này cũng lan toả và truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh con người, đất nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình, đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo, đồng thời giúp truyền tải chính xác, đúng đắn hơn về chủ trương, chính sách và thành tựu trong đảm bảo quyền con người ở nước ta.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán xác định con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Việc bảo vệ quyền con người luôn được lồng ghép, cụ thể hoá trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể chế hoá trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó các quyền con người, quyền công dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ Việt Nam trong vai trò mới

Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam hoàn toàn xứng đáng và có thể làm tốt bất cứ vai trò quốc tế quan trọng nào. Việt Nam đã từng trúng cử và đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã hai lần trúng cử là Uỷ viên không thường trực chính thức của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020 – 2021). Kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hoà bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là điều phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng Nhân quyền. Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3. Việc Việt Nam quan tâm đến các công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người cũng đã tạo ấn tượng sâu đậm tới cộng đồng quốc tế về nỗ lực đóng góp nâng cao đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Không chỉ dư luận nhân dân trong nước ủng hộ, tự hào mà các cơ quan báo chí nước ngoài cũng đưa tin bài, thể hiện sự ủng hộ Việt Nam trong vai trò thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Báo Washington Times ngày 21/9/2022 đã đăng bài viết trong đó ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Bài viết cho thấy Việt Nam tiếp tục được đánh giá cao tại Liên hợp quốc với việc cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, là thành viên tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Hơn nữa, cuộc chiến chống đại dịch COVID – 19 của Việt Nam cũng ghi nhận nhiều kết quả. Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cho một số quốc gia về điều kiện, cơ sở vật chất để phòng chống dịch. Bài viết tổng kết rằng, kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hòa bình, phát triển và đảm bảo quyền con người.

Theo bà Caitlin Wiesen, Nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người là công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Có thể thấy rằng, việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.

Sự kiện này một lần nữa khẳng định cho ý chí, quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong phát triển đất nước, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng ta trong tình hình mới. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ trong cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cùng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ tại Hội đồng nhân quyền, chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hoà bình, đảm bảo quyền con người trong xã hội./.

VẬN DỤNG CHỈ DẪN CỦA V.I.LÊNIN ĐỂ CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI Ở VIỆT NAM

 VẬN DỤNG CHỈ DẪN CỦA V.I.LÊNIN ĐỂ CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI Ở VIỆT NAM

Trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ động đấu tranh với những tư tưởng và những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa được triển khai xuyên suốt trong Đảng, trong hệ thống chính trị đã góp phần tạo sự thống nhất nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận trong xã hội.

Trong hành trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và luôn kiên quyết chống lại các quan điểm sai trái, thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua cuộc đấu tranh này gay go, phức tạp này, Đảng không chỉ khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng mà còn góp phần loại bỏ được nhiều phần tử cơ hội, loại trừ những người không đủ tiêu chuẩn, những kẻ phiêu lưu, khiêu khích ra khỏi Đảng. Thông qua đó, làm cho Đảng được tôi luyện và trưởng thành, thực sự là đội ngũ đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự có sức mạnh, đủ năng lực cầm quyền, lãnh đạo và sức chiến đấu trong mọi hoàn cảnh. 

Tuy nhiên, thực tiễn công tác xây dựng Đảng cũng cho thấy, vì cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có một bộ phận còn diễn biến phức tạp. Ở không ít tổ chức Đảng vẫn còn có một bộ phận những người cơ hội chủ nghĩa, không chỉ mơ hồ, hoang mang, dao động, lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng, thiếu sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị không vững vàng mà còn sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham ô, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, v.v.. Sự suy thoái đó chính là nguy cơ thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong Đảng và chế độ.

Cùng với đó, trước mỗi kỳ đại hội Đảng nói riêng và trong công tác cán bộ nói chung, ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn còn đó những kẻ cơ hội "diễn gương", luôn tỏ ra có tác phong quần chúng, đi đâu cũng chủ động thăm già, hỏi trẻ, khích lệ đồng chí, đồng nghiệp, nhưng thực chất là “nhẫn nhịn” để chờ thời, lấy phiếu vào quy hoạch, để được bổ nhiệm. Rồi từ đó, dùng vị thế "đạt được" của mình vi phạm, thậm chí bỏ qua nguyên tắc tập trung dân chủ mà quyết định những vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân; tác động xấu đến tâm tư, tình cảm và niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ… Dạng cán bộ, đảng viên này và những biểu hiện cơ hội đó đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chỉ rõ. Đó là, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể…Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Vì thế, để “kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”[7] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và chủ động phòng và đấu tranh chống những kẻ cơ hội, những biểu hiện cơ hội  trong bối cảnh toàn Đảng đang chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Cùng với đó, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước trên tinh thần giữ vững tính Đảng, tính chính trị, tính khoa học, nguyên tắc thống nhất giữ lý luận và thực tiễn trong đấu tranh về tư tưởng, lý luận của Đảng. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để chủ động, sáng tạo, thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, bám sát tình hình thực tiễn trong cuộc đấu tranh này trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Quán triệt mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để không chỉ thực hiện tốt “nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”[8], mà còn chủ động đấu tranh vạch trần tính chất phản khoa học, phản động trong những quan điểm, tư tưởng sai trái của những phần tử cơ hội. Đi liền cùng đó là đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn, tổng kết thực tiễn để kết luận những vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra, thiết thực xây dựng Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, phát huy vai trò sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc, nhiều tầng nấc trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Cụ thể, nâng cao tính chủ động, thiết thực, hiệu quả của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương trong công tác tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên trận địa tư tưởng. Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành và tính kịp thời, đa dạng, phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thanh, truyền hình, coi đó là nhiệm vụ, trách nhiệm chính trị cao cả của mọi tổ chức, mọi lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng để phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.

Trong đó, cần sử dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; khơi dậy và phát huy cao độ khả năng, thế mạnh của mỗi tổ chức, mỗi lực lượng tham gia; đồng thời, khắc phục sự đấu tranh kiểu một chiều, khuôn sáo theo công thức định sẵn, thoát ly các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn. Chú trọng xây dựng và tổ chức các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt có trình độ chuyên sâu, có phương pháp khoa học, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ trong cuộc đấu tranh gay go, phức tạp này gắn với việc nâng cao hiệu quả việc giám sát hoạt động, ngăn chặn liên lạc, vô hiệu hóa hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các đối tượng cơ hội, của các thế lực thù địch trên mạng xã hội bằng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ hữu hiệu.

Ba là, gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để không chỉ phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, nắm rõ tâm tư, nguyện vọng, tình hình chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc mà còn góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cụ thể, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ gắn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh chống tham ô, tham nhũng, quan liêu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, thực hành dân chủ trong Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân…; đồng thời, thường xuyên sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết đưa những người không đủ tiêu chuẩn, những đảng viên thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước ra khỏi Đảng gắn với coi trọng chất lượng công tác phát triển Đảng.

 

Bốn là, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong việc nêu cao ý thức tự rèn luyện, tự bảo vệ mình trong sạch về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Mỗi người trong thực nhiệm vụ chính trị, thực thi công vụ phải thống nhất giữa nói và làm, giữa dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo theo tinh thần Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Những điều đảng viên không được làm và Quy định số 08-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; nhất là trong phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội như tư duy nhiệm kỳ, đầu cơ chính trị, chạy phiếu bầu, chạy quy hoạch, luân chuyển, chạy chức, chạy quyền…

 

Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở; Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Đồng thời, hướng về cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ; trong giám sát việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước; trong chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới các cấp đảm bảo tiêu chuản vừa hồng vừa chuyên; nhất là, cần tạo nhiều kênh thông tin, nhiều diễn đàn để lắng nghe và tiếp nhận ý kiến góp ý xây dựng của nhân dân, coi đó là một biện pháp hữu hiệu để sớm phát hiện những kẻ cơ hội trong Đảng và những kẻ cơ hội đang tìm mọi cách chui vào Đảng nhằm thăng quan, phát tài, "vinh thân, phì gia", mưu cầu lợi ích cá nhân, nhóm lợi ích, dòng họ, địa phương./.

Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề xung đột Nga - Ukraine

 

 Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề xung đột Nga - Ukraine là rất khách quan và rõ ràng, đó là: Việt Nam kêu gọi các bên chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu.Ấy thế nhưng, lợi dụng việc Đại Hội đồng Liên Hợp quốc vừa thông qua Nghị quyết về tình hình Ukraine, trên một số diễn đàn, mạng xã hội, một số cá nhân lại đang cố tình tái diễn những luận điệu xuyên tạc, suy diễn quan điểm của Việt Nam về cuộc xung đột này.

Việt Nam kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình tại Ukraine

 Ngày 12/10, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết kêu gọi các quốc gia trên thế giới không công nhận việc Nga sáp nhập 4 vùng lãnh thổ ở Ukraine thông qua trưng cầu dân ý. Nghị quyết nhận được 143/193 phiếu ủng hộ. Có 5 nước bỏ phiếu chống lại nghị quyết, bao gồm Nga và 35 nước bỏ phiếu trắng.

Sau khi nghị quyết trên được thông qua, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đã cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng quan điểm của Việt Nam là “chung chung”, “không rõ ràng”, “tránh đối đầu”, Việt Nam đã không đi theo số đông, một lần nữa cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine, quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine đã “thụt lùi” thêm một lần nữa.

Luận điệu của họ là, lá phiếu của Việt Nam khiến nhiều người cảm thấy “thất vọng”, Việt Nam “ngoài lề” trong khối ASEAN, lá phiếu này sẽ để lại nhiều “hệ lụy” đối với Việt Nam. Một số người thì ngang nhiên xuyên tạc rằng: Việt Nam phản đối chiến tranh, phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, lá phiếu trên khiến nhiều người phải suy nghĩ lại về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam. Cá biệt, còn có luận điệu xuyên tạc rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu “chung chung”; “Nghị quyết trên là vấn đề thuộc về nhân quyền mà lương tri phải lên tiếng bảo vệ lẽ phải thì Việt Nam lại làm ngược lại”; cái gọi là “đứng về lẽ phải, công lý” mà Việt Nam đưa ra đối với cuộc xung đột này chỉ là ngụy tạo…

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã nhấn mạnh rằng: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

Ngày 12/10, phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc tiếp tục khẳng định: Việt Nam theo dõi sát và đặc biệt quan ngại trước các diễn biến gần đây tại Ukraine, nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo đảm tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Trong đó, có việc không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh, xuất phát từ lịch sử phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh để giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình và phản đối mọi hành vi đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Do đó, Việt Nam tiếp tục kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu; đồng thời, kiên trì thúc đẩy đối thoại, đàm phán để tìm giải pháp hòa bình lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở phù hợp và triệt để tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, tính tới lợi ích, quan tâm chính đáng của các bên liên quan, vì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Trước đó, tại họp báo thường kỳ chiều ngày 6/10, trả lời câu hỏi của báo chí về vấn đề Nga sáp nhập 4 tỉnh của Ukraine, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan nối lại đối thoại, giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Việt Nam sẵn sàng đóng góp vào quá trình thúc đẩy đối thoại tìm kiếm giải pháp để sớm ổn định tình hình, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”.

 

Như vậy, có thể thấy rằng, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đột xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine.

Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ

Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại. Trong chính sách đối ngoại đa phương đó, Việt Nam luôn khẳng định cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng, là bạn bè truyền thống, lâu đời và Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định.

Đây cũng chính là thông điệp mà Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính đã đưa ra trong chuyến thăm và làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc tháng 5/2022, đó là: Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng.

Việt Nam cũng luôn nhất quán và giữ vững nguyên tắc chính sách quốc phòng “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là sự khẳng định, quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, mang tính hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết, kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước phải chịu nhiều nỗi đau, mất mát do chiến tranh, hơn ai hết dân tộc Việt Nam luôn thấu hiểu và trân trọng giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Để có được nền hòa bình, độc lập, tự do như ngày nay, dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước nên Việt Nam luôn trân quý và mong muốn duy trì một thế giới hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển. Cũng chính vì vậy, như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp. Việt Nam luôn thẳng thắn, chân thành trong quan hệ quốc tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc với trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế.

Như vậy, có thể thấy rằng, một lần nữa các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch với Đảng, Nhà nước Việt Nam lại tái diễn những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine. Đây thực chất là một âm mưu rất thâm độc và hết sức nguy hiểm bởi những luận điệu trên không nằm ngoài mục đích là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam; kích động dư luận trong và ngoài nước chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

 

 

 

 

Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng

 Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng

(ĐCSVN) - Sau khi cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) thành công, việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới là rất cấp bách. Để xứng đáng với vị thế là Đảng cầm quyền thì công tác kiểm tra, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng là rất quan trọng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I.Lênin cho rằng công tác kiểm tra là một nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Khi đã giành được chính quyền, một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết là phải tiến hành công tác kiểm tra và xây dựng được tổ chức bộ máy cũng như đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng; có trình độ, có năng lực và phẩm chất cách mạng, biết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Những tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra là những bài học có giá trị đối với Đảng Cộng sản (b) Nga và Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng nói riêng.

1. Về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra

Theo V.I.Lênin, để chính quyền Xô - viết đứng vững trước sự chống phá của các thế lực phản cách mạng cả trong và ngoài nước thì những người lãnh đạo phải tiến hành kiểm tra, kiểm soát. Người chỉ ra rằng: “Hiện nay, thực tiễn là tất cả; rằng đã đến một thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn, trở nên sinh động bằng thực tiễn, được sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn” (1).

Ở đây, V.I.Lênin khẳng định kiểm tra như là nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng vì có chủ trương đúng, có tổ chức thực hiện nhưng thiếu kiểm tra cũng rất khó có kết quả tốt được.

Người còn khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kiểm soát và coi đây là công cụ chắc chắn nhất để bảo vệ những mầm mống của xã hội mới. Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải nắm chắc công tác kiểm tra, V.I.Lênin nhấn mạnh: "Theo ý tôi, điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh (đấy là chúng ta u mê đến ngu xuẩn) sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện. Đó là vấn đề then chốt nhất" (2). "Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" (3).

Kiểm tra con người và kiểm tra việc chấp hành trong thực tế có mục đích và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình lãnh đạo. V.I.Lênin cho rằng: Kiểm tra như thế là cần thiết cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. Về mặt lý luận là để căn cứ vào thực tế, vào kinh nghiệm mà biết chắc được rằng các nghị quyết đã được thông qua có đúng hay không và đúng đến mức nào, cần phải sửa đổi những gì. Về mặt thực tiễn là để học tập cho biết cách tuân theo các nghị quyết ấy một cách thật sự, học tập để biết coi các nghị quyết ấy là những chỉ thị cần được áp dụng trực tiếp và ngay lập tức vào thực tế.

Người viết: “nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn không phải là ra những sắc lệnh, tiến hành các cuộc cải tổ mà là lựa chọn người; thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm; kiểm tra công việc thực tế”

Như vậy, mục đích của công tác kiểm tra theo V.I.Lênin nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện); phát hiện người tốt, việc tốt; ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng; thực hiện có kết quả cao nhất các quyết định đã được đưa ra và xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể xã hội ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Điều đó có nghĩa bất kỳ một chủ trương, quyết định, nghị quyết, chỉ thị, chính sách nào dù lớn hay nhỏ đều phải được kiểm tra với kế hoạch, chương trình kiểm tra cụ thể. Bởi vì, khi đã có chủ trương, nghị quyết, chính sách dù là đúng thì vẫn phải tiến hành công tác kiểm tra. Chỉ có kiểm tra và kiểm tra thường xuyên thì những chủ trương, chính sách đó mới hoàn thiện và trở thành hiện thực.

Điều chúng ta cần lưu ý là việc hiểu về quy trình lãnh đạo bao gồm các khâu cơ bản là: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện chỉ có tính tương đối về mặt nhận thức. Nếu trên thực tế tuyệt đối hóa các khâu của quy trình lãnh đạo thành từng bước riêng rẽ như thực hiện quy trình kiểm tra hiện nay là: bước chuẩn bị, bước tiến hành và bước kết thúc sẽ dẫn đến sai lầm rất nghiêm trọng.

Trong quy trình lãnh đạo, khi tiến hành từng khâu thì luôn phải tiến hành công tác kiểm tra. Kiểm tra ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định để xem quyết định đó có đúng hay không, kiểm tra lúc tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra ngay cả những cán bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Nếu máy móc thực hiện tuần tự từng bước như để ra quyết định xong, tổ chức thực hiện quyết định rồi mới tiến hành kiểm tra thì chúng ta đã biến công tác kiểm tra thành việc đi “bới móc”, “vạch lá tìm sâu”, kiểm tra chỉ để thi hành kỷ luật bởi đã ra quyết định sai, tổ chức thực hiện sai thì tất yếu khi kiểm tra chỉ còn việc đánh giá xem có sai phạm nhiều hay ít, phải thi hành kỷ luật ở mức nào. Kiểm tra phải được lồng vào tất cả các khâu sẽ có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm ngay từ khi mới manh nha từ lúc ra quyết định hoặc khi tổ chức thực hiện. Trong thực tế, do nhận thức sai dẫn đến khi thực hiện đã tách rời thành những khâu trong quy trình lãnh đạo thành độc lập, thậm chí biệt lập nên hậu quả để lại rất nghiêm trọng. Nhiều cán bộ cấp cao bị kỷ luật khi đứng trước Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng từng nói, giá mà các đồng chí kiểm tra phát hiện sớm thì hậu quả không nặng nề như vậy.

V.I.Lênin cho rằng, làm tốt công tác kiểm tra sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh “chống chủ nghĩa quan liêu, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy óc sáng kiến, nhằm phát hiện, lột mặt nạ và đuổi ra khỏi Đảng những kẻ lén lút chui vào đảng” (5).

V.I.Lênin khẳng định, kiểm tra tốt sẽ góp phần đấu tranh chống bệnh quan liêu, bệnh giấy tờ: “Trọng tâm công tác của các đồng chí chính là chấn chỉnh lại công việc đang quan liêu đến ghê tởm của chúng ta, là đấu tranh chống bệnh quan liêu giấy tờ, là kiểm tra việc thực hiện.

Kiểm tra việc thực hiện, kiểm tra xem cái gì diễn ra trong thực tế - đó là nhiệm vụ chủ yếu và nhiệm vụ chính của đồng chí” (6).

2. Về xây dựng cơ quan kiểm tra

Sau Cách mạng tháng Mười, khi trở thành Đảng cầm quyền, các cơ quan lãnh đạo quan trọng nhất của Đảng được thành lập, bao gồm: Bộ Chính trị, Bộ Tổ chức, Ban Bí thư (tất cả các cơ quan này đều được thành lập sau Đại hội VIII của Đảng Cộng sản (b) Nga vào năm 1919). Trong "Dự thảo nghị quyết về những nhiệm vụ trước mắt của công tác xây dựng Đảng", trình bày tại Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b) Nga, ngày 24-11-1920 có ghi: "thừa nhận sự cần thiết phải thành lập Ban kiểm tra song song với Ban Chấp hành Trung ương, thành phần ban này phải gồm những đồng chí có trình độ nhất định trong lĩnh vực công tác đảng, có kinh nghiệm nhất, không thiên vị và có khả năng thực hiện công tác kiểm tra hoàn toàn theo tinh thần của Đảng. Là một cơ quan do Đại hội bầu ra, Ban kiểm tra phải được quyền thu nhận mọi đơn thư khiếu tố và xem xét các đơn ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp hành Trung ương, trong trường hợp cần thiết, thì tổ chức những phiên họp chung, liên tịch với Ban chấp hành trung ương hoặc chuyển vấn đề cho đại hội đảng giải quyết" (7).

 

Ý kiến của V.I.Lênin đã được Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b) Nga thông qua và cơ quan - Ban Kiểm tra Trung ương đã được Đại hội bầu ra. V.I.Lênin chuẩn bị viết: "Tôi đề nghị đại hội bào vào Ban kiểm tra trung ương từ 75 đến 100 (tất cả các con số, đương nhiên đều áng chừng) ủy viên mới, lựa chon trong công nhân và nông dân” (8).

Thực tế sau hơn một năm hoạt động, Ban Kiểm tra do Đại hội bầu ra đã làm việc rất có hiệu quả. Tại Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, tháng 3-1922, V.I.Lênin đã đánh giá: "Ban Kiểm tra Trung ương là một cơ quan rất tốt, và bây giờ chúng ta sẽ giao cho nó nhiều quyền hành hơn" (9). V.I.Lênin cho rằng trong Đảng có ba cơ quan đảng, là những cơ quan bảo đảm đầy đủ nhất trong việc chống lại những ảnh hưởng của địa phương và cá nhân, “tức là: Bộ Tổ chức của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Ban Kiểm tra Trung ương. Nên nói thêm rằng cơ quan thứ ba này, tức là Ban Kiểm tra Trung ương, cơ quan chỉ chịu trách nhiệm trước đại hội đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế nào để cho các uỷ viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của bất cứ bộ dân uỷ nào, cơ quan hành chính nào và cơ quan nào của Chính quyền xô-viết" (10). Đến tác phẩm "Chúng ta phải cải tổ Bộ Dân uỷ Thanh tra công nông như thế nào?" viết tháng Giêng năm 1923, V.I.Lênin lại một lần nữa khẳng định: Ban Kiểm tra Trung ương có quyền tham dự vào các kỳ Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương - Hội nghị tối cao của Đảng. Người đề nghị trao quyền hạn cụ thể cho các Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương: “có nhiệm vụ tham dự, với một số lượng nhất định, vào mỗi phiên họp của Bộ Chính trị, sẽ phải là một nhóm cố kết; nó, "không được vị nể cả nhân", phải giữ gìn sao cho không được một uy quyền nào của Tổng Bí thư hay một uỷ viên trong Ban Chấp hành Trung ương có thể ngăn cản mình chất vấn, kiểm tra các hồ sơ, và nói chung, nắm được tình hình hết sức rõ ràng và xử lý mọi việc hết sức đúng đắn” (11). Những uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương có nhiệm vụ (dưới sự lãnh đạo của Đoàn Chủ tịch của họ), xem xét đều đặn tất cả những hồ sơ và tài liệu và còn có quyền kiểm tra hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước.

Để đạt được như vậy, về cách thức tổ chức, theo V.I.Lênin, Ban Kiểm tra “là cơ quan do Đại hội bầu ra” và “chỉ chịu trách nhiệm trước Đại hội Đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế nào để cho các uỷ viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của bất cứ Bộ dân uỷ nào, cơ quan hành chính nào của Chính quyền xô-viết" (12).

 

Tư tưởng này của V.I.Lênin là nhằm nâng tầm ảnh hưởng của cơ quan kiểm tra vì nếu cơ quan kiểm tra do đại hội bầu ra và chỉ chịu trách nhiệm trước đại hội sẽ làm cho hoạt động của cơ quan này độc lập, không bị chi phối bởi nếu là cơ quan tham mưa giúp việc cho cấp ủy sẽ rất khó đảm báo tính khách quan trong thực hiện nhiệm vụ.

Về nhiệm vụ và chế độ công tác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Ban Kiểm tra phải được quyền thu nhận mọi đơn thư khiếu tố và xem xét các đơn thư ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp hành Trung ương, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức những phiên họp chung, liên tịch với Ban Chấp hành Trung ương hoặc chuyển cho Đại hội Đảng giải quyết” (13).

Đến năm 1923, một lần nữa V.I.Lênin lại yêu cầu: “Ban Kiểm tra có quyền tham dự vào các kỳ hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương - hội nghị tối cao của Đảng” và Người yêu cầu phải: “Biến Ban này thành cơ quan thật sự đại diện cho lương tri của Đảng và giai cấp vô sản” (14).

Vào năm 1923, tức là sau 5 năm hoạt động của các cơ quan đảng và bộ máy chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đã phát hiện những hạn chế, bất cập, chồng chéo của chúng. Việc cải tổ bộ máy nhà nước Xô viết và các cơ quan đảng theo nguyên tắc "thà ít mà tốt" đã được V.I.Lênin chỉ ra. Ý tưởng hợp nhất hai cơ quan: Bộ Dân uỷ thanh tra công nông với Ban Kiểm tra Trung ương đã được hình thành. V.I.Lênin cho rằng, việc hợp nhất hai cơ quan đó sẽ có ích cho cả hai. Một mặt, Bộ Dân uỷ thanh tra công nông sẽ vì thế mà có được một uy tín rất cao; mặt khác, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng cùng với Ban Kiểm tra Trung ương sẽ hoàn toàn trở thành một hội nghị tối cao của Đảng. Rất tiếc, quan điểm này của V.I.Lênin chưa được thực hiện trên thực tế vì Người đã qua đời.

3. Về xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra

Không chỉ quan tâm kiện toàn cơ chế tổ chức Ban kiểm tra, V.I.Lênin còn rất quan tâm đến đội ngũ những người làm công tác kiểm tra từ khâu lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến chế độ đãi ngộ. Người quan niệm, những cán bộ kiểm tra phải thật sự là những người mẫu mực nhất, "không thể chê trách được".

 

Để trở thành cán bộ kiểm tra, theo V.I.Lênin, người cán bộ đó phải qua lựa chọn cẩn thận, sát hạch, thanh tra kỹ, được đặc biệt tin cẩn và được huấn luyện rất công phu: “Những công nhân mà chúng ta chỉ định là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những người cộng sản không thể chê trách được, và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ lực lâu dài để huấn luyện cho họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu công tác của họ” (15). Nội dung kiến thức mà những cán bộ kiểm tra phải tiếp nhận rất phong phú, toàn diện, bao gồm kiến thức lý luận, công tác tổ chức, quản lý nhà nước, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn v.v. V.I.Lênin viết: "Họ cũng có nhiệm vụ phải học lý luận, nghĩa là lý luận về tổ chức công tác mà họ có ý định chuyên làm; họ cũng sẽ phải thực tập dưới dự lãnh đạo của những đồng chí có kinh nghiệm, hoặc của những giáo sư các viện nghiên cứu cao cấp về tổ chức lao động" (16). Người cán bộ kiểm tra không chỉ được đào tạo trên sách vở - "hoạt động thuần tuý học viện", mà họ sẽ còn phải chuẩn bị để làm những công tác thực tiễn trong cuộc đấu tranh với những phần tử thoái hóa, biến chất trong bộ máy nhà nước như “...chuẩn bị đi săn, tôi không nói là săn bọn ăn cắp, mà là săn một hạng người cũng đại loại như vậy” (17).

Đối với thành viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, theo V.I.Lênin: “Những đồng chí được tuyển lựa sẽ phải trải qua, với tư cách là đảng viên, một cuộc thẩm tra giống như cuộc thẩm tra mà tất cả các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải trải qua, vì các đồng chí ấy sẽ có hết thảy mọi quyền hạn của chức vụ ấy” (18).

Ngoài công tác lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, V.I.Lênin còn đặc biệt quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối với cán bộ kiểm tra nhằm tạo cho họ toàn tâm toàn ý làm việc. Thực tế cho thấy, nếu cán bộ kiểm tra có cuộc sống quá bần hàn và kham khổ thì rất khó yêu cầu họ đứng vững trước mọi cám dỗ đời thường. Người chỉ rõ: "họ sẽ phải có năng lực công tác cao, phải được thanh tra một cách cẩn thận, phải là người đặc biệt tin cẩn, và sẽ được hưởng lương cao giúp cho họ thoát khỏi hoàn cảnh thật sự là khốn khổ (nếu không phải là hơn thế) như hoàn cảnh hiện thời của những viên chức trong Bộ dân uỷ thanh tra công nông" (19). VI.Lênin yêu cầu cán bộ kiểm tra phải thật sự là những người mẫu mực: “Những công nhân mà chúng ta chỉ định là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những người cộng sản không thể chê trách được. Và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ lực lâu dài để huấn luyện cho họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu công tác của họ" (20).

4. Những suy nghĩ về việc vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin hiện nay

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cán bộ kiểm tra đảng nói chung phải bảo đảm các tiêu chuẩn cơ bản sau:

1. Phải tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Đây là nhiệm vụ của đảng viên nói chung, đồng thời cũng là yêu cầu nghiêm ngặt và quan trọng đầu tiên đối với người cán bộ kiểm tra. Nếu không trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, không thường xuyên nghiên cứu, nắm vững và trung thành với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chính sách và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thì cán bộ kiểm tra không thể thực hiện được tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng do Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp uỷ giao.

2. Phải có dũng khí cách mạng, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao.

Dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ kiểm tra thể hiện ở sự yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề, ý chí phấn đấu để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác; kiên quyết khắc phục và không lùi bước trước mọi khó khăn, trở ngại trong công tác và đời sống; tập trung trí tuệ, năng lực, chủ động và sáng tạo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Mọi suy nghĩ và hành động phải xuất phát từ động cơ trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống những hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, vô trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Tôn trọng sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên và uy tín của tổ chức đảng. Khi xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật phải đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời, có lý, có tình; dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh với những sai lầm, khuyết điểm; chịu trách nhiệm đầy đủ với các kết luận, quyết định mà bản thân tham gia thảo luận và biểu quyết. Tác phong công tác phải khoa học, thận trọng, cụ thể, tỷ mỉ; không chủ quan, đơn giản, qua loa, tắc trách.

Cán bộ kiểm tra không những phải có dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao, mà còn phải có ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác và nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên và các nguyên tắc, chế độ công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng quy trình, phương pháp công tác kiểm tra; giữ bí mật nội dung, tài liệu, thực hiện đúng quy định về kỷ luật báo cáo, kỷ luật phát ngôn.

3. Phải trung thực, khách quan, công tâm, trong sạch.

Cán bộ kiểm tra phải có đức tính trung thực, khách quan, công tâm, trong sạch, đó vừa là phẩm chất đạo đức vừa là cơ sở tạo nên sự tin cậy của tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân đối với cán bộ kiểm tra.

Khi xem xét, đánh giá người và việc, cán bộ kiểm tra phải vì lợi ích của Đảng, của sự nghiệp cách mạng mà nói đúng sự thật, không thiên vị, định kiến, không chen động cơ cá nhân hoặc chạy theo tình cảm riêng tư; không bị chi phối trước bất cứ sức ép nào. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, những nhân tố tiêu cực đang hằng ngày, hằng giờ tác động vào đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng. Do đó, cán bộ kiểm tra phải biết giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh, không vì lợi ích cá nhân mà làm những điều sai trái, ảnh hưởng xấu đến uy tín của đội ngũ cán bộ kiểm tra, hạn chế kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành, làm tổn hại đến lợi ích và thanh danh của Đảng.

4. Phải có tinh thần đoàn kết đúng đắn và tình cảm cách mạng sâu sắc.

Đoàn kết là nguyên tắc của Đảng, là yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Đoàn kết trong Đảng phải trên cơ sở thống nhất về quan điểm chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, vì lợi ích chung; không để cho chủ nghĩa cá nhân chen vào làm suy yếu sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết gắn liền với tình cảm cách mạng và tình thương yêu đồng chí.

 

Khi tiến hành công tác kiểm tra, phải xem xét sự việc một các toàn diện, phải thấu hiểu hoàn cảnh và điều kiện công tác, mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức đảng và đảng viên. Mạnh dạn đấu tranh và có phương pháp trong đấu tranh, phê bình; giúp đỡ đồng chí, phân định rõ đúng, sai. Kịp thời cổ vũ mặt tốt, nhân tố mới, bảo vệ những tổ chức và cá nhân làm đúng; có phương hướng khắc phục mặt xấu, tiêu cực; góp phần chủ động phòng ngừa vi phạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên. Biết thương yêu, quý trọng đồng chí nhưng không vì thế mà xuê xoa, bỏ qua một cách tuỳ tiện đối với khuyết điểm, sai lầm của đồng chí. Biết nghiêm khắc với khuyết điểm của bản thân, nhưng biết rộng lượng với khuyết điểm của đồng chí. Không xa lánh mà phải gần gũi giúp đỡ đồng chí khi có khuyết điểm, sai lầm.

Có tinh thần đoàn kết và tình cảm cách mạng, cán bộ kiểm tra mới có điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt việc phối hợp công tác trong nội bộ và với các ngành liên quan; góp phần giúp cấp uỷ có giải pháp đúng đắn trong việc giải quyết các hiện tượng mất đoàn kết, bè phái, cục bộ, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Những tiêu chuẩn cơ bản, chủ yếu nêu trên đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng cũng chính là nội dung chủ yếu của văn hoá kiểm tra mà mỗi cán bộ kiểm tra  phải phấn đấu rèn luyện hiện nay./.

PHÁT HUY VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 PHÁT HUY VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

- Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên. Ngày 17/5, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng), Ban Chỉ đạo 35, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức hội thảo khoa học "Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay". PGS.TS. Phạm Văn Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 khẳng định: Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận trực tiếp cho mọi hoạt động của quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ. Hội thảo "Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay" tiếp tục chỉ ra những nội dung quan trọng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực tiễn và giải pháp phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ đó, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, giải pháp; quán triệt, vận dụng và tích hợp nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội trên từng lĩnh vực công tác, nhất là trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các nhà trường quân đội. Tại hội thảo, đã có hơn 100 bài tham luận được gửi đến. Các tham luận đều khẳng định đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, hội thảo tập trung phân tích và khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ, phát triển và vận dụng đúng đắn những giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khẳng định quân đội luôn là lực lượng đi đầu đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các tham luận tại hội thảo khẳng định để phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện tốt các vấn đề quan trọng. Đó là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng và của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.