Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2022
PHƯƠNG PHÁP QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Bài 2: KHẮC PHỤC CÁC LOẠI “BỆNH CÁ NHÂN”
Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đạị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đạị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng mang sứ
mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực - một kiểu phát triển xã hội mới,
công bằng và dân chủ hơn cho thế giới. Đến nay, dấu ấn 104 năm trôi qua vẫn
không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng
cho nhân loại.
Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự
kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển
của nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, tư sản, địa
chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng
nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa
người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng
Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà
nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa
xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Cách
mạng Tháng Mười thắng lợi, một thời đại mới mở ra - Thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười là
cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới
trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội trên toàn thế giới” . Cách mạng Tháng Mười đánh dấu bước chuyển biến về
chất chủ nghĩa xã hội khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động.
V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới
trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà
nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng
Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng
Mười chiếu sáng khắp nămchâu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột
trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý
nghĩa to lớn và sâu xa như thế” . Như vậy, Cách mạng Tháng Mười có ý nghĩa khai
mở một thời đại mới trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga “là thắng lợi
vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp
bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Bônsêvích lãnh đạo.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và
giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây
dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” . Nhưng
khoảnh khắc của sự thật là ở chỗ nó là một sự kiện thay đổi có ý nghĩa lịch sử
thế giới, làm thay đổi nước Nga và toàn thế giới. Nghiên cứu về hiện tượng và
những hệ quả của sự kiện này vẫn sẽ luôn là tâm điểm chú ý của các nhà sử học,
các chính trị gia, công chúng rộng rãi của Nga và quốc tế.
Thắng
lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định bản chất khoa học và cách mạng
của chủ nghĩa Mác - Lênin và cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc
cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng vĩ đại
này, từ thực tiễn cách mạng đã làm sáng tỏ, chủ nghĩa Mác và chủ
nghĩa Lênin là thống nhất về bản chất, về những đặc trưng, thuộc
tính phản ánh bản chất - xét về mặt lý luận, học thuyết. Đó là
bản chất khoa học,cách mạng và nhân văn. Đó là đặc trưng, thuộc tính
biện chứng về phát triển. Cách mạng Tháng Mười Nga, thực tiễn lịch
sử của đấu tranh cách mạng đã cung cấp những kinh nghiệm và bài học
để khẳng định giá trị khoa học và ý nghĩa sáng tạo, cách tân, đổi
mới trong các luận thuyết của Lênin. Hồ Chí Minh đã nhận xét, Cách mạng
Tháng Mười là “một cuộc biến đổi long trời lở đất”. Và lịch sử thế giới đã xác
nhận Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện lớn, chân dung lớn của thế kỷ XX, có
ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Điều
đó vẫn mãi mãi sẽ là như thế và do đó những giá trị của nó cũng trường tồn.
Cách mạng Tháng Mười Nga thức tỉnh hàng
triệu quần chúng nhân dân lao động tự khẳng định mình, tự mình sáng tạo xây
dựng một xã hội giàu có, công bằng, dân chủ và văn minh. Cách mạng Tháng Mười
Nga ngay từ đầu đã phản đối các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, ủng hộ việc
thiết lập hòa bình trên trái đất. Không có nghi ngờ gì nữa về một thực tế của
những thay đổi thực sự mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội Nga vào năm 1917 và trong thời kỳ tiếp theo (sự thay đổi chế độ chính trị
và hệ tư tưởng thống trị, sự tháo dỡ hệ thống kinh tế-xã hội và xây dựng một hệ
thống mới không có sở hữu tư nhân, một cuộc "cách mạng văn hóa" và
v.v..).
Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa
lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào
trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng
Mười Nga. Qua đó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự
nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội,
giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng,
bình đẳng và văn minh. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đem đến giá trị hiện thực
bằng thành tựu nổi bật của một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự lớn mạnh
nhanh chóng, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội và sự xuất hiện nhiều mô hình xã
hội chủ nghĩa trên thế giới. Chủ nghĩa xã hội từ sau chiến tranh thế giới II
(1939 - 1945) đã trở thành một hệ thống thế giới mang tính đối trọng với chủ nghĩa
tư bản đế quốc và là một con đường phát triển, một hình mẫu của tổ chức xã hội
mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sự lựa chọn con
đường xã hội chủ nghĩa đã trở thành một xu thế lớn. Chủ nghĩa xã hội hiện thực
từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới trong thế kỷ
XX.
Trong Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng
Tháng Mười Nga, Tổng thống Nga V. Putin từng phát biểu: “Những ai muốn phủ nhận
hoàn toàn những thành quả của chế độ Xô-viết, người ấy không có trái tim”. Khi
được hỏi vì sao ông ủng hộ việc sử dụng phần nhạc của Quốc ca Liên Xô cho bản
Quốc ca mới của Liên bang Nga, Tổng thống Putin đã trả lời: "Nếu chúng ta
xoá bỏ mọi điều đã có từ trước và sau tháng 10/1917, thì có nghĩa chúng ta đã
công nhận rằng, cha ông ta đã sống một cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa lý. Bằng cả
trái tim và trí tuệ, tôi không thể nào đồng ý thế được". Cách mạng Tháng
Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vĩ đại, thay đổi tận gốc nước Nga và có ảnh
hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới.
Hiện nay, kế thừa những giá trị của
Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Việt Nam luôn
kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đẩy mạnh toàn
diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp
cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang
tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân Việt Nam kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội; xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng và hướng
tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu
phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức
phù hợp trong thời kỳ quá độ. Lý tưởng và tinh thần của Cách mạng Tháng
Mười Nga vẫn tiếp tục là ngọn cờ dẫn đường cho cuộc đấu tranh cho nhân dân lao
động toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều chính phủ ở các quốc gia, nhất là ở
Châu Mỹ Latin đã tuyên bố sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Hiện thực
sinh động của những nước đang kiên định theo con đường Cách mạng Tháng Mười
Nga, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, càng
khẳng định giá trị khai mở, tinh thần khai sáng và sức sống trường tồn của tinh
thần Cách mạng Tháng Mười Nga trong hiện tại và tương lai./.
CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA LÀ CUỘC CÁCH MẠNG TRIỆT ĐỂ NHẤT, NHÂN VĂN, CAO ĐẸP NHẤT
LAN TOẢ HÌNH ẢNH CỰU CHIẾN BINH - “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG MỌI HOÀN CẢNH
Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
Để bảo đảm hoạt động lãnh đạo, cầm
quyền của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ có
vai trò quyết định. Đảng không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ Trung
ương đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội VI (năm 1986), toàn Đảng có gần 1,9 triệu đảng
viên; đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta có hơn 5,1 triệu đảng viên. Từ yêu cầu
của thực tiễn đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (tháng 1-2007) đã quyết định
sắp xếp lại bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Các cơ quan tham mưu
giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo gồm 8 ban và không nhất thiết
ở Trung ương có ban nào thì địa phương cũng như vậy; Chính phủ gồm 22 bộ, cơ
quan ngang bộ và ổn định cho đến nay. Các tổ chức lớn trong bộ máy được thu gọn,
nhưng có thực tế là các đơn vị (cục, vụ, viện, phòng, ban) trong đó lại nhiều
lên, dẫn đến bộ máy phình to ra; biên chế vẫn tăng. Nghị quyết số 18-NQ/TW,
ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về
tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp
với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất
lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội;
phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Chủ trương đó được thực hiện có nhiều
thành công ở cả Trung ương và địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nếu có quyết
tâm chính trị, giải pháp thích hợp, vì sự nghiệp chung thì dù khó khăn đến mấy
Đảng vẫn có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.
Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII
đã thông qua Chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (ngày 18-6-1997), với việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo của hệ thống chính trị; cán bộ khoa học, chuyên gia các lĩnh vực; cán bộ lực
lượng vũ trang và cán bộ quản lý các doanh nghiệp. Thực tiễn đổi mới và hội nhập
quốc tế càng đặt ra yêu cầu cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, đào tạo, huấn luyện cán
bộ là công việc gốc của Đảng. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ”. Đó là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức và thực tiễn
xây dựng đội ngũ cán bộ.
Công tác cán bộ có những đổi mới
rõ rệt, từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, lựa chọn đến
chính sách đối với cán bộ. Để chống sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, cần
thiết phải tăng cường giáo dục, siết chặt kỷ luật, pháp luật; tăng cường kiểm
tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, “lợi
ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Nhưng điều rất căn bản ở
đây là, cần hết sức coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, “xây dựng
đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,
dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu,
là hạt nhân đoàn kết”. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội
XIII của Đảng đã ghi nhận thành công của công tác cán bộ. Lựa chọn cán bộ lãnh
đạo các cấp được thực hiện bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch với quy trình
5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về
đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”,
đã lựa chọn được các đồng chí xứng đáng; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy,
Trung ương những người có dấu hiệu, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, “lợi ích
nhóm”, bè phái, chạy chức, chạy quyền; bên cạnh đó, kết hợp “xây” và “chống”
trong công tác cán bộ được tổng kết sâu sắc. Toàn Đảng cần thực hiện tốt chỉ dẫn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bảo vệ cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ,
như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng
cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.
Công cuộc đổi mới ngày càng phát
triển, Đảng và nhân dân mong muốn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ
tài ngày càng đông đảo đưa đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội, Việt Nam trở thành
quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, với đội ngũ cán bộ, đảng
viên, “đức” là học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất của
người chiến sĩ cộng sản; “tài” là làm chủ tri thức, học vấn hiện đại, nhất là
trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh,
muốn xây dựng thành công xã hội cộng sản thì phải có trí tuệ, học thức cao. Chủ
nghĩa cộng sản thì “chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại,
và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện
vọng mà thôi”.
Đổi mới phương thức lãnh đạo là
yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến
đấu của Đảng. Phải dựa trên việc thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của Đảng, như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ,
trên cơ sở phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, mệnh lệnh, thiếu
trách nhiệm, vô cảm, xa dân; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa
trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, hệ tư tưởng và tình thương yêu đồng chí, dựa
trên kỷ luật của Đảng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, trong đó phê bình và
tự phê bình phải thật chân thành, trung thực, nghiêm túc, xây dựng, có lý, có
tình; nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến
của nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân.
Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng
Cương lĩnh, đường lối và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối
thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ,
đảng viên; bằng công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; bằng trực tiếp vận động,
tổ chức nhân dân thực hiện đường lối và thông qua các đoàn thể trong hệ thống
chính trị; lãnh đạo bằng uy tín chính trị, bằng sự cảm hóa và nêu gương. Đó là
nội dung và cũng là những kinh nghiệm quan trọng trong sự lãnh đạo, cầm quyền của
Đảng. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.
Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm
vụ, giải pháp quan trọng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”;
“Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây
dựng Đảng với bảo vệ Đảng”; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức,
gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới,
hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
đảng và đội ngũ đảng viên; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về
thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng;
đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội...
Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức
Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên. Người coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong công cuộc đổi
mới, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, những
tiêu cực nảy sinh, phát triển trong đời sống xã hội và trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên. Tháng 1-1994, Đảng xác định tham nhũng, lãng phí là một trong bốn nguy cơ
lớn. Ngày 26-6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số
03-NQ/TW, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”. Nghị quyết
nêu rõ: “Xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh của cán bộ,
đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Cán bộ,
đảng viên phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trước hết. Nêu cao
tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, gương mẫu trong lao động, cần kiệm
xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh; giữ gìn, phát huy truyền
thống và bản sắc tốt đẹp của dân tộc”.
Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức
càng trở nên bức thiết khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012) và Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 khóa XII (tháng 10-2016) đã thẳng thắn đánh giá. Đại hội XII của Đảng
(tháng 1-2016) đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường rèn
luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng”,
“Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân,
lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”.
Công tác phòng, chống tham nhũng,
lãng phí và những tiêu cực khác trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có được
những kết quả rất quan trọng, góp phần củng cố và nâng cao niềm tin trong Đảng
và nhân dân. Đảng đã đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng gắn liền với việc học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị
số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Kinh nghiệm cho thấy,
việc nâng cao đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức phải kết hợp chặt chẽ
giữa tăng cường giáo dục của Đảng; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương với việc ra sức
tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm nêu gương,
trong đó có nêu gương về đạo đức, lối sống.
Trong quá trình đổi mới luôn coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận
Trong quá trình đổi mới luôn coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận
Quá trình đổi mới, Đảng
coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận bao gồm công tác giáo dục,
bồi dưỡng nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độ lý luận trong Đảng và bảo vệ vững
chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đại hội VI của Đảng là bước đổi mới tư duy lý luận. Nếu không có tư duy mới
về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những đặc
trưng và quy luật cần được nhận thức đúng như chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và Chủ tịch
Hồ Chí Minh, chắc chắn sẽ không có đường lối đổi mới xuất hiện tại Đại hội VI của
Đảng. Khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu
vì các đảng cộng sản ở các nước này đã rời bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hạ vũ
khí trước những đòn tiến công hiểm độc của kẻ thù tư tưởng và cả sự phản bội
trong nội bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định và nhận rõ bản chất cách mạng,
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng
định, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của Đảng. Ngày 28-3-1992, Bộ Chính trị khóa VII ban hành Nghị
quyết số 01-NQ/TW, “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”.
Nghị quyết nêu rõ thành công của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng từ sau Đại
hội VI: “Nét nổi bật là đã bước đầu đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh
tế, khắc phục được một phần những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều và bệnh chủ
quan duy ý chí; đồng thời tỉnh táo phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng nguy
hại của chủ nghĩa cơ hội, xét lại”(6).
Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Cần tiến
hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới. Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời chống chủ
nghĩa cơ hội hữu khuynh và xét lại”(7). Những quan điểm đúng đắn về
tư tưởng, lý luận bảo đảm cho Đảng vững vàng vượt qua thách thức ở thời điểm đặc
biệt khó khăn đó, đồng thời cũng thể hiện sự trưởng thành trong phương pháp nhận
thức của Đảng. Đảng cũng chủ trương đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, học
tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại hệ thống trường đảng từ đầu
những năm 90 của thế kỷ XX. Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định và trực tiếp chỉ
đạo việc xây dựng bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc giáo dục, học tập các môn lý
luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng được nâng cao chất lượng với
giáo trình được biên soạn mới. Các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận, như
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), Trường Đảng
Nguyễn Ái Quốc (từ năm 1993 là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Hội đồng
Lý luận Trung ương (được thành lập năm 1996), Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân là
những cơ quan rất quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận và nghiên
cứu lý luận kết hợp chặt chẽ với tổng kết thực tiễn, giáo dục nâng cao nhận thức
tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; từ đó, góp phần nâng cao trình độ lý luận
của Đảng như ngày nay. Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần quan trọng làm sáng
tỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đã thật sự là luận cứ khoa học để bổ sung, phát
triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phát triển đường lối đổi mới tại
các đại hội của Đảng (nhất là Đại hội XII, Đại hội XIII).


