Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2022

PHƯƠNG PHÁP QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Bài 2: KHẮC PHỤC CÁC LOẠI “BỆNH CÁ NHÂN”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...
Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”, mà Người còn nhấn mạnh rằng “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.
Tự soi để nhận diện các loại "bệnh cá nhân"
Những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong mình là những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, họ không còn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không còn gương mẫu, tiền phong, thống nhất giữa nói và làm; không còn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn.
Họ quên mất rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, nên, trong họ cái tôi luôn được đề cao. Họ luôn coi mình là trung tâm, có quyền hưởng thụ, chăm chăm tính đếm lợi ích của cá nhân mình và người thân, dòng họ mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, khi đã để những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, thì dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là sống có lý tưởng, vì lý tưởng của Đảng mà hành động.
Họ kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ thích “nhìn từ trên xuống” khi phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình. Họ sợ tự phê bình hay bị người khác phê bình sẽ làm mất đi cái uy thế, cái thể diện, cái uy tín của họ, nên “họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh cán bộ ngoài Đảng”. Không dừng ở đó, “họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”. Thậm chí có những người còn cho rằng mình là “cứu tinh’ của dân, “công thần” của Đảng nên đã “kể công” với Đảng, “muốn Đảng phải “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ”. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, “oán trách Đảng”, vì cho rằng mình “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ.
Trong công việc, vì không muốn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và tự cho mình quyền hành động tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, nên họ độc đoán, chuyên quyền và mắc các trọng bệnh là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh khai hội, bệnh nể nang, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp... Những chứng tật bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong nhiều bài viết, bài nói và bài phát biểu của mình; và cũng theo Người, những “bệnh cá nhân” này không chỉ gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong quan hệ với quần chúng, họ tự cho rằng “mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng". Họ không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, nên đóng cửa, ngồi bàn giấy, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi dùng mệnh lệnh “cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”, ép dân chúng làm. Vì tự cho mình quyền là “quan phụ mẫu”, nên những cán bộ, đảng viên để chủ nghĩa cá nhân chi phối này thậm chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện còn không bàn bạc, không giải thích với quần chúng; không cho quần chúng phát biểu, tham gia ý kiến đóng góp mà chỉ “bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh” của mình. Vì tự cho mình quyền được “ăn trên ngồi trốc”, nên những vị “cha mẹ dân” này không cần biết đến cơ sở, cũng không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến xác đáng của quần chúng... khiến “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Tất cả những chứng bệnh nêu trên đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra; đều xuất hiện ở những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tất cả những “bệnh cá nhân” này dường như không chững lại mà còn tiếp tục nảy nở cùng với thời gian. “Chúng” đã, đang và sẽ xuất hiện với những biểu hiện mới, khi công khai, khi ngấm ngầm, song dù ở dưới dạng nào thì “chúng” cũng đều trái với đạo đức cách mạng, trái với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính và vì thế “chúng” đều vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng và các nguyên tắc của một Đảng Mácxít-Lêninnít chân chính, cách mạng. Tất cả những “trọng bệnh” này đều đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi để nhận diện đúng và tự sửa/tự khắc phục bằng những phương pháp hữu hiệu theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục
Đấu tranh để trừ bỏ, khắc phục các chứng bệnh của chủ nghĩa cá nhân là “tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”. Đó là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không được nản chí, buông xuôi. Dùng đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khắc phục những “bệnh cá nhân”, để kiên quyết loại bỏ kẻ địch nội xâm ra khỏi mỗi con người, ra khỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay.
Vì rằng, “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”, cho nên để đấu tranh trừ bỏ, khắc phục những “bệnh cá nhân”, thì:
Một là, đối với mình: Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Trong đó, chú trọng việc tự rèn mình, tự sửa mình để phòng, tránh sự kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, vì tự mãn, tự túc sẽ thoái bộ, lạc hậu, sẽ không thể tiến bộ. Đồng thời, phải tìm tòi, học hỏi trong nhân dân; trong đồng nghiệp, đồng chí; trong cấp trên và cả cấp dưới để cầu tiến bộ, để học lấy điều hay của người mà làm giàu tri thức khoa học, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý của bản thân mình, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Hai là, đối với tổ chức: Quán triệt yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, nỗ lực “rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” gắn với phát huy vai trò nêu gương theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm... để kiên quyết làm đúng nghị quyết của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, trọng trách càng cao càng yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Đảng, lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trên tinh thần “đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.
Ba là, đối với công việc: Mỗi người đều phải “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin”, “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” và “luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Trong mọi công việc, trước khi quyết định đều phải nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra rõ ràng, xem xét kỹ lưỡng, vì lợi ích chung. Khi đã triển khai thực hiện thì phải quyết tâm làm và làm đến cùng, chứ không làm nửa vời, được chăng hay chớ; đồng thời, phải phát huy vai trò tiền phong của mình, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để khắc phục mọi khó khăn, trở ngại hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình triển khai, không vì thành tích, sự hiếu danh, hiếu vị và tiền tài mà bất chấp tổn hại, bất chấp quy luật khách quan...
Bốn là, đối với nhân dân: Một trong những phương pháp để đấu tranh thắng lợi, trừ bỏ được các “bệnh cá nhân” chính là người cán bộ, đảng viên hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng; tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hǎng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng. Vì thế, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, để giám sát cán bộ, đảng viên ở cơ quan và địa bàn cư trú cũng chính là một trong những “biệt dược” để chữa được các “bệnh cá nhân”. Và cũng vì thế, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên hướng về nhân dân, vì nhân dân hết lòng, hết sức phụng sự với tinh thần liêm chính, với phương châm “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, thì nhất định sẽ không còn sự lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham ô, tham nhũng, lãng phí, cũng như sẽ không còn những cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật phải xử lý như thời gian qua.
(còn nữa)
ST
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đạị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917

  Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đạị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 

Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng mang sứ mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực - một kiểu phát triển xã hội mới, công bằng và dân chủ hơn cho thế giới. Đến nay, dấu ấn 104 năm trôi qua vẫn không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng cho nhân loại.

 Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, một thời đại mới mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới” . Cách mạng Tháng Mười đánh dấu bước chuyển biến về chất chủ nghĩa xã hội khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động. V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp nămchâu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” . Như vậy, Cách mạng Tháng Mười có ý nghĩa khai mở một thời đại mới trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga “là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Bônsêvích lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người” . Nhưng khoảnh khắc của sự thật là ở chỗ nó là một sự kiện thay đổi có ý nghĩa lịch sử thế giới, làm thay đổi nước Nga và toàn thế giới. Nghiên cứu về hiện tượng và những hệ quả của sự kiện này vẫn sẽ luôn là tâm điểm chú ý của các nhà sử học, các chính trị gia, công chúng rộng rãi của Nga và quốc tế.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng vĩ đại này, từ thực tiễn cách mạng đã làm sáng tỏ, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin là thống nhất về bản chất, về những đặc trưng, thuộc tính phản ánh bản chất - xét về mặt lý luận, học thuyết. Đó là bản chất khoa học,cách mạng và nhân văn. Đó là đặc trưng, thuộc tính biện chứng về phát triển. Cách mạng Tháng Mười Nga, thực tiễn lịch sử của đấu tranh cách mạng đã cung cấp những kinh nghiệm và bài học để khẳng định giá trị khoa học và ý nghĩa sáng tạo, cách tân, đổi mới trong các luận thuyết của Lênin. Hồ Chí Minh đã nhận xét, Cách mạng Tháng Mười là “một cuộc biến đổi long trời lở đất”. Và lịch sử thế giới đã xác nhận Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện lớn, chân dung lớn của thế kỷ XX, có ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Điều đó vẫn mãi mãi sẽ là như thế và do đó những giá trị của nó cũng trường tồn.

Cách mạng Tháng Mười Nga thức tỉnh hàng triệu quần chúng nhân dân lao động tự khẳng định mình, tự mình sáng tạo xây dựng một xã hội giàu có, công bằng, dân chủ và văn minh. Cách mạng Tháng Mười Nga ngay từ đầu đã phản đối các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc, ủng hộ việc thiết lập hòa bình trên trái đất. Không có nghi ngờ gì nữa về một thực tế của những thay đổi thực sự mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nga vào năm 1917 và trong thời kỳ tiếp theo (sự thay đổi chế độ chính trị và hệ tư tưởng thống trị, sự tháo dỡ hệ thống kinh tế-xã hội và xây dựng một hệ thống mới không có sở hữu tư nhân, một cuộc "cách mạng văn hóa" và v.v..).

Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng Mười Nga. Qua đó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đem đến giá trị hiện thực bằng thành tựu nổi bật của một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự lớn mạnh nhanh chóng, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội và sự xuất hiện nhiều mô hình xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Chủ nghĩa xã hội từ sau chiến tranh thế giới II (1939 - 1945) đã trở thành một hệ thống thế giới mang tính đối trọng với chủ nghĩa tư bản đế quốc và là một con đường phát triển, một hình mẫu của tổ chức xã hội mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đã trở thành một xu thế lớn. Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới trong thế kỷ XX.       

Trong Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Tổng thống Nga V. Putin từng phát biểu: “Những ai muốn phủ nhận hoàn toàn những thành quả của chế độ Xô-viết, người ấy không có trái tim”. Khi được hỏi vì sao ông ủng hộ việc sử dụng phần nhạc của Quốc ca Liên Xô cho bản Quốc ca mới của Liên bang Nga, Tổng thống Putin đã trả lời: "Nếu chúng ta xoá bỏ mọi điều đã có từ trước và sau tháng 10/1917, thì có nghĩa chúng ta đã công nhận rằng, cha ông ta đã sống một cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa lý. Bằng cả trái tim và trí tuệ, tôi không thể nào đồng ý thế được". Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vĩ đại, thay đổi tận gốc nước Nga và có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới.

Hiện nay, kế thừa những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Việt Nam luôn kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và  lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân Việt Nam kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong thời kỳ quá độ.  Lý tưởng và tinh thần của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tiếp tục là ngọn cờ dẫn đường cho cuộc đấu tranh cho nhân dân lao động toàn thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều chính phủ ở các quốc gia, nhất là ở Châu Mỹ Latin đã tuyên bố sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Hiện thực sinh động của những nước đang kiên định theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, càng khẳng định giá trị khai mở, tinh thần khai sáng và sức sống trường tồn của tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga trong hiện tại và tương lai./.   

 

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA LÀ CUỘC CÁCH MẠNG TRIỆT ĐỂ NHẤT, NHÂN VĂN, CAO ĐẸP NHẤT

 

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi là tất yếu lịch sử và mang giá trị vạch thời đại. Đó là cuộc cách mạng triệt để nhất, nhân văn, cao đẹp nhất. Đó là ý kiến chung của các nhà khoa học tại Hội thảo khoa học “Cách mạng Tháng Mười Nga - Giá trị lịch sử và thời đại” diễn ra sáng 21-10 tại Hà Nội. Hội thảo do Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị tổ chức.
Ngày 7-11-1917 đã nổ ra cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, một sự kiện lịch sử làm rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người.
105 năm qua, kể từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều biến chuyển, song những vấn đề ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga về con đường, mục tiêu cách mạng; xây dựng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng, liên minh giai cấp, xây dựng nhà nước kiểu mới, xây dựng lực lượng vũ trang, quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng, về vai trò lãnh đạo của Đảng… vẫn giữ nguyên tính thời sự. Điều này, càng khẳng định giá trị trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được chứng minh qua những thắng lợi và thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam hơn 9 thập kỷ qua.
Tại hội thảo, các ý kiến tham luận đã tập trung làm rõ, sâu sắc hơn ý nghĩa lý luận và thực tiễn, giá trị lịch sử và thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga về tính tất yếu, về bước ngoặt của CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, về hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và liên minh công, nông, binh, về lựa chọn thời cơ, tình thế để giành chính quyền, về sử dụng bạo lực cách mạng và Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong đó, các ý kiến đều khẳng định Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi là tất yếu lịch sử và mang giá trị vạch thời đại, đó là cuộc cách mạng triệt để nhất, nhân văn, cao đẹp nhất; bảo đảm sự thống nhất về lợi ích giữa giai cấp lãnh đạo cách mạng với đại đa số quần chúng nhân dân…
Bên cạnh đó, các bài viết và ý kiến tham luận đã đi sâu phân tích, luận giải Cách mạng Tháng Mười Nga mở con đường phát triển cho các dân tộc thuộc địa trên thế giới; mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và hình thành hệ thống XHCN trên thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại nhiều kinh nghiệm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn cho cách mạng Việt Nam về con đường, lý tưởng mục tiêu, bảo vệ độc lập, tự do, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và đi lên CNXH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
Các bài viết cũng đã làm rõ các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn từ Cách mạng Tháng Mười Nga, làm cơ sở tiếp tục đấu tranh, phê phán các quan điểm tư tưởng sai trái, thù địch để bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Phát biểu kết luận hội thảo, Đại tá, PGS, TS Phạm Văn Sơn, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự khẳng định, hội thảo lần này có ý nghĩa thiết thực, là cơ sở để nghiên cứu, khẳng định sức sống mãnh liệt, giá trị trường tồn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam cũng như đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Trong thời gian tới, các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự sẽ vận dụng các nội dung, kết quả của hội thảo vào công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Báo QĐND
Có thể là hình ảnh về 8 người
1

LAN TOẢ HÌNH ẢNH CỰU CHIẾN BINH - “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG MỌI HOÀN CẢNH

 

Thủ tướng đề nghị Hội Cựu chiến binh chủ động hơn nữa trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, lan tỏa hình ảnh cựu chiến binh - Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Thực hiện Quy chế phối hợp công tác, chiều 22/10, tại Trụ sở Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm việc với Ban Thường vụ Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam về công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022-2027.
Cùng dự có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung; Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị; Thượng tướng Nguyễn Văn Được - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; lãnh đạo một số bộ, ngành, cơ quan liên quan.
Báo cáo của Trung ương Hội Cựu chiến binh cho biết hiện nay, Hội Cựu chiến binh Việt Nam có 110 tổ chức Hội trực thuộc Trung ương Hội; 702 tổ chức Hội cấp huyện và 14.572 tổ chức Hội cấp cơ sở; với tổng số hơn 3 triệu hội viên.
Thực hiện Chỉ thị số 02-CT/TW của Ban Bí thư, Đảng đoàn Hội Cựu chiến binh đã chỉ đạo Ban Chấp hành Trung ương Hội ban hành nghị quyết, hướng dẫn công tác chuẩn bị và tiến hành Đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp.
Đến nay, Đại hội Hội Cựu chiến binh từ cấp cơ sở đến cấp trực thuộc Trung ương Hội đã hoàn thành. Đại hội các cấp đạt kết quả tốt, thực hiện đầy đủ 4 nội dung, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng đối với tổ chức Hội các cấp và toàn thể hội viên.
Hiện, Hội Cựu chiến binh chuẩn bị đầy đủ các bước cho Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII gồm: chuẩn bị báo cáo chính trị trình Đại hội, nội dung sửa đổi điều lệ Hội, công tác nhân sự...
Tại buổi làm việc, Thường vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam đề nghị Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan chức năng nghiên cứu, có giải pháp tháo gỡ những khó khăn, bất cập, bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất, bình đẳng về phụ cấp công vụ cho cán bộ hội cấp cơ sở; có chính sách bảo hiểm y tế cho hội viên Hội Cựu chiến binh là cựu quân nhân; hỗ trợ cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở; xây dựng khu công nghiệp dành riêng cho Hội Cựu chiến binh...
Lãnh đạo một số bộ, ngành liên quan phát biểu giải đáp đối với các đề xuất, kiến nghị của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; công tác phối hợp, hỗ trợ Hội Cựu chiến binh tổ chức Đại hội nhiệm kỳ tới.
Kết luận buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ khẳng định Hội Cựu chiến binh là tổ chức chính trị-xã hội, là chỗ dựa vững chắc cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các cấp, nhất là ở cấp cơ sở, với tinh thần trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới. Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của Hội Cựu chiến binh đã được thể hiện trong các quy định của Đảng, Nhà nước và đã được tổ chức thực hiện tốt.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã xây dựng Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; làm tốt chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, cựu chiến binh; góp phần tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; khẳng định việc hình thành tổ chức Hội Cựu chiến binh là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta.
Hội đã triển khai tích cực, có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ chính trị được giao. Hội tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, tội phạm và tệ nạn xã hội; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cho cựu chiến binh và thế hệ trẻ; giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng khối đại đoàn kết; vận động, chăm lo, giúp đỡ nhau sản xuất, kinh doanh, giảm nghèo bền vững, làm giàu hợp pháp và hoạt động đối ngoại nhân dân.
Thủ tướng nêu rõ một số kết quả nổi bật mà các cấp Hội đã đạt được như: tích cực vận động doanh nghiệp, doanh nhân, hội viên quyên góp, ủng hộ, tham gia phòng, chống đại dịch COVID-19, với tổng giá trị trên 800 tỷ đồng; 5.760 tổ phòng, chống dịch COVID-19 ở cơ sở với gần 500.000 cán bộ, hội viên tham gia…
Hiện, toàn Hội có trên 8.300 doanh nghiệp, gần 1.700 hợp tác xã, gần 3.500 tổ hợp tác, trên 186.000 trang trại, gia trại... thu hút gần 775.000 lao động.
Cựu chiến binh đã ủng hộ gần 2.000 tỷ đồng, hơn 4,2 triệu ngày công, hơn 5,7 triệu m2 đất để làm đường giao thông nông thôn; tham gia nâng cấp, duy tu hơn 26.700 km đường giao thông nông thôn và kênh mương nội đồng; tham gia xây, sửa hơn 3.000 cây cầu, cống các loại; tham gia xây, sửa gần 5.300 trường học, lớp học, các cơ sở văn hóa, thể thao...
Về công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022-2027, Thủ tướng cho rằng Hội đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của Trung ương, Chỉ thị số 02-CT/TW của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội Cựu chiến binh các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ 7.
Hội chủ động khắc phục khó khăn tham mưu, phối hợp, hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp trực thuộc, từ cơ sở đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt kết quả tốt, bảo đảm chất lượng, thiết thực, thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội của toàn thể cán bộ, hội viên Hội Cựu chiến binh trong cả cả nước.
Cùng với đó, Hội quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào sát tình hình hoạt động, nhiệm vụ của Hội trong nhiệm kỳ tới; chủ động làm tốt công tác chuẩn bị các văn kiện, công tác nhân sự, công tác tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022-2027 chặt chẽ, toàn diện, khoa học, bảo đảm chất lượng, nội dung, nguyên tắc.
Thủ tướng Chính phủ cơ bản thống nhất với chủ đề Đại hội là: Phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ," truyền thống trung thành-đoàn kết-gương mẫu-đổi mới, xây dựng Hội vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Về các nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2022-2027, Thủ tướng đề nghị Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cấp hội và hội viên phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho các cấp hội, cán bộ, hội viên; tuyên truyền, động viên các cựu chiến binh, cựu quân nhân tích cực học tập rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng; tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân.
Các cấp Hội cần tích cực tham gia và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; góp phần giữ vững ổn định chính trị ở địa phương; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cựu chiến binh; tiếp tục phối hợp với các cấp, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức tốt việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các cấp Hội cần chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với các cấp, các ngành chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên Hội Cựu chiến binh, cựu quân nhân; động viên cựu chiến binh nêu cao ý chí tự lực, tự cường, quan tâm, tạo điều kiện giúp nhau sản xuất, kinh doanh, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; thực hiện tốt các hoạt động tình nghĩa, gắn kết đồng chí, đồng đội và nhân dân; giữ vững và lan tỏa hình ảnh cựu chiến binh - Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Thủ tướng yêu cầu tập trung xây dựng tổ chức hội vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp gương mẫu tiêu biểu; làm tốt công phát triển hội viên mới bảo đảm chất lượng.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục làm tốt công tác chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022- 2027 theo chỉ đạo của Ban Bí thư; đồng thời chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội thành công, bảo đảm nội dung, nguyên tắc, chất lượng theo đúng kế hoạch.
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện phối hợp tổ chức Đại hội và tuyên truyền các phong trào thi đua chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022-2027, bảo đảm trang trọng, thiết thực, hiệu quả, an toàn, tiết kiệm, đúng tiến độ.
Đối với các đề xuất của Hội Cựu chiến binh, Thủ tướng cơ bản đồng ý về chủ trương giải quyết; đồng thời giao các bộ, ngành liên quan xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, phù hợp với điều kiện thực tiễn, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tổng hợp đề xuất của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam khi xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ.
Trước đó, thăm Phòng Truyền thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ghi sổ vàng truyền thống của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Thủ tướng mong muốn các thế hệ cựu chiến binh, cựu quân nhân tiếp tục giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ," truyền thống “Trung thành-Đoàn kết-Gương mẫu-Đổi mới” của Hội, xây dựng Hội vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
TTXVN/Vietnam

Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

 Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Để bảo đảm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ có vai trò quyết định. Đảng không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội VI (năm 1986), toàn Đảng có gần 1,9 triệu đảng viên; đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta có hơn 5,1 triệu đảng viên. Từ yêu cầu của thực tiễn đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (tháng 1-2007) đã quyết định sắp xếp lại bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Các cơ quan tham mưu giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo gồm 8 ban và không nhất thiết ở Trung ương có ban nào thì địa phương cũng như vậy; Chính phủ gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và ổn định cho đến nay. Các tổ chức lớn trong bộ máy được thu gọn, nhưng có thực tế là các đơn vị (cục, vụ, viện, phòng, ban) trong đó lại nhiều lên, dẫn đến bộ máy phình to ra; biên chế vẫn tăng. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Chủ trương đó được thực hiện có nhiều thành công ở cả Trung ương và địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nếu có quyết tâm chính trị, giải pháp thích hợp, vì sự nghiệp chung thì dù khó khăn đến mấy Đảng vẫn có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã thông qua Chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (ngày 18-6-1997), với việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị; cán bộ khoa học, chuyên gia các lĩnh vực; cán bộ lực lượng vũ trang và cán bộ quản lý các doanh nghiệp. Thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế càng đặt ra yêu cầu cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đó là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ.

Công tác cán bộ có những đổi mới rõ rệt, từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, lựa chọn đến chính sách đối với cán bộ. Để chống sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, cần thiết phải tăng cường giáo dục, siết chặt kỷ luật, pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Nhưng điều rất căn bản ở đây là, cần hết sức coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết  là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội XIII của Đảng đã ghi nhận thành công của công tác cán bộ. Lựa chọn cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch với quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, đã lựa chọn được các đồng chí xứng đáng; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy, Trung ương những người có dấu hiệu, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, bè phái, chạy chức, chạy quyền; bên cạnh đó, kết hợp “xây” và “chống” trong công tác cán bộ được tổng kết sâu sắc. Toàn Đảng cần thực hiện tốt chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bảo vệ cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.

Công cuộc đổi mới ngày càng phát triển, Đảng và nhân dân mong muốn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ tài ngày càng đông đảo đưa đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, với đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đức” là học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản; “tài” là làm chủ tri thức, học vấn hiện đại, nhất là trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh, muốn xây dựng thành công xã hội cộng sản thì phải có trí tuệ, học thức cao. Chủ nghĩa cộng sản thì “chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

Đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Phải dựa trên việc thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, mệnh lệnh, thiếu trách nhiệm, vô cảm, xa dân; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, hệ tư tưởng và tình thương yêu đồng chí, dựa trên kỷ luật của Đảng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, trong đó phê bình và tự phê bình phải thật chân thành, trung thực, nghiêm túc, xây dựng, có lý, có tình; nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân.

 

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; bằng trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện đường lối và thông qua các đoàn thể trong hệ thống chính trị; lãnh đạo bằng uy tín chính trị, bằng sự cảm hóa và nêu gương. Đó là nội dung và cũng là những kinh nghiệm quan trọng trong sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp quan trọng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng”; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị  - xã hội...

 

Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

 Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong công cuộc đổi mới, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, những tiêu cực nảy sinh, phát triển trong đời sống xã hội và trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tháng 1-1994, Đảng xác định tham nhũng, lãng phí là một trong bốn nguy cơ lớn. Ngày 26-6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”. Nghị quyết nêu rõ: “Xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh của cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trước hết. Nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, gương mẫu trong lao động, cần kiệm xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh; giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc tốt đẹp của dân tộc”.

Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức càng trở nên bức thiết khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 10-2016) đã thẳng thắn đánh giá. Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng”, “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”.

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có được những kết quả rất quan trọng, góp phần củng cố và nâng cao niềm tin trong Đảng và nhân dân. Đảng đã đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Kinh nghiệm cho thấy, việc nâng cao đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục của Đảng; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương với việc ra sức tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm nêu gương, trong đó có nêu gương về đạo đức, lối sống.

 

Trong quá trình đổi mới luôn coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận

 Trong quá trình đổi mới luôn coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận

Quá trình đổi mới, Đảng coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận bao gồm công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độ lý luận trong Đảng và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VI của Đảng là bước đổi mới tư duy lý luận. Nếu không có tư duy mới về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng và quy luật cần được nhận thức đúng như chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chắc chắn sẽ không có đường lối đổi mới xuất hiện tại Đại hội VI của Đảng. Khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu vì các đảng cộng sản ở các nước này đã rời bỏ chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, hạ vũ khí trước những đòn tiến công hiểm độc của kẻ thù tư tưởng và cả sự phản bội trong nội bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định và nhận rõ bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Ngày 28-3-1992, Bộ Chính trị khóa VII ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW, “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”. Nghị quyết nêu rõ thành công của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng từ sau Đại hội VI: “Nét nổi bật là đã bước đầu đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, khắc phục được một phần những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều và bệnh chủ quan duy ý chí; đồng thời tỉnh táo phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩa cơ hội, xét lại”(6).

Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Cần tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và xét lại”(7). Những quan điểm đúng đắn về tư tưởng, lý luận bảo đảm cho Đảng vững vàng vượt qua thách thức ở thời điểm đặc biệt khó khăn đó, đồng thời cũng thể hiện sự trưởng thành trong phương pháp nhận thức của Đảng. Đảng cũng chủ trương đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại hệ thống trường đảng từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định và trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc giáo dục, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng được nâng cao chất lượng với giáo trình được biên soạn mới. Các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận, như Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (từ năm 1993 là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Hội đồng Lý luận Trung ương (được thành lập năm 1996), Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân là những cơ quan rất quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận và nghiên cứu lý luận kết hợp chặt chẽ với tổng kết thực tiễn, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; từ đó, góp phần nâng cao trình độ lý luận của Đảng như ngày nay. Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần quan trọng làm sáng tỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đã thật sự là luận cứ khoa học để bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phát triển đường lối đổi mới tại các đại hội của Đảng (nhất là Đại hội XII, Đại hội XIII).