Thứ Hai, 24 tháng 10, 2022

Bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc

 Lợi dụng xã hội thông tin mở và đa dạng hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta.

Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực.

Cạm bẫy từ những “bả thông tin”

Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin".

Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được.

Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)...

Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp.

Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta...

Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ.

Đừng tự biến mình thành “cục máu đông”

Trong buổi nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10-10-1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi”.

Có thể thấy, việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn. Do đó, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, đủ tỉnh táo trước các thông tin xuyên tạc, bịa đặt chính là một yêu cầu để cán bộ, đảng viên không tự biến mình thành một “cục máu đông” trong đơn vị, tổ chức.

Trước những thông tin bịa đặt, có những cán bộ, đảng viên suy nghĩ một cách giản đơn rồi chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát trong cộng đồng. Vô hình trung những thông tin này có vỏ bọc vững chắc hơn vì nó được nói ra từ những cán bộ, đảng viên có trách nhiệm. Mảnh đất sống màu mỡ nhất của thông tin xấu, độc chính là dư luận. Nếu như không bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận thông tin thì cán bộ, đảng viên sẽ mắc bẫy và tiếp tay, lan truyền những thông tin xấu, độc của các đối tượng chống phá.

Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ.

Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau:

Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc.

Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị.

Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

Mỗi lá phiếu là minh chứng rõ ràng về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam

 

Ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 tại New York (Mỹ).

14 thành viên mới trúng cử Hội đồng Nhân quyền sẽ đảm nhiệm trọng trách trong nhiệm kỳ 3 năm, bắt đầu vào tháng 1/2023. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, lần đầu nhiệm kỳ 2014-2016 và lần thứ hai nhiệm kỳ 2023-2025 (Theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, mỗi thành viên chỉ được bầu và đảm trách một nhiệm kỳ, hai nhiệm kỳ kế tiếp sẽ không được tham gia ứng viên).

Lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là một trong những minh chứng rõ ràng nhất và là sự khẳng định:

Một là, các quốc gia trên thế giới công nhận, tin tưởng vào các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã bảo đảm thực hiện quyền con người cho người dân Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách trách nhiệm, tích cực, thành tâm vô điều kiện, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Hai là, mỗi lá phiếu của các quốc gia đã nói lên Chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện đúng, có hiệu quả các Công ước quốc tế có liên quan quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn, các cố gắng này đã và đang được nội luật hóa thành pháp luật trong nước, trở thành công cụ quản lý nhà nước.

Ba là, các quốc gia trên thế giới nói chung, các nước trong khu vực ASEAN nói riêng đã bày tỏ sự tin tưởng vào Việt Nam với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, sau khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam sẽ tiếp tục “là một thành viên quan trọng của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam sẽ hợp tác với chúng tôi trong việc thúc đẩy quyền con người” như lời của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương ông Daniel Kritenbrink chúc mừng Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại buổi họp báo chiều 12/10.

Bốn là, mỗi lá phiếu của các quốc gia đã xác nhận Việt Nam đã hoàn thành tốt “Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3”. Khẳng định Việt Nam đặc biệt quan tâm tới các công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, tích cực thúc đẩy các Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ… và như bài viết của tờ Washington Times ngày 21/9/2022 khẳng định, việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền sẽ góp phần làm sâu sắc thêm sự tham gia của Việt Nam vào hệ thống quốc tế.

Năm là, mỗi lá phiếu của các quốc gia bầu chọn Việt Nam vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã trực tiếp bác bỏ các quan điểm sai trái của các lực lượng thù địch phủ nhận, xuyên tạc, vu khống tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian qua.

Ngày 24/9/1982, Việt Nam đã tham gia Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR). Kể từ khi tham gia, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc để bảo đảm các quyền dân sự và chính trị cơ bản trong ICCPR được tôn trọng và thực thi, bảo đảm trong điều kiện nhiều khó khăn về mọi mặt. Năm 2013, Việt Nam nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao Bằng khen của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) vì đã về đích sớm trước 13 năm so với yêu cầu. Đúng như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phát biểu tại Phiên toàn thể Diễn đàn cấp cao về cách mạng công nghiệp lần thứ 4, ngày 6/12/2021, nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, đó là điều quan trọng nhất là phát huy tối đa yếu tố con người; đồng thời, giữ vững ổn định chính trị; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không hy sinh an sinh xã hội, môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Với những kết quả của bạn bè quốc tế công nhận, bầu chọn Việt Nam lần thứ hai vào thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, chúng ta càng cần nhận thức đúng các nội dung sau:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân.

Trước năm 1945, người dân Việt Nam không được hưởng các quyền công dân, tư cách pháp lý của người dân Việt Nam chỉ là thần dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ người nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, mục tiêu đấu tranh giành quyền con người cho người dân Việt Nam đã được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (“Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt) được Hội nghị thành lập Đảng, ngày 3/2/1930 xác định, thực hiện cuộc cách mạng đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến đem lại quyền con người cho mọi người và “Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục…”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giá trị quyền con người của người dân Việt Nam được long trọng khẳng định trong Bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngày 2 tháng 9, được thể chế hóa bằng bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12/CT/TW về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, trong đó, xác định “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”. Nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân tiếp tục được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chỉ thị sau này. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013”[1].

Thứ hai, về những thành tựu đạt được trên các mặt.

Bên cạnh những thành tựu như chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, trong đó, có Việt Nam, GDP 6 tháng của nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng dương, tăng 1,81%. Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam cũng được nâng lên rõ rệt: Năm 2013 - 2014 nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia trong bảng xếp hạng. Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng thứ 67/141 nền kinh tế. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 tăng 8 bậc so với năm 2015, xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới; từ mức 0,654 năm 2010 (thứ hạng 114/189 quốc gia và vùng lãnh thổ) lên mức 0,694 năm 2017 (thứ hạng 116/189 quốc gia và vùng lãnh thổ).

Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao. Tỷ lệ hộ đói, nghèo đã giảm liên tục từ 30% năm 1992 xuống còn 8,3% năm 2004. Đến năm 2000, cơ bản xóa xong tình trạng đói kinh niên. Giai đoạn 2010-2020, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) và giảm từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).

Việt Nam cũng là một trong những nước đã chủ động sản xuất nhiều vaccine phòng bệnh (bệnh tả, bệnh đậu mùa, thương hàn…); bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Việt Nam là điểm sáng trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ và điểm sáng trong phòng, chống đại dịch Covid-19. Hiện nay, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu. Cả nước có 1.400 bệnh viện với 180.000 giường bệnh, 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó, có hơn 60% số trạm y tế đã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010-2020.

Cùng với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn với hàng trăm ấn phẩm báo chí, đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, báo và tạp chí điện tử, trang, cổng thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Ngoài ra, người dân Việt Nam còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như: Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác.

Thứ ba, về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân.

Trong lời nói đầu của Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 viết “Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật”. Thể chế hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã đưa vị trí, nội dung quyền con người, quyền công dân lên thành chương thứ hai với 36 điều, đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), có nhiều đổi mới nhất cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên xác định Nhà nước có trách nhiệm “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Khi quy định quyền con người, quyền công dân, các điều của Hiến pháp năm 2013 đều trực tiếp xác định “mọi người có quyền...”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ mà không phải Nhà nước “ban phát”, “ban ơn” các quyền này cho con người, cho công dân.

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của “luật”, mà không phải hạn chế theo quy định của “pháp luật” và việc hạn chế chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Với quy định này, sẽ không thể có chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước được tùy tiện hạn chế các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật...) là các quy định có hiệu lực trực tiếp. Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội ban hành, không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật” như một số quy định trước đây.

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và tích cực nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn (Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người) hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đã thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền, phản ánh kết quả của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết của Việt Nam trước nhân dân, trước cộng đồng quốc tế và quan trọng hơn là cam kết của chế độ, phản ánh bản chất của chế độ trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.

Thứ tư, về sự công nhận, tôn vinh của cộng đồng quốc tế về thành quả đạt được trong việc thúc đẩy, bảo về quyền con người ở Việt Nam.

Khi quyền con người, quyền công dân được Đảng, Nhà nước nhận thức đúng đắn, hành động tích cực, thiết thực, nó cũng đồng nghĩa nhận được kết quả ủng hộ Việt Nam, công nhận Việt Nam của cộng đồng quốc tế khi liên tục Việt Nam được bầu vào các thiết chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc. Sau 7 năm (từ năm 2007) Việt Nam chỉ có vị trí pháp lý là quan sát viên tại Hội đồng nhân quyền, nhưng nhờ tích cực tham gia vào các hoạt động, đóng góp nhiều ý kiến, chia sẻ quan điểm, kinh nghiệm về các vấn đề lớn như tăng cường hiệu quả của hội đồng, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số, đảm bảo an sinh như bảo hiểm y tế, bình đẳng xã hội, chính sách giáo dục, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh con người…

Việt Nam đã ứng cử và được bầu chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu bầu cao nhất trong 14 quốc gia được bầu chọn vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, khi mức thu nhập đầu người của Việt Nam năm 2014 mới hơn 2.000 USD thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia cùng thời điểm có GDP bình quân đầu người đã trên 10.000, 20.000 USD. Điều này đã minh chứng mọi thành tựu của đất nước đều hướng tới người dân. Tuy phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhưng việc thực hiện các Mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc luôn được thực hiện tích cực, mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA. Đây là đối tác chỉ ký kết hiệp định thương mại với các quốc gia về cơ bản bảo đảm được các điều kiện về nhân quyền. Đó là minh chứng Việt Nam thực sự coi trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người - một trong ba trụ cột hoạt động chính của Liên hợp quốc, bên cạnh các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế và hợp tác phát triển. Trong Thông điệp của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 đã khẳng định: “Đây là sự ghi nhận quan trọng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp xứng đáng của Việt Nam vào công việc quốc tế và khu vực; thể hiện vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là một vinh dự lớn lao, khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, song cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hết mình để hoàn thành trọng trách mà cộng đồng quốc tế giao phó. Việt Nam đã và sẽ tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, góp phần tích cực vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Thứ năm, về các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc.

Thiết nghĩ với những thành công không thể phủ nhận trong thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta như đã minh chứng ở trên, tiếc rằng do nhiều lý do khác nhau, thậm chí có cả lý do viết bài xuyên tạc quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam chỉ để được nhận nguồn tiền tài trợ, một số người đã thẳng thừng phủ nhận những kết quả đạt được trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân ở nước ta; trắng trợn vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, quyền công dân; bịa đặt pháp luật Việt Nam “thích bắt ai thì bắt”… Ngang ngược hơn nữa, họ còn đòi hỏi Việt Nam phải từ bỏ lựa chọn chế độ chính trị, chính họ đã vi phạm nghiêm trọng vào khoản 1, Điều 1 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 khi long trọng xác định “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”.

Thành quả đạt được về mục tiêu phấn đấu, về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Việt Nam trong thời gian qua được cộng đồng quốc tế, đông đảo các tầng lớp nhân dân công nhận, ủng hộ là những giá trị, kết quả không thể phủ nhận, nhưng đó cũng là đòn bẩy, là động lực, là mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội ta trong bước đường đi chung cùng nhân loại, tất cả đều bắt nguồn từ phẩm giá của con người. Nếu ai đó còn cố tình xuyên tạc, vu khống, kích động, lợi dụng vấn đề nhân quyền ở nước ta cho mục đích cá nhân, gây tổn hại cho lợi ích cộng đồng cần sớm chấm dứt, từ bỏ mục đích xấu. Mượn lời, chia sẻ cụ thể hơn về những thành tựu của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper nói: “Sự phát triển của Việt Nam thể hiện qua những con đường, những sân bay, những tuyến đường đến những vùng rất là xa xôi như miền Bắc hay Tây Nguyên… những thay đổi này đã góp phần thúc đẩy kinh tế, du lịch, thu hút đầu tư, điều này rất có lợi cho cuộc sống của người dân và sinh kế của người dân”.

Nhận diện quan điểm sai trái "Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"

 Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ bên trong nước ta và tiến tới bạo loạn lật đổ chế độ chính trị. Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để góp phần nhận diện quan điểm sai trái đó, trong phạm vi bài viết sẽ tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản sau đây:

 

Thứ nhất, nhận diện thực chất quan điểm sai trái, kích động “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch

Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam, với mục tiêu là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm chuyển hóa chế độ theo chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình 5 hóa, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đã đưa ra nhận định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc “Quân đội, Công an” nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, lãnh đạo xã hội được. Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước hết tập trung kích động để Quân đội không còn trung thành với mục tiêu lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, góp phần làm biến chất chính trị của đội quân cách mạng. Cho nên, kích động Quân đội không thực hiện mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, là một đòn đánh “ngầm” để thực hiện “mưu đồ sâu” là làm nhạt dần và “phi chính trị hóa” quân đội. Khi đó, Quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

Thứ hai, nhận diện về mục đích chính trị của quan điểm sai trái cho rằng “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Mục đích chính trị phản động của quan điểm sai trái là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Mỗi quân nhân nếu bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu lý tưởng của Quân đội  phải phục tùng mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị. Theo đó, Quân đội sẽ bị chuyển hóa theo hướng nhạt dần về chính trị, không trung thành với Đảng, không còn mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam và bị biến chất về chính trị. Chúng ta cần nhận diện đúng mục đích chính trị phản động và thâm độc đó, không để Quân đội ta mắc mưu các thế lực thù địch mà “không trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy, thường xuyên chăm lo xây dựng Quân đội thực sự là một đội quân cách mạng, là công cụ bạo lực vũ trang, lực lượng chính trị tin cậy và luôn luôn trung thành bảo vệ mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Thứ ba, nhận diện về phương thức tác động của các thế lực thù địch theo kịch bản làm cho “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Trước hết, thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá gây mơ hồ về mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội, với các luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”. Hai là, “phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của quân đội”. Ba là, phủ nhận chức năng, nhiệm vụ giai cấp của Quân đội; đề cao “tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội”. Bốn là, sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ. Năm là, sử dụng một số hình thức khác như đưa ra kiến nghị với Đảng, với Quân ủy Trung ương, với Tổng cục Chính trị để sửa đổi một số văn bản, chế độ mà lâu nay đã trở thành nét đẹp trong truyền thống của Quân đội ta. Đã có ý kiến kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong mười Lời thề danh dự của quân nhân chỉ cần diễn đạt gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, nên bỏ ba cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” và cụm từ “độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”… Hoặc đưa ra đề xuất rằng trong Quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và “dân sự hóa quân đội” nên không cần xác định Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội…

 

Thứ tưnhận diện về đối tượng tác động và lực lượng tiến hành quan điểm sai trái “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Về đối tượng mà các thế lực thù địch lựa chọn để tác động làm phai nhạt, xa rời mục tiêu: “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Quân đội ta là tập trung vào lực lượng thanh niên quân đội. Bởi lẽ, chúng nhận định rằng đội ngũ cán bộ, sĩ quan cao cấp của Quân đội là những người được trải nghiệm qua thực tiễn nên có bản lĩnh chính trị vững vàng nên khó làm chuyển hóa về chính trị. Trái lại, lực lượng thanh niên quân đội là những thế hệ trẻ nhưng là nguồn kế cận thay thế đội ngũ cán bộ cao cấp trong tương lai, nếu tác động làm phai nhạt lý tưởng chiến đấu ở đối tượng thanh niên quân đội thì dễ chuyển hóa hơn. Đó cũng là con đường, biện pháp thực hiện hiệu quả phương châm “dùng cộng sản con lật đổ cộng sản cha”.

Về sử dụng lực lượng thực hiện thủ đoạn kích động “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Các thế lực thù địch trong thời gian qua đã kết hợp lực lượng bên ngoài nước với lực lượng bên trong nước để chống phá Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Chú trọng xây dựng lực lượng cơ hội chính trị, “ngọn cờ cực đoan”; lôi kéo, mua chuộc một số ít cán bộ, sĩ quan, quân nhân bị tha hóa về phẩm chất (có cả cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu) và trọng dụng lực lượng tri thức ở hải ngoại viết bài, đưa tin trên các trang mạng, blog, diễn đàn để “phi chính trị hóa” quân đội. Với chiêu trò đưa ra các luận điểm sai trái về khoa học, theo phương châm “đúng sai lẫn lộn”, “đổi trắng thay đen”, “phủ nhận quan điểm mácxít về vai trò, chức năng của quân đội cách mạng” để gây mơ hồ ảo tưởng về mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Vì thế, chúng ta phải chủ động tiến công, sử dụng nhiều lực lượng, đa dạng các hình thức, sử dụng hiệu quả hơn nữa các phương tiện vào đấu tranh tư tưởng chính trị, nâng cao căn cứ khoa học để phản bác lại quan điểm sai trái, lấy cái đúng để phủ nhận cái sai và cái phi lý mang tính áp đặt, phản động về chính trị của các thế lực
thù địch…

 

Thứ năm, nhận diện về tác hại của quan điểm sai trái cho rằng “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Những trò diễn thông qua con đường tư tưởng chính trị để các thế lực thù địch đưa ra những bài viết tuyên truyền những luận điểm sai trái “trắng đen, đúng sai lẫn lộn”, với các hình thức triệt để lợi dụng phương tiện công nghệ thông tin và các trang mạng xã hội. Theo đó, thu hút được đông đảo các thành phần xã hội quan tâm, trong đó có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng sai mà bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại đó không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà nguy hại hơn nữa là sẽ dẫn đến hành động lệch lạc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và thực hiện các mục tiêu trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới hiện nay. Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội bị mắc mưu của các thế lực thù địch thì hệ quả là không thực hiện nhiệm vụ bảo vệ toàn diện các mục tiêu, trong đó có mục tiêu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Khi mà Quân đội ta không trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp đã tổ chức ra và nuôi dưỡng, để bị mất phương hướng chính trị, sẽ bị lực lượng chính trị khác thao túng để lật đổ vai trò cầm quyền của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

Thứ sáu, giải pháp cơ bản để vô hiệu hóa thủ đoạn kích động “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Thường xuyên giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hiện nayĐánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”[1].Vì thế, chúng ta phải nâng cao cảnh giác để nhận diện và có giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ thường xuyên. Với cơ chế và là nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”[2]. Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Chúng ta bảo vệ, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng nước ta, đối với lực lượng vũ trang thì còn tất cả và nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội thì mất tất cả.

 

Phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị. Các mũi tấn công của các thế lực thù địch để vô hiệu hóa vai trò của Quân đội ta, có cả trực tiếp và gián tiếp và có mức độ ảnh hưởng không ngang bằng nhau. Trong đó, đòn đánh của các thế lực thù địch vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là đánh vào cái gốc của chính trị, đây là tiêu chí căn bản để phân biệt khác nhau giữa quân đội cách mạng khác với quân đội tư sản. Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị. Mỗi cấp ủy đảng ở các đơn vị cơ sở phải tăng cường lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng chính trị, chỉ đạo Lực lượng 47 hoạt động có nền nếp và có chất lượng góp phần vô hiệu hóa các quan điểm sai trái trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng… vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta.

 

Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại quan điểm sai trái “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luậnphải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra. V.I.Lênin đã phê phán sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội mà các học giả tư sản thường tuyên truyền: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trên thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”[3]. Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng Bônsêvich Nga (Đảng Cộng sản Liên Xô). Thực tế đã diễn ra là sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười năm 1917, nước Nga đã bị 14 nước đế quốc bao vây nhằm bóp chết chính quyền Xô viết non trẻ. Do chuẩn bị kỹ lưỡng về tư tưởng tổ chức nên đầu năm 1922, V.I.Lênin ký sắc lệnh thành lập Hồng quân Liên Xô để làm lực lượng nòng cốt cho toàn dân tham gia bảo vệ thành quả cách mạng, mục tiêu chính trị của Đảng và của giai cấp vô sản Nga là “Giữ vững độc lập chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Bởi vì: “Kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc… bảo vệ chủ nghĩa xã hội…”[4].

 

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”. Và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[5]; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”[6].

Trải qua các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh: Quân đội luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Quân đội thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ở Liên Xô, trong thời kỳ Goócbachốp cầm quyền đã không quan tâm giáo dục chính trị và giữ vững mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội, bị mắc mưu các thế lực thù địch “phi chính trị hóa” quân đội nên khi chính biến xảy ra từ ngày 19 đến ngày 21/8/1991, thì quân đội bị mất phương hướng chính trị…

 

Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm thất bại quan điểm sai trái “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địchCác thế lực thù địch sử dụng đòn đánh làm suy yếu Quân đội về chính trị thì ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

 

Mặt khác, cùng với nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, phải thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và đập tan các hoạt động chiến tranh tâm lý, tình báo của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết nghĩa với tổ chức chính trị xã hội địa phương, có cơ chế phối hợp hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, nhất là âm mưu kích động “phi chính trị hóa” quân đội, “Quân đội không thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”…

 

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn luôn là công cụ, là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ và luôn luôn là lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện khát vọng xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, nhân dân hạnh phúc./.

Sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 Có thể nói, chưa bao giờ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm như hiện nay. Các tôn giáo, tổ chức tôn giáo liên tục được công nhận tư cách pháp nhân, số lượng không ngừng tăng lên, mức độ đa dạng tôn giáo ở Việt Nam xếp hạng nhóm đầu thế giới. Quyền tự do tôn giáo được bảo đảm ngay cả đối với những người bị giam giữ. Những người nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập ở Việt Nam cũng được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách đầy đủ hơn so với trước. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam được phép mở rộng quan hệ quốc tế mà không có bất cứ trở ngại gì, những hoạt động tôn giáo tập trung đông người được Nhà nước cho phép tổ chức, có những sự kiện lên tới vài chục nghìn người, thậm chí hàng trăm nghìn người. Năm 2009, Nhà nước cho phép và hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI tại Thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 2.000 ni sư từ hơn 47 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham dự sự kiện này. Năm 2011, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã đồng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm đạo Tin Lành có mặt tại Việt Nam. Buổi lễ được tổ chức tại Đà Nẵng thu hút khoảng 20.000 người tham dự. Ngoài ra, buổi lễ cũng được tổ chức tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút hàng nghìn người tham dự. Năm 2012, tại Tòa Giám mục Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Hội nghị toàn thể Liên Hội đồng Giám mục châu Á lần thứ X khai mạc, với hơn 200 giám mục trên khắp thế giới về dự. Năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 500 năm Tin Lành cải cách, tại Hà Nội diễn ra sự kiện với khoảng hơn 20.000 người tham gia tại sân vận động Quần Ngựa.

Các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo được phép tham gia vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, được tham gia tư vấn, phản biện các chính sách của Nhà nước nói chung và chính sách tôn giáo nói riêng. Việc xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có sự tham gia, đóng góp tích cực của tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Việc in ấn, xuất bản kinh sách tôn giáo rất thuận lợi, việc quy định tất cả kinh sách tôn giáo in tại Nhà xuất bản Tôn giáo để thống nhất quản lý không hề gây ra trở ngại gì đối với việc in ấn tài liệu của các tôn giáo. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu các tài liệu tôn giáo từ nước ngoài để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng cũng không gặp trở ngại gì.

Điều đáng nói là, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm các tôn giáo được đối xử một cách bình đẳng và các tôn giáo ổn định, đoàn kết trong một đất nước có sự đa dạng tôn giáo cao, bên cạnh đó còn có sự đa dạng về tộc người với những truyền thống lịch sử và văn hóa khác biệt. Đây phải được xem là một thành tựu quan trọng của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đưa ra quan điểm có tính chất đổi mới nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(4).

Không chỉ ban hành chủ trương, chính sách quan tâm, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân, Đảng, Nhà nước ta còn chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và tâm tư, nguyện vọng của đồng bào theo đạo. Chính phủ thường xuyên tổ chức gặp gỡ đại diện của tất cả các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận để lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của đại diện các tôn giáo.

Hiện nay, Việt Nam có 16 tôn giáo và 41 tổ chức tôn giáo (thuộc 16 tôn giáo) đã được công nhận tư cách pháp nhân. So với trước năm 2004, con số này tăng thêm 10 tôn giáo. Đời sống tôn giáo ở Việt Nam luôn ổn định, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được bảo đảm và ngày càng mở rộng. Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền ngày càng quan tâm, chăm lo đối với người dân theo đạo, điều này đã thể hiện rõ trong đời sống tôn giáo của tín đồ và mọi hoạt động của các tôn giáo, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam./.

Thủ đoạn xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam

 Các thế lực thù địch, phản động đánh tráo khái niệm, gán ghép, quy chụp một sự kiện, vụ việc không phải là mâu thuẫn hay xung đột về tôn giáo, nhưng bị quy chụp là mâu thuẫn, xung đột tôn giáo. Trên thực tế, một số vụ việc không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo, chỉ là những sự việc vi phạm hành chính, dân sự,... nhưng lại bị các lực lượng phản động quy chụp là mâu thuẫn tôn giáo. Chẳng hạn, các quan điểm xuyên tạc thường đưa tin về các vụ biểu tình, tụ tập đông người của các tín đồ tôn giáo, liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, đây không phải là mâu thuẫn hay xung đột về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà chỉ đơn thuần là vấn đề đất đai do chiến tranh, do lịch sử để lại,... Xung đột trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam hiện nay chủ yếu do tranh chấp đất đai, do vi phạm trong xây dựng cơ sở thờ tự, truyền đạo trái pháp luật, vi phạm pháp luật hiện hành về tôn giáo, chứ không phải xung đột do mâu thuẫn về niềm tin tôn giáo. Nói cách khác, đây hoàn toàn không phải là những vụ việc xảy ra do bị hạn chế quyền tự do tôn giáo, không phải do kỳ thị, xúc phạm niềm tin tôn giáo.

Trên thực tế có lúc, có nơi vẫn còn xảy ra những mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm tôn giáo, hoặc giữa các tín đồ tôn giáo hay mâu thuẫn giữa người dân với các tôn giáo và tín đồ tôn giáo về những vấn đề dân sự, hành chính hoặc những vấn đề có liên quan đến văn hóa... nhưng cũng bị các lực lượng thù địch gán ghép là mâu thuẫn giữa chính quyền với tôn giáo, tức là đều bị quy chụp vào mâu thuẫn tôn giáo, vấn đề tôn giáo.

Họ biến hiện tượng thành bản chất, biến thiểu số thành đa số. Đây là một phương thức khá phổ biến để xuyên tạc tình hình tôn giáo, chính sách, pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể, trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo ở các địa phương khác nhau có lúc, có nơi các cấp, các ngành chưa thực hiện đúng; có những cán bộ trực tiếp giải quyết có cách làm chưa phù hợp nên gây ra những phản ứng tiêu cực, thì đây là những sai sót trong thực hiện, thuộc về hiện tượng chứ không phải bản chất, thuộc về những sai sót có tính chất thiểu số, bộ phận, có tính chất cá nhân, chứ không phải đa số, không phải toàn thể. Tuy nhiên, thông qua phương thức, chiêu bài xuyên tạc biến hiện tượng thành bản chất, biến thiểu số thành đa số, biến bộ phận thành toàn thể, của các thế lực thù địch... thì những vụ việc này bị quy chụp sai sót về mặt bản chất của chế độ, chính sách. Tương tự, có những cá nhân tôn giáo (chức sắc, nhà tu hành hay tín đồ) vì vi phạm chính sách, pháp luật mà đương nhiên bị xử lý. Những vi phạm của các cá nhân này không liên quan gì đến tôn giáo, nhưng lại bị quy chụp thành vấn đề tôn giáo, bản chất tôn giáo.

Nói cách khác, họ mưu toan khai thác những điểm còn hạn chế trong chính sách, pháp luật về tôn giáo, khai thác những hạn chế trong thực thi chính sách, pháp luật về tôn giáo, khai thác những vụ việc sai phạm của các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo để lấy đó minh chứng cho bản chất của chế độ, qua đó làm gia tăng mâu thuẫn, suy giảm niềm tin của tổ chức tôn giáo, tín đồ tôn giáo và dư luận thế giới đối với chính sách tôn giáo và thực thi chính sách tôn giáo ở Việt Nam, hiểu sai về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Họ thường xuyên gặp gỡ, khai thác ý kiến của các cá nhân tôn giáo, những  thành phần chống đối trong các tổ chức tôn giáo, những nhân vật tôn giáo đã bị chính quyền xử lý vì những vi phạm pháp luật, biện bạch rằng đó là những bằng chứng, chứng cứ sinh động cho việc hạn chế, vi phạm quyền tự do tôn giáo của Việt Nam. Khai thác những điểm hạn chế, đồng thời ít nhấn mạnh, thậm chí “lờ đi” những điểm sáng, những thành tựu của tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Đây thực chất là cách làm có chủ đích nhằm định hướng dư luận trong nước, quốc tế theo quan điểm của mình.

Họ thường lấy những tiêu chuẩn của nước khác để áp vào Việt Nam, yêu cầu Việt Nam phải thực hiện theo những chuẩn mực hay tiêu chuẩn đó. Tuy nhiên, chúng ta đều biết rằng, quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù và không thể có một tiêu chuẩn chung nào có thể áp dụng cho tất cả mọi quốc gia. Bất cứ một quốc gia nào cũng đều phải lấy lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia làm ưu tiên hàng đầu. Việt Nam cũng vậy, bảo đảm quyền con người là một ưu tiên, nhưng việc bảo đảm ấy không thể xâm phạm đến an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo không thể đòi hỏi quyền của mình nếu như điều đó ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội.

Họ cổ xúy, khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo và những cá nhân tôn giáo có tư tưởng cực đoan, chống đối Nhà nước, tuyên truyền, kích động, xúi giục người khác biểu tình, chống đối, tạo ra những vụ việc phức tạp để tạo cớ xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, xuyên tạc bản chất của chế độ ta.

Họ rắp tâm khai thác những vấn đề lịch sử, tâm lý khác biệt giữa các tôn giáo, giữa các tộc người để từ đó kích động tâm lý hận thù, tư tưởng ly khai. Chẳng hạn, khai thác triệt để các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, những khác biệt về văn hóa để kích động, chia rẽ người Kinh và các dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; triệt để khai thác cái gọi là “Vương quốc Mông”, “Nhà nước Đề ga”,... để kích động tư tưởng ly khai,...

Đó là một số thủ đoạn thường gặp của các thế lực phản động nhằm đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Các quan điểm này thường thống kê tất cả những vụ việc, những cá nhân tôn giáo vi phạm pháp luật bị xử lý, những hạn chế, thiếu sót trong các văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo, đặc biệt là những hạn chế, bất cập trong việc thực thi chính sách, pháp luật ở Việt Nam để khẳng định rằng, Việt Nam hạn chế tôn giáo, đàn áp tôn giáo, sách nhiễu tôn giáo, không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,... Họ muốn hướng đến mục đích là phản ánh sai lạc, xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, xuyên tạc bản chất của mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo, làm phức tạp thêm tình hình, duy trì và nuôi dưỡng những mầm mống phản động chống đối Đảng, Nhà nước, cản trở việc hóa giải những mâu thuẫn, những vụ việc phức tạp giữa chính quyền với tổ chức và cá nhân tôn giáo, để cuối cùng  là thông qua tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để chuyển hóa chế độ của chúng ta.

Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

 Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm bởi nó gắn với niềm tin của con người đối với thế giới đối tượng thiêng và một khi niềm tin tôn giáo bị lợi dụng cho những mục đích xấu sẽ gây ra những hệ lụy khó lường. Vì vậy, nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cần được quan tâm đặc biệt.

Đối với các thế lực thù địch, tôn giáo là cái “cớ” để khai thác, nhằm xuyên tạc để chống phá Đảng, chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại đoàn kết tôn giáo, gây chia rẽ, kích động hận thù hoặc tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, gây tư tưởng chia rẽ, bạo loạn,... Một sự việc rất nhỏ, một mâu thuẫn bình thường trong lĩnh vực tôn giáo có thể bị thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc trở nên nghiêm trọng; một vụ việc tôn giáo xảy ra tại một khu vực, một địa phương cũng rất dễ bị khuếch đại thành vấn đề quốc tế; một sự kiện vốn chỉ là hiện tượng, nhưng có thể bị xuyên tạc trở thành bản chất; một vấn đề mang tính bộ phận, nhưng lại dễ biến thành toàn thể; một câu chuyện vốn rất bình thường, nhưng có thể bị biến thành phức tạp.

Trong nhiều năm qua, những nhận định sai trái, xuyên tạc với thái độ thù địch và động cơ chính trị xấu vẫn thường xuyên xuất hiện, cho dù tình hình tôn giáo ở Việt Nam tốt đẹp, quyền tự do tôn giáo ngày càng được bảo đảm tốt hơn thì những luận điệu kiểu ấy vẫn phát tán và hoàn toàn không ăn nhập gì với thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Kỳ thực, các quan điểm sai trái, thù địch, kích động mâu thuẫn, xung đột,... đều đã được lập trình với rất nhiều phương án, kịch bản khác nhau để hướng đến mục đích cuối cùng là thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, là gây “cách mạng không tiếng súng”, nhằm công kích, chuyển hóa chế độ. Chiến thuật, chiến lược này không mới, nhưng nó nguy hiểm ở chỗ luôn âm thầm, rình rập, chờ thời cơ, kiểu “nước nhỏ lu đầy”, “mưa dầm thấm lâu”,... Vì vậy, cần nhận diện chúng một cách chính xác nhằm thấy rõ động cơ, mục đích cũng như phương thức tiến hành của chúng để có cơ sở đấu tranh, phản bác.

Các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Các thế lực thù địch rêu rao rằng, Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, hạn chế, cản trở, đàn áp hoạt động tôn giáo. Quan điểm này thường viện dẫn rằng có những hoạt động tôn giáo bị chính quyền ngăn cản hoặc giải tán. Tuy nhiên, trong thực tế những hoạt động tôn giáo bị chính quyền giải tán là những hoạt động chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền, nói cách khác, đây là hoạt động trái pháp luật. Theo pháp luật Việt Nam, việc tuyên truyền tôn giáo, tổ chức các hoạt động tôn giáo đông người ngoài cơ sở thờ tự và những địa điểm hợp pháp khác, mà chưa được sự đồng ý của chính quyền là một hành vi vi phạm pháp luật. Khi thấy các cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn những hoạt động này, các thế lực thù địch lu loa rằng, đó là hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hạn chế tôn giáo mà quên rằng, các cơ quan đang thực thi pháp luật Việt Nam chứ không phải thực thi pháp luật của một đất nước nào khác.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những hoạt động tụ tập đông người ở nơi công cộng đều phải được sự đồng ý của chính quyền, nếu vi phạm sẽ bị xử lý. Tuy thế, nhiều hoạt động tôn giáo tụ tập đông người vẫn cố tình diễn ra dù chưa được phép. Đó là hành vi vi phạm pháp luật và thách thức pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn các hoạt động kiểu như thế này là hoạt động thực thi và bảo vệ pháp luật.

Nghiêm khắc xử lý vi phạm đối với các hoạt động tôn giáo, nhưng ngược lại, Việt Nam lại hết sức tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo đúng pháp luật. Nhà nước ủng hộ và tạo điều kiện tổ chức lễ kỷ niệm của các tôn giáo với quy mô hàng trăm nghìn người. Những hội thảo, hội nghị mang tầm quốc tế, khu vực của các tổ chức tôn giáo vẫn được Nhà nước tạo điều kiện và hỗ trợ tổ chức. Chẳng hạn, nhân dịp kỷ niệm 350 năm thành lập hàng giáo phẩm của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, chính quyền cho phép 30 giám mục, 1.200 linh mục và hơn 100.000 giáo dân trên khắp cả nước tụ họp tại tỉnh Hà Nam để tổ chức sự kiện này.

Hằng năm, nhân dịp lễ kỷ niệm ngày sinh Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, khoảng 100.000 người tụ họp để dự lễ tại An Hòa Tự, tỉnh An Giang. Tương tự, hằng năm, nhân dịp Lễ hội Diêu Trì Kim Mẫu, hàng trăm nghìn tín đồ Cao Đài trên cả nước và nước ngoài tụ họp về Tòa thánh Tây Ninh để hành lễ. Trong các năm 2008, 2014 và 2019, Việt Nam đã cho phép Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại lễ Vesak Liên hợp quốc, thu hút hàng chục nghìn đại biểu đến từ các quốc gia trên thế giới và các tín đồ Phật giáo trong và ngoài nước.

Mặt khác, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, Việt Nam “đàn áp, sách nhiễu” các hội, nhóm tôn giáo chưa được thừa nhận, chưa đăng ký hoạt động, không chấp nhận hoặc gây khó dễ trong việc đăng ký của các tổ chức, nhóm tôn giáo chưa được công nhận. Như chúng ta biết, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Việt Nam và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30-12-2017, của Chính phủ, “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo”, quy định rất rõ về điều kiện, thủ tục để được công nhận tư cách pháp nhân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được phổ biến rộng rãi cho tất cả các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Nếu như các tổ chức có đầy đủ các điều kiện, hồ sơ hoàn chỉnh mà chính quyền vẫn không giải quyết hoặc không giải thích rõ lý do hoặc các cơ quan có thẩm quyền có bất kỳ vi phạm nào trong quá trình quản lý hoạt động tôn giáo, các tổ chức đó có thể khiếu nại, khởi kiện (theo Khoản 1, Điều 63 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất có chính sách công nhận các tổ chức tôn giáo, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng thực hiện chính sách này. Ở các quốc gia đó, những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận cũng cần hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và sau khi được các cơ quan thẩm định đạt yêu cầu mới được công nhận. Các quan điểm xuyên tạc thường xuyên viện dẫn chính quyền ngăn chặn, hạn chế các hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các tổ chức Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các hệ phái Tin Lành chưa được công nhận, các hiện tượng tôn giáo mới như Pháp Luân Công, Dương Văn Mình,...

Ở Việt Nam còn có nhiều dạng thức hoạt động tôn giáo chưa được công nhận, có những hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước, chế độ, gây ra những vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc. Có thể kể ra một số tổ chức, hội, nhóm sau: Hội đồng liên tôn Việt Nam; Liên đoàn dân chủ Công giáo Việt Nam; Hội đồng liên kết quốc nội hải ngoại Việt Nam; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo thuần túy; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo truyền thống; Ban Đại diện Khối nhơn sanh Cao Đài; Liên hiệp Ban Trị sự Hội thánh em (Cao Đài); Nhóm bảo thủ chơn truyền (Cao Đài); Nhóm tín đồ theo Hội thánh nguyên thủy (Cao Đài); Hội thánh em Đại đạo Tam Kỳ phổ độ; Tin Lành Đề ga,... Trong số các tổ chức, hội, nhóm nêu trên thì các hội, nhóm: Hội đồng liên tôn Việt Nam; Liên đoàn dân chủ Công giáo Việt Nam; Hội đồng liên kết quốc nội hải ngoại Việt Nam do các phần tử cực đoan của một số tôn giáo lập ra.

Những tổ chức nói trên luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại với xu hướng đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo khác ở Việt Nam. Pháp luật Việt Nam xử lý nghiêm đối với những hoạt động của các tổ chức này nếu các hoạt động đó gây ảnh hưởng cho an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Đối với những tổ chức tôn giáo chưa được công nhận là pháp nhân, hoạt động tuân thủ pháp luật, và điều quan trọng ở đây là những tổ chức tôn giáo thuần túy, tức không phải mang danh nghĩa tôn giáo để hoạt động chính trị thì khi hội đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật sẽ được xem xét, công nhận là pháp nhân.

Trên thế giới, nhiều nước cũng có chính sách ứng xử rất rõ ràng với các tổ chức, nhóm tôn giáo chưa được công nhận. Pháp là một ví dụ. Chính phủ Pháp thường xuyên từ chối công nhận các nhóm tôn giáo “thiểu số”. Luật pháp của Pháp quy định, nghiêm cấm bất cứ ai lợi dụng tôn giáo của mình nhằm không tuân thủ các quy định chung về mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và các cá nhân. Đây là cơ sở pháp lý để Chính phủ Pháp có thể từ chối công nhận tư cách pháp nhân cho các nhóm tôn giáo thiểu số.

Ở Xin-ga-po, pháp luật về tổ chức xã hội của quốc gia này quy định “Một tổ chức xã hội đại diện, thúc đẩy hoặc thảo luận về những vấn đề tôn giáo là “một tổ chức chuyên biệt” và phải được đăng ký theo quy định pháp luật. Tại quốc gia này, một tổ chức như thế, nếu không đăng ký sẽ bị coi là một tổ chức ngoài vòng pháp luật và bị giải tán. Ngoài ra, ở Xin-ga-po, nhóm Chứng nhân Giê-hô-va không được công nhận tư cách pháp nhân và bị hạn chế hoạt động tôn giáo vì nhóm này nhất định không thực hiện nghĩa vụ quân sự và chào cờ. Chính phủ Xin-ga-po cho rằng, nghĩa vụ quân sự và chào cờ là nghĩa vụ thế tục mang tính chất bắt buộc đối với các công dân, không thể vì lý do tôn giáo mà từ chối nghĩa vụ này(1).

Nhật Bản thông qua một luật mới rất hà khắc dành riêng cho giáo phái Chân lý tối thượng sau những gì giáo phái này đã gây ra. Luật yêu cầu Chân lý tối thượng phải thông tin thường xuyên về mọi hoạt động của mình cũng như hồ sơ của mỗi thành viên. Trên phương diện rộng hơn, Nhật Bản đã sửa đổi và thông qua Luật Pháp nhân tôn giáo năm 1995. Tiêu điểm của luật sửa đổi là “tăng sự giám sát của nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo và yêu cầu các tổ chức tôn giáo công khai tình hình tài chính”(2), tất cả nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động của các tổ chức tôn giáo(3).

Rõ ràng, Nhà nước Việt Nam không sách nhiễu, không hạn chế, mà chỉ yêu cầu và chấn chỉnh các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận thực hiện đúng trong phạm vi, khuôn khổ theo quy định của pháp luật. Việc các thế lực phản động, thù địch sử dụng từ hạn chế, sách nhiễu khiến cho bản chất sự thật bị bóp méo, bởi một số tổ chức tôn giáo chưa được công nhận đang có những hoạt động trái pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Các thế lực thù địch lập luận một cách vô căn cứ rằng Việt Nam có các điều luật, quy định “không rõ ràng”, các “tội danh mơ hồ”, sử dụng điều khoản về an ninh quốc gia, để “kiểm soát, đàn áp, hạn chế” tự do tôn giáo. Tuy nhiên, những điều mà các quan điểm sai trái, thù địch cho rằng Việt Nam đưa ra “tội danh mơ hồ”, “không rõ ràng”,... được quy định rất rõ tại Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Theo quy định của pháp luật, bất kỳ hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà hoạt động đó xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, thì đó là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm. Đây không phải là những quy định “mập mờ”, “mơ hồ”, mà là những quy định rất rõ ràng và là một nguyên tắc pháp lý chung: nguyên tắc hạn chế quyền trong trường hợp việc thực thi quyền này xâm phạm đến an ninh quốc gia và sự an toàn cho cộng đồng. Đây cũng là một điều mà các quốc gia trên thế giới đều có quy định và áp dụng trong những tình huống khẩn cấp. Cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 là một ví dụ. Nhiều quốc gia trên thế giới phải hạn chế quyền tự do cá nhân vì mục tiêu an toàn của cộng đồng.

Các thế lực thù địch lập luận hàm hồ rằng Việt Nam bắt giữ, bỏ tù các cá nhân tôn giáo, và đó là hành vi vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo,... Tuy nhiên, những cá nhân bị chính quyền bắt giữ đều là những người có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc là có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, kêu gọi, kích động hận thù, gây ra mâu thuẫn, xung đột, chia rẽ đoàn kết. Đó là những nhân vật, đối tượng cực đoan, có tư tưởng chống đối hoặc bị chi phối, chỉ đạo bởi các lực lượng, tổ chức phản động, thậm chí có đối tượng là thành viên của các tổ chức khủng bố. Những cá nhân này thường nhân danh tôn giáo, nhân danh đòi công bằng, bình đẳng cho các tổ chức tôn giáo để nhằm mục đích chính trị.

TRAO HUY CHƯƠNG CỦA LIÊN HỢP QUỐC TẶNG LỰC LƯỢNG GGHB VIỆT NAM TẠI PHÁI BỘ UNISFA

 Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) tại khu vực Abyei (UNISFA) vừa tổ chức Lễ trao Huy chương vì sự nghiệp GGHB LHQ tặng Đội công binh số 1 của Việt Nam và Tổ Công tác UNISFA đang thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ.

Dự buổi lễ, về phía Việt Nam có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổ trưởng Tổ Công tác liên ngành, Trưởng ban chỉ đạo Bộ Quốc phòng về tham gia hoạt động GGHB LHQ; Trung tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an. Về phía chỉ huy Phái bộ UNISFA có Chuẩn tướng Abu Syed Mohammod Bakir, Quyền Tư lệnh.
Huy chương vì sự nghiệp GGHB LHQ được trao tặng cho mỗi cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp nhằm ghi nhận những thành tích và đóng góp của lực lượng GGHB Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ trên thực địa. Mặc dù được triển khai tại một phái bộ mới, các chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam luôn tích cực học hỏi, trau dồi nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, xây dựng phong cách làm việc khoa học, có ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ và tinh thần hữu nghị với đồng nghiệp quốc tế và chính quyền, nhân dân địa phương, được chỉ huy Phái bộ và các cơ quan chức năng của Phái bộ đánh giá cao.
Tại buổi lễ, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Trung tướng Lê Quốc Hùng và chỉ huy Phái bộ UNISFA lần lượt trao Huy chương vì sự nghiệp GGHB LHQ tặng các thành viên Đội công binh số 1 và Tổ Công tác UNISFA.
Phát biểu tại buổi lễ, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đánh giá các hoạt động GGHB LHQ đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa chiến tranh, giải quyết hậu xung đột ở nhiều nơi trên thế giới. Việt Nam tự hào được đóng góp công sức của mình vào thành quả này.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cho biết: Việt Nam chính thức tham gia hoạt động GGHB LHQ từ tháng 5-2014. Đến nay, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan tham gia ở các vị trí cá nhân và đơn vị tại nhiều phái bộ và trụ sở LHQ. Đáng chú ý, tháng 5 vừa qua, Việt Nam đã triển khai thành công Đội Công binh số 1 tới Phái bộ UNISFA. Những nỗ lực trên thể hiện Việt Nam là một quốc gia thành viên có trách nhiệm của LHQ, đóng góp vào nỗ lực chung vì hòa bình, ổn định và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân trên toàn thế giới, trong đó có tại Abyei.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, tấm Huân chương vì sự nghiệp GGHB LHQ là sự ghi nhận, biểu dương của LHQ đối với sự cố gắng của Đội Công binh số 1 cũng như các cán bộ Việt Nam công tác tại Phái bộ UNISFA. Thay mặt Bộ Quốc phòng Việt Nam và đoàn công tác, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định, lực lượng GGHB Việt Nam luôn quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng như LHQ và Phái bộ giao cho.
Về phần mình, Chuẩn tướng Abu Syed Mohammod Bakir nêu bật những đóng góp của Việt Nam trong LHQ nói chung và hoạt động GGHB LHQ nói riêng, trở thành một điển hình cho các quốc gia khác làm theo. Tại Phái bộ UNISFA, Chuẩn tướng Abu Syed Mohammod Bakir đánh giá cao lực lượng GGHB Việt Nam ở trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp và sự nỗ lực đáng nể trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Sau lễ trao huy chương, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và chỉ huy Phái bộ UNISFA đã cùng trồng cây lưu niệm trong khuôn viên doanh trại Đội Công binh số 1./.
Theo Báo QĐND.