Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Xây dựng tuyến biên giới hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước bạn Lào, Campuchia trên địa bàn Tây Nguyên: Định hướng và giải pháp

        Khu vực Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong “Tam giác phát triển” Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Việc duy trì và củng cố tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác phát triển với các nước láng giềng trên địa bàn Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quốc phòng - an ninh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng, mà còn đối với cả nước.

Bao trùm trên diện tích khoảng 54.600km2, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, Tây Nguyên là vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, với khoảng 2,2 triệu người (chiếm 15,6% dân số cả nước năm 2019).

Được mệnh danh là “nóc nhà của Đông Dương”, nằm ở khu vực ngã ba biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, Tây Nguyên là “cửa ngõ” khu vực “Tam giác phát triển” Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước, dành sự ưu tiên phát triển vùng Tây Nguyên trở thành “đầu tàu” của khu vực “Tam giác phát triển”. Để thực hiện được mục tiêu này, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là vừa củng cố và duy trì tuyến biên giới đất liền với các nước bạn Lào, Cam-pu-chia trên địa bàn Tây Nguyên luôn hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển, vừa tạo điều kiện thuận lợi phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, giao thương, góp phần khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của vùng để từng bước nâng cao đời sống nhân dân trên toàn khu vực Tây Nguyên và các vùng lân cận. Đây chính là một nhiệm vụ mang nội hàm kép, nghĩa là vừa cần tổ chức quản lý tốt đường biên, mốc giới, vừa từng bước giải quyết các vấn đề còn tồn tại nhằm tạo lập và duy trì một đường biên giới rõ ràng, ổn định.

Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Khu vực Tây Nguyên có 586,4km đường biên giới đi qua 31 xã biên giới, thuộc 12 huyện(2) của hai nước Lào và Cam-pu-chia. Trong khi Việt Nam và Lào đã xác lập hoàn chỉnh đường biên giới cả trên thực địa và phương diện pháp lý, thì Việt Nam và Cam-pu-chia mới hoàn thành phân giới cắm mốc khoảng 84% đường biên giới trên đất liền. Trong đó, tại khu vực Tây Nguyên, hai nước đã hoàn thành khoảng 312,8km, còn khoảng 119,4km cần tiếp tục giải quyết (trong tổng số khoảng 213km đường biên giới trên đất liền của hai nước chưa hoàn thành phân giới cắm mốc).

Thời gian qua, chính quyền địa phương các nước đã và đang phối hợp chặt chẽ tổ chức thực hiện tốt các văn kiện pháp lý về biên giới đã ký kết giữa Việt Nam và các nước bạn Lào, Cam-pu-chia, bao gồm: Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào (năm 2016); Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào (năm 2016); Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia (năm 1983); Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Cam-pu-chia (năm 2019),... Các lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới của hai nước thường xuyên trao đổi, nắm bắt thông tin, phối hợp giải quyết tốt các vấn đề an ninh biên giới, không để xảy ra vụ việc phức tạp, kéo dài. Qua đó, đường biên, mốc giới trên địa bàn được bảo vệ và duy trì ổn định; các mốc bị hư hỏng hoặc có nguy cơ sạt lở cao được phát hiện kịp thời, báo cáo lên cấp có thẩm quyền để có biện pháp xử lý phù hợp. Tình hình an ninh, trật tự khu vực biên giới cũng cơ bản ổn định, không có các vụ việc phức tạp phát sinh, góp phần duy trì tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

Tây Nguyên hiện có 6 cửa khẩu đang hoạt động, gồm: 3 cửa khẩu với Lào, trong đó, có 1 cửa khẩu quốc tế (Bờ Y, Kon Tum - Phu Cưa, Ắt Tạ Pư) và 2 cửa khẩu phụ (Đắk Blô, Kon Tum - Đắk Bar, Xê Kông và Đắk Long, Kon Tum - Văng Tắt, Ắt Tạ Pư); 3 cửa khẩu với Cam-pu-chia, trong đó có 1 cửa khẩu quốc tế (Lệ Thanh, Gia Lai - O Za Dao, Rattanakiri) và 2 cửa khẩu chính (Bu Prăng, Đắk Nông - Đắk Đam, Mondulkiri và Đắk Peur, Đắk Nông - Bu Sara, Mondulkiri). Hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền ở khu vực Tây Nguyên đóng vai trò là cầu nối thúc đẩy giao thương giữa Tây Nguyên với các khu vực thuộc tiểu vùng sông Mê Công, giữa Việt Nam và các nước bạn Lào, Cam-pu-chia, đồng thời tận dụng các lợi thế tiềm năng của từng địa phương biên giới, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng biên. Tuy nhiên, một số cửa khẩu ở Tây Nguyên chưa được đầu tư đúng mức, đồng bộ ở cả hai phía (hai bên đã thỏa thuận mở cửa khẩu chính Đắk Ruê, Đắk Lắk - Chi Miết, Mondulkiri, nhưng từ năm 2007 đến nay chưa có đường giao thông và kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh để đưa cửa khẩu vào hoạt động). Tỉnh Kon Tum nằm ở vị trí “đắc địa” ngã ba biên giới, nhưng mới có cửa khẩu thông thương với Lào, chưa có cửa khẩu kết nối với Cam-pu-chia. Như vậy, so với các tỉnh khác có biên giới với Lào và Cam-pu-chia, việc phát triển hệ thống cửa khẩu ở các tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hạn chế.

Trong hai năm 2020 - 2021, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, hầu hết các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia gặp nhiều khó khăn: Hoạt động đầu tư, thương mại qua biên giới bị ngưng trệ, không thể triển khai; việc qua lại biên giới bị hạn chế do chính sách phòng, chống dịch bệnh của chính phủ mỗi bên. Mặc dù vậy, vượt qua những khó khăn, thách thức, các lực lượng chức năng liên quan đã phối hợp chặt chẽ, nỗ lực thực hiện có hiệu quả công tác biên giới, cửa khẩu, góp phần quan trọng vào sự thành công trong nỗ lực phòng, chống đại dịch của cả ba nước, không để ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và vẫn bảo đảm quản lý tốt đường biên, mốc giới.

Nguyên tắc, định hướng xây dựng tuyến biên giới hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước bạn Lào và Cam-pu-chia

Ngày 28-9-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW, về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, trong đó xác định mục tiêu chung là: Xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển; bảo vệ, phòng thủ vững chắc biên giới quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở khu vực biên giới và cả nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng định hướng công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng liên quan về vấn đề này trong tình hình mới, cụ thể là: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch... xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia... Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng”.

Đối với Tây Nguyên, ngay từ năm 2002, Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010 và ra Kết luận số 12-KL/TW, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011 - 2020. Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 276/QĐ-TTg, ngày 18-2-2014, về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW, trong đó đề ra các mục tiêu phát triển cụ thể đối với vùng Tây Nguyên trên các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và quốc phòng - an ninh. Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng Tây Nguyên được đề ra trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng đường bộ cao tốc và nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng, các tuyến kết nối các tỉnh Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, ven biển Nam Trung Bộ, với Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống”. Và, để tiếp tục xây dựng Tây Nguyên trở thành địa bàn xứng tầm chiến lược quốc phòng - an ninh, vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, ngày 14-4-2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 461/QĐ-TTg, phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, theo đó giao cho các bộ, ngành chủ trì báo cáo về thực trạng và phương hướng phát triển các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành mình.

Để xây dựng biên giới với các nước láng giềng trên địa bàn Tây Nguyên thành tuyến biên giới hữu nghị, hợp tác, phát triển, các địa phương có biên giới cần quán triệt các nguyên tắc và định hướng sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước. Trong tình hình hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về biên giới lãnh thổ cần kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, xã hội các huyện, xã biên giới vững mạnh; chú trọng nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, qua đó tăng cường, nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng, quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ.

Từ đặc điểm dân cư tại Tây Nguyên, vấn đề tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là nhiệm vụ càng phải được chú trọng, làm cơ sở cho xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Việc cấp bách trước mắt là ổn định việc định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, hạn chế tình trạng di cư tự do, thông qua giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình, từng bản làng, kết hợp bảo vệ rừng với bảo vệ đường biên, cột mốc dưới sự hướng dẫn của cơ quan, lực lượng chuyên trách địa phương. Song song với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm, nâng cao dân trí cho nhân dân, nhất là đối tượng già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, đồng bào các dân tộc sinh sống tại khu vực biên giới về bảo vệ biên giới và phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới, tránh bị lợi dụng, lôi kéo bởi các thế lực thù địch, phản động.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Tây Nguyên là một trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, đồng thời là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, trung tâm của khu vực “Tam giác phát triển”. Do đó, xây dựng tuyến biên giới hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước bạn Lào, Cam-pu-chia trên địa bàn Tây Nguyên đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa yếu tố quốc phòng - an ninh với yếu tố kinh tế - xã hội. Điều này góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp, vừa bảo đảm giữ vững được chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, vừa nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân tại khu vực hai bên biên giới.

Theo đó, chính quyền địa phương biên giới các cấp cần: xây dựng chính sách ưu tiên, ưu đãi về kinh tế - xã hội đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa biên giới; nghiên cứu, đầu tư xây dựng các công trình vừa phục vụ quản lý, bảo vệ biên giới, vừa phục vụ đời sống, sinh hoạt của cư dân biên giới; đầu tư kết cấu hạ tầng, trang thiết bị khu vực cửa khẩu; thực hiện quy hoạch cửa khẩu biên giới đất liền, quy hoạch kinh tế vùng biên giới cho từng tỉnh, từng tiểu vùng (cả về nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ theo ba cấp độ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn).

Thứ ba, củng cố các cơ chế chỉ đạo triển khai công tác biên giới và tăng cường xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới.

Thực hiện hướng dẫn của Bộ Ngoại giao, 4 tỉnh biên giới Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông đã thành lập Ban Chỉ đạo công tác biên giới tỉnh để chỉ đạo, điều hành, bảo đảm quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, cũng như các biên bản, thỏa thuận trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác song phương về biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Cam-pu-chia.

Trong tình hình mới, đối với các lực lượng chuyên trách trên thực địa, tiếp tục củng cố, xây dựng theo hướng toàn diện, chính quy, tinh nhuệ, ngày càng hiện đại cả về tổ chức và trang thiết bị, nắm vững hệ thống văn bản pháp lý song phương và pháp luật trong nước nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý đường biên, mốc giới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa.

Thứ tư, tiếp tục phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Già làng, trưởng bản, người có uy tín luôn đóng vai trò như cầu nối giữa chính quyền cơ sở và đồng bào dân tộc thiểu số, giúp đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi sâu vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân tộc thiểu số, qua đó góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Năm 2022, toàn vùng Tây Nguyên có 3.433 già làng, người có uy tín, trong đó, tỉnh Kon Tum 678 người, Gia Lai 955 người, Đắk Lắk 1.021 người, Đắk Nông 300 người và Lâm Đồng 479 người. Trước yêu cầu mới, không ngừng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trước mắt, đổi mới chính sách, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, ưu tiên cán bộ là người dân tộc thiểu số, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ năm, tăng cường hoạt động đối ngoại để củng cố, phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước bạn Lào, Cam-pu-chia.

Tăng cường hoạt động đối ngoại với các nước có chung biên giới có ý nghĩa củng cố, phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, thực hiện chính sách mở cửa, mở rộng hợp tác địa phương, giao lưu, hợp tác thương mại biên giới, từ đó phát triển kinh tế vùng biên trên mọi lĩnh vực.

Trên cơ sở các nội dung công tác biên giới giữa Việt Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia,
Ban Chỉ đạo công tác biên giới các tỉnh, các cấp chính quyền địa phương và lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới tại Tây Nguyên cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với nước bạn trong trao đổi thông tin; tăng cường tuần tra song phương, nhằm bảo đảm sự ổn định của đường biên giới, hệ thống mốc biên giới và an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới; giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trên tinh thần hữu nghị, không để tình hình an ninh - chính trị trở nên phức tạp; đẩy mạnh hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa với địa phương đối diện phía Lào và Cam-pu-chia.

Các giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và củng cố tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác phát triển

Một là, quản lý tốt đường biên, mốc giới và bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội khu vực biên giới.

Với Lào, cần quản lý tốt đường biên giới đã được xác lập, phối hợp với bạn xử lý các vấn đề phát sinh trên tinh thần hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào. Mặc dù hai nước đã phân giới cắm mốc toàn bộ đường biên giới và hiện tập trung vào công tác quản lý biên giới, nhưng vẫn còn các vấn đề liên quan đến bảo vệ cột mốc, như bị mốc, hư hại, sạt lở... ảnh hưởng đến sự ổn định, rõ ràng của đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới.

Với Cam-pu-chia, cần quản lý tốt đường biên, mốc giới và thúc đẩy hợp tác tại các khu vực đã hoàn thành phân giới cắm mốc; duy trì quản lý ổn định tại các khu vực chưa hoàn thành phân giới cắm mốc, không để các vấn đề tồn đọng ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Trong những năm qua, ngoài lực lượng chính quy bảo vệ biên giới là bộ đội biên phòng thì phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc giới, an ninh, trật tự thôn, làng đã phát triển rộng khắp ở các tỉnh Tây Nguyên. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy tinh thần toàn dân tham gia bảo vệ biên giới để bảo đảm sự ổn định, bền vững của đường biên giới.

Tình hình khu vực biên giới vùng Tây Nguyên hiện nay vẫn đang tiềm ẩn một số vấn đề phức tạp như tội phạm xuyên biên giới, đặc biệt là tội phạm về ma túy. Các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ hoạt động tuyên truyền, lợi dụng các vấn đề về tự do, dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền kích động cộng đồng người dân tại đây nhằm chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Do đó, việc quản lý đường biên, mốc giới cần gắn với công tác bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội khu vực biên giới. 

Hai là, từng bước giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới đất liền giữa Việt Nam và Cam-pu-chia.

Hiện nay, hai nước còn khoảng 16% số đường biên giới chưa hoàn thành phân giới cắm mốc, trong đó khu vực Tây Nguyên chiếm hơn 50%. Qua nhiều diễn đàn trao đổi ở các cấp, hai bên đều bày tỏ thiện chí giải quyết các khu vực chưa hoàn thành phân giới cắm mốc trên tinh thần phù hợp với luật pháp quốc tế và các điều ước, thoả thuận quốc tế về biên giới lãnh thổ giữa hai nước. Do đó, tiếp tục hoàn thành phân giới cắm mốc khoảng 16% số đường biên giới còn lại là công việc cấp bách trước mắt góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước cũng như quan hệ hữu nghị với Cam-pu-chia.

Ba là, hoàn thiện khung pháp lý song phương về quản lý biên giới, cửa khẩu giữa Việt Nam với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia.

Thúc đẩy việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý song phương về quản lý biên giới và quản lý cửa khẩu biên giới đất liền là điều kiện quan trọng để duy trì một đường biên giới hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Trong thời gian tới, bên cạnh triển khai có hiệu quả “Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào”, hai nước sẽ cùng nhau tổ chức rà soát, đánh giá và tổng kết việc thực hiện Hiệp định theo chu kỳ 10 năm nhằm củng cố hơn nữa khuôn khổ pháp lý song phương về quản lý đường biên, mốc giới và cửa khẩu biên giới sao cho phù hợp với tình hình mới.

Trong quan hệ về quản lý biên giới giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, dù hai nước đã hoàn thành phân giới cắm mốc khoảng 84% số đường biên giới chung, nhưng vẫn khó khăn, lúng túng trong việc phối hợp xử lý các vụ việc phát sinh trên biên giới. Vì vậy, trong việc thực hiện Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Cam-pu-chia năm 2019, cần thúc đẩy sớm triển khai đàm phán với phía Cam-pu-chia để ký kết Hiệp định Quy chế biên giới mới và Hiệp định về cửa khẩu thay thế Hiệp định năm 1983. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức lực lượng, triển khai hoạt động chuyên môn tại khu vực biên giới, góp phần duy trì ổn định trên toàn tuyến cũng như tại các khu vực chưa hoàn thành phân giới cắm mốc, góp phần tạo môi trường ổn định cho hợp tác, phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới, tạo đà để hai nước từng bước giải quyết dứt điểm 16% số đường biên giới chưa hoàn thành phân giới cắm mốc còn lại.

Bốn là, thúc đẩy công tác quản lý và phát triển cửa khẩu, hợp tác phát triển kinh tế vùng biên giới cho phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của địa phương hai bên.

Việc trước mắt, tiếp tục tăng cường công tác quản lý và phát triển cửa khẩu, thúc đẩy kinh tế biên giới thông qua: Quy hoạch và phát triển hệ thống cửa khẩu, các khu vực kinh tế trọng điểm trên khu vực biên giới cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng kết nối nhằm đẩy mạnh giao thương, tạo sự đan xen chiến lược cũng như hiện thực hóa chiến lược hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với các nước láng giềng.

Đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế vùng biên giới phù hợp với thực tế và nhu cầu của địa phương hai bên có ý nghĩa thúc đẩy giao thương phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh biên giới nói riêng và hai nước nói chung. Đặc biệt là, quá trình tăng cường hợp tác trong “Tam giác phát triển” sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh khu vực biên giới ba nước. Đây là nhân tố rất quan trọng cho sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới và ở mỗi nước.

Năm là, tăng cường xây dựng các công trình vừa bảo đảm mục tiêu quốc phòng - an ninh, vừa phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội dọc theo tuyến biên giới Tây Nguyên nhằm khai thác tiềm năng đất đai và tạo thế chiến lược về quốc phòng - an ninh trên địa bàn. Thông qua các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia, kết cấu hạ tầng (cầu, đường giao thông, hệ thống lưới điện, các trạm quân - dân y kết hợp, tuyến đường tuần tra, công trình phòng thủ) khu vực biên giới Tây Nguyên được tập trung đầu tư xây dựng, vừa phục vụ dân sinh xã hội, phát triển sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng - an ninh.

Xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển là mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định và quyết tâm thực hiện nhất quán, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, do đó, phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới Tây Nguyên luôn gắn liền với xây dựng đường biên giới hữu nghị, hòa bình, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia càng trở nên quan trọng. Để phát huy vị trí tiềm năng của vùng, các tỉnh Tây Nguyên cần thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; tổ chức thực hiện hiệu quả công tác biên giới; phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; và triển khai tốt hoạt động đối ngoại với các tỉnh các nước láng giềng. Thực hiện tốt công tác biên giới không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Nguyên nói riêng, khu vực “Tam giác phát triển”, mà còn tạo động lực cho sự nghiệp duy trì và củng cố đường biên biên giới với các nước bạn Lào, Cam-pu-chia luôn hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững./.

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG SẼ THĂM CHÍNH THỨC NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA!

     Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 30/10 đến ngày 2/11/2022. 
     Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm chính thức nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày 30/10 đến ngày 2/11/2022./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 25 THÁNG 10 NĂM 1951!

     “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”!
     Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường chính trị trung cấp Quân đội (nay là Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng) nhân dịp Người về thăm trường ngày 25 tháng 10 năm 1951.
     Bác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và quân đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm chiến đấu hy sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ đúng với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội của giai cấp vô sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng quân đội của ông cha ta, như “hun đúc bằng những điều nhân nghĩa” cho quân đội. Hơn cả, là sự phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh.
     Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; đáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình chống phá cách mạng nước ta, cổ xúy cho cái gọi là: “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi đảng phái”, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn lời dạy của Người về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam… để dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2022

Xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam - điều vô lý, không thể chấp nhận

 Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân.

XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong.

3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”.

Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

Chủ động phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 Bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt để triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển thành: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.

1. Quan điểm BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là hoàn toàn đúng đắn, xuất phát từ bài học kinh nghiệm được đúc kết từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đồng thời thể hiện bước phát triển quan trọng từ thực tiễn và lý luận của Đảng về quốc phòng, an ninh (QPAN), đối tác, đối tượng, về BVTQ trong tình hình mới.

Từ xưa đến nay, đất nước ta đã áp dụng nhiều biện pháp, như: Tích cực hoạt động bang giao, giữ hòa khí với các nước láng giềng, tránh chiến tranh khi còn có thể; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng quân đội, tiềm lực quốc gia; giữ vững biên giới; thực hiện kế sách khoan thư sức dân... Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, Việt Nam cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.

Thực tế cho thấy, BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Kế sách này được vận dụng sáng tạo, linh hoạt thông qua việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và "thế trận lòng dân"; thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội... Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động không ngừng chống phá kế sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp để đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá này. Đặc biệt, ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Tiếp đó, ngày 4-6-2019, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 53-KL/TW về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Hai văn bản này tạo khuôn khổ phối hợp đồng bộ, có hiệu quả giữa các cơ quan làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

2. Việc đặt ra yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, góp phần BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy xuất phát từ đánh giá, nhận định thấu đáo của Đảng ta về tình hình trong nước, những diễn biến mới và thay đổi nhanh chóng trên thế giới; phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch.

Về tình hình trong nước. Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn mà không ai có thể phủ nhận, như Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”; song vẫn còn tồn tại những hạn chế, khiếm khuyết, như: Sự phân hóa giàu nghèo, khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng miền, vẫn còn nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực... Các thế lực thù địch, phản động luôn tận dụng những hạn chế, khuyết điểm này để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết liệt chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Về những diễn biến mới và thay đổi nhanh chóng trên thế giới. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thay đổi rất mau lẹ, khó đoán định với nhiều xu hướng đáng quan ngại nổi lên (như chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, trào lưu dân túy, sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ...) đặt ra hàng loạt thách thức đối với các quốc gia. Không gian lựa chọn chiến lược của Việt Nam bị thu hẹp dưới tác động của thay đổi địa chính trị quốc tế, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các nước lớn. Bối cảnh mới đòi hỏi Việt Nam phải duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước để tránh đối đầu, trở thành nạn nhân của xung đột vũ trang và chiến tranh.

Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một không gian chiến lược mới-“không gian mạng”. Đây là môi trường chủ yếu, không thể thiếu trong triển khai các chiến lược, quan hệ đối ngoại, củng cố, duy trì hoạt động kinh tế-xã hội của các quốc gia, đưa tới những chuyển biến sâu sắc về mọi mặt, trong đó có những phương tiện và phương thức bảo đảm QPAN, BVTQ, tạo ra những thách thức mới...

Trong thế giới phẳng hiện nay, người dân được tiếp cận thông tin rất nhanh và phong phú, đa chiều, cả mặt thuận và mặt trái, trong đó nhiều thông tin không được kiểm chứng. Những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo trên không gian mạng tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân và sự nghiệp QPAN, BVTQ.

Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch không ngừng thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đặc biệt là tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ để tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Không gian mạng đã được chúng tận dụng triệt để với quy mô, mức độ, đối tượng rộng khắp và rất khó kiểm soát. Các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối chủ yếu sử dụng mạng xã hội để tung tin xấu độc, tán phát tài liệu, quan điểm sai trái nhằm tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước thực hiện âm mưu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Theo báo cáo của Bộ Công an, chỉ riêng năm 2020 đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu độc, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video clip có nội dung chống phá, hòng làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động cố tình tung nhiều thông tin không có lợi cho chính sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước ta. Ví như chúng thường lợi dụng những sự việc trên Biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động chiến tranh và gây chia rẽ, bất ổn trong nước; đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải xem xét lại chính sách đối ngoại theo hướng tẩy chay nước này, dựa vào nước khác... Đây là những luận điệu phản động rất nguy hiểm, cố tình phá hoại chính sách đối ngoại, quốc phòng của Việt Nam theo nguyên tắc vừa đạt được mục tiêu BVTQ vừa giữ được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

3. Dự báo, hoạt động chống phá của các đối tượng phản động, chống đối sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát hơn trong thời gian tới. Vì vậy, để chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, gây tổn hại tới chính sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước và toàn dân, toàn quân ta; đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi đường lối BVTQ từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, các cơ quan nghiên cứu lý luận, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần chủ động hơn nữa trong công tác nghiên cứu chiến lược, nắm chắc tình hình, diễn biến trong và ngoài nước, cụ thể như: Các xu hướng vận động của thế giới và khu vực, nhất là khu vực ASEAN, Biển Đông; phân tích kỹ những cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; những diễn biến trên thế giới để chỉ rõ những tác động đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ... Trên cơ sở đó, chuẩn bị các luận cứ khoa học phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái; hoàn thiện chiến lược BVTQ, nhất là kế sách chủ động BVTQ từ trong thời bình; tập trung phát triển, hoàn thiện lý luận BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trong tình hình mới.

Hai là, tăng cường thông tin, tuyên truyền để đạt được thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Để thực hiện được điều này, Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, ngành cần thường xuyên cập nhật kiến thức về BVTQ trong tình hình mới; xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên và cập nhật thường xuyên tài liệu tuyên truyền công khai về các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm theo hướng dễ đọc, dễ hiểu... để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.

Ba là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu, nắm thật chắc tình hình tư tưởng, các xu hướng xã hội, đặc biệt là những vấn đề, sự kiện nhân dân quan tâm để kịp thời thông tin, định hướng dư luận có nhận thức đúng; không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng "khoảng trống thông tin" để xuyên tạc, kích động; tránh để người dân vì tò mò mà tìm cách tiếp cận thông tin xấu độc, thiếu kiểm chứng... Thực tế cho thấy, đây là việc hết sức quan trọng, bảo đảm giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phòng, chống tư tưởng, tâm lý dao động, mất lòng tin trong nhân dân và dẫn tới “tự diễn biến”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng.

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ cho các đối tác, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để họ hiểu đúng, hiểu toàn diện, tránh cách nhìn phiến diện, thiên lệch về tình hình tại Việt Nam; không để các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng cung cấp thông tin một chiều, không đúng thực tế, gây bất lợi cho Đảng, Nhà nước ta, nhất là trong thực hiện kế sách BVTQ từ sớm, từ xa.

Năm là, luôn theo dõi sát, nắm bắt kịp thời các dạng quan điểm sai trái và những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhằm chủ động trong đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả. Đồng thời, cần đổi mới phương thức đấu tranh trên các mặt pháp lý, truyền thông, tuyên truyền, đặc biệt là về mặt kỹ thuật. Lực lượng chuyên trách các cấp cần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn thông tin sai trái, tội phạm mạng...; tăng cường số lượng, chất lượng thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin xấu độc.

Sáu là, chủ động phát hiện sớm và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, nổi cộm phát sinh, những vấn đề bức xúc trong xã hội; không để các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền chống phá, không để các vụ việc phức tạp kéo dài, phát triển ngoài tầm kiểm soát, gây ra tâm lý hoài nghi, giảm lòng tin trong quần chúng nhân dân đối với các cấp chính quyền và Đảng, Nhà nước ta.

Bảo vệ không gian mạng - yêu cầu cấp thiết

 Thời gian qua, tình hình an toàn, an ninh mạng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát đối với các nước.

Ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng triệt để không gian mạng để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân. Vì vậy, nâng cao nhận thức trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng là hết sức quan trọng và cấp thiết...

Lợi ích và các thách thức

Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian.

Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người.

Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân.

Không những thế, không gian mạng đang trở thành và là môi trường trong một hình thái tác chiến mới, đó là tác chiến không gian mạng. Nó đang tạo ra các nguy cơ về chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với sự tham gia của mọi đối tượng trên môi trường mạng bao gồm: Các nhóm tin tặc được nhà nước tài trợ; các nhóm tin tặc chuyên nghiệp, phi chính phủ; các nhóm Script Kiddies (hacker nghiệp dư)...

Theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (trong tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn không gian mạng Việt Nam-Vietnam Security Summit 2022 diễn ra ngày 23-6-2022): Tội phạm mạng có xu hướng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại, nhiều tính năng phức tạp khiến cho việc phát hiện và xử lý hậu quả của những cuộc tấn công trở nên phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn. Những cuộc tấn công mã độc kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng công nghệ giả lập hành vi của người dùng, để tấn công vào các hạ tầng trọng yếu, các chuỗi cung ứng, nhà máy... đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Đẩy mạnh tuyên truyền, xác định rõ trách nhiệm

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị...

Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học.

Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng...

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm.

Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng.

Vũ khí sắc bén chống luận điệu sai trái, xuyên tạc

 Hiện nay các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá nước ta khi liên tục vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta; và cho rằng Việt Nam chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội là sai lầm,… Trong bối cảnh đó, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trở thành vũ khí sắc bén chống lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc đó.

Đã minh định mọi vấn đề về lý luận và thực tiễn

Thực tiễn cuộc sống đã chứng minh việc Đảng và nhân dân ta chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng là phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và điều kiện cụ thể của Việt Nam; là hướng đi đúng đắn, không thể phủ nhận và cũng là khát vọng của nhân dân. Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã minh định mọi vấn đề về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tiếp tục khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh cả xương máu để đấu tranh, giữ gìn và khát khao hướng tới. Bài viết đã nhấn mạnh: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”.

Từ đó, bài viết phân tích: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội… Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

Đây cũng là những mong ước tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, kiên định, Thực tiễn cuộc sống đã chứng minh

Bao nhiêu năm nay các kênh thông tin ở nước ngoài như BBC, RFA, RFI, VOA,… và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân thường xuyên đăng những thông tin xuyên tạc chủ trương đường lối, bôi nhọ lãnh tụ và lãnh đạo cấp cao của Đảng ta, phủ nhận thành quả cách mạng và công cuộc xây dựng phát triển đất nước của nhân dân ta,... Họ đã chọn phục vụ cho những người luôn muốn chống phá Việt Nam, bất mãn chính trị nên đã thông tin thiếu thiện chí, không khách quan, không trung thực về Việt Nam. Có những kênh đã được thành lập từ rất lâu nhưng đến nay khi được nhắc đến tên là người ta nghĩ ngay đến “đặc sản” chống phá Việt Nam của họ. Và vì vậy họ đã không tôn trọng độc giả và có lỗi với chính độc giả của mình khi cố tình thông tin sai sự thật, thiếu thiện chí về Việt Nam.

Các thế lực thù địch thì cho rằng Việt Nam đi theo chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại, không thể tồn tại nhưng thực tiễn cuộc sống đã chứng minh điều ngược lại. Rõ ràng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam khi mà các mặt của đời sống như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo,… đều phát triển; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm, kiên quyết kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước; đối ngoại theo hướng đa phương hóa đa dạng hóa, phát huy bản sắc văn hóa ngoại giao “cây tre Việt Nam” “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; đời sống của nhân dân không ngừng được nâng lên…

Trong bài viết của Tổng Bí thư có nêu: “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008… Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước)”. “Xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây”.

Bài viết cũng lý giải khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội... Đây cũng là ví dụ cụ thể trong cách vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn của Đảng ta. trì theo đuổi.

Mở toang mọi cánh cửa, làm sáng tỏ mọi vấn đề

Bằng cách kiến giải từ cơ sở lý luận gắn với thực tiễn cuộc sống, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng như mở toang mọi cánh cửa, làm sáng tỏ mọi vấn đề mà trước đây nhiều người vẫn chưa thể lý giải được những điểm còn khác biệt giữa lý luận và thực tiễn cuộc sống. Đồng thời chỉ rõ sự vô căn cứ của các thế lực thù địch vẫn hay lợi dụng để vin vào đó mà vu khống.

Bằng cách lập luận khoa học chặt chẽ và dẫn chứng cụ thể từ thực tiễn sinh động của cuộc sống bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng tái khẳng định việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, trở thành vũ khí sắc bén đập tan mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hòng chống phá cách mạng Việt Nam, gây chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để hiểu rõ, tin tưởng và kiên định vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; giải tỏa được các thắc mắc, hoài nghi, có thêm sức mạnh và cơ sở đấu tranh trực diện với các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Kiến giải thực tiễn cuộc sống và thực chứng hệ lý luận chính trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị và sức sống tại Việt Nam cho đến hôm nay. Bài viết vì thế trở thành ngọn cờ đầu cổ vũ tinh thần chiến đấu với các luận điệu sai trái, thù địch; bồi đắp tình cảm cách mạng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Chính vì thế, suốt hơn 90 năm qua, Đảng đã xác lập, củng cố, ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín của Đảng. Thực tế, từ ngày có Đảng đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị đô hộ, áp bức bóc lột và sự xâm lược của thực dân, đế quốc trở thành một nước độc lập, không ngừng phát triển. Sinh thời Bác Hồ cũng từng nói: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác[1].

Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Người Việt Nam có truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, thủy chung, sống có nghĩa, có tình, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cần cù, thông minh, sáng tạo. Ngày nay, vị thế và uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng lên trên trường quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với các nước, trở thành hình mẫu về sự phát triển vươn lên của nhiều nước trên thế giới.