Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

XỬ LÝ NGHIÊM MỌI HÀNH VI LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ

    Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật (Điều 24).
    Nhìn tổng quát có thể khẳng định rằng, trong quá trình dựng nước và giữ nước, tín ngưỡng và các tôn giáo đã kề vai, sát cánh, đoàn kết một lòng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhận định: Tình hình tôn giáo ổn định, đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo.
    Để có được những thành quả đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của các chức sắc, chức việc tôn giáo. Tính đến hết năm 2020, cả nước có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc và trên 26,5 triệu tín đồ. Các chức sắc, chức việc là một lực lượng nòng cốt, xương sống và có uy tín, tác động to lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến quần chúng tín đồ của các tôn giáo. Thực tế cho thấy, đại đa số chức sắc, chức việc tôn giáo đã làm tốt việc đạo, việc đời, gương mẫu, tích cực tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tín đồ “sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
    Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong tín ngưỡng và các tôn giáo còn nhiều mặt còn hạn chế, nhất là công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng; vai trò gương mẫu của các chức sắc, chức việc tôn giáo. Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước, một số vị chức sắc, chức việc tôn giáo đã có những lời nói, việc làm trái đời, ngược đạo. Đặc biệt, một số đối tượng đứng đầu các giáo xứ đã núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo” để lái hoạt động của các giáo xứ đi ngược với quy định pháp luật, bất chấp những lời răn dạy tốt đẹp trong giáo lý để thực hiện mưu đồ chính trị.
    Nhân dịp kỷ niệm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 vừa qua, thay vì phải làm những điều đúng với chức phận của một cha xứ gương mẫu tham gia các hoạt động để răn dạy giáo dân thì một số vị linh mục lại làm ngược lại. Họ xúi dục đảng viên gốc giáo bỏ Đảng, yêu cầu giáo dân không treo cờ Tổ quốc. Nhân dịp khai giảng năm học mới, lợi dụng chủ trương cải cách giáo dục, chương trình sách giáo khoa mới, một số linh mục thông qua rao giảng trên nhà thờ nghiêm cấm học sinh đến trường, không tham gia đóng góp các khoản xây dựng trường lớp theo quy định, nếu học sinh, phụ huynh nào không nghe lời sẽ bị tẩy chay khỏi giáo xứ, không được đến nhà thờ làm lễ... Tại một số địa phương, nhất là các tỉnh miền Trung, một số linh mục còn kích động, xúi giục giáo dân thực hiện các hành vi gây rối trật tự công cộng, tụ tập trái phép, lấn chiếm đất công để cơ nới, xây dựng nhà thờ. Tại một số công trình, dự án, khu công nghiệp… một số vị linh mục lợi dụng tôn giáo để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, bóp méo, xuyên tạc đưa thông tin sai lệch cho các cá nhân, tổ chức thù địch ở nước ngoài để đánh giá không khách quan về tự do tôn giáo ở Việt Nam, tạo diễn đàn để các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí xuyên tạc, vu khống Việt Nam.
    Các vị linh mục như đã nói luôn đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng với những hành động như vậy, chính các vị linh mục ấy đã vi phạm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
    Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Nhưng cũng như các quyền khác, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô hạn. Hoạt động của các tôn giáo phải tuân thủ theo hiến pháp, pháp luật. Tôn giáo không thể đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Trong khi đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc thì những việc làm của các vị linh mục như đã nói càng trở nên lạc lỏng, không phù hợp với tinh thần, nguyên tắc thượng tôn pháp luật mà bất cứ công dân, giáo dân nào cũng phải thực hiện.
    Nhà nước Việt Nam khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và mỗi công dân có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng phải bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Thực chất hành động của các vị linh mục như đã nêu là hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện mưu đồ chính trị. Các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam sẽ xử lý nghiêm những đối tượng lợi dụng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của đất nước, xâm phạm sự bình yên của người dân./. 

THẤM NHUẦN “TƯ CÁCH MỘT NGƯỜI CÁCH MỆNH” ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA

    Tác phẩm Đường Kách mệnh (bìa cuốn sách xuất bản năm 1927 là chữ "Kách", sau này đã dùng chữ "Cách"- Đường Cách mệnh) không phải là cuốn sách chuyên viết về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song trên thực tế được xem như tác phẩm đầu tiên của Người nói về đạo đức cách mạng
Thấu hiểu sâu sắc lời dặn của cổ nhân: Đạo đức là gốc rễ, tài là ngọn cành, người cách mạng muốn hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó thì tất yếu phải có đủ cả hai đức tính quý báu đó, nên "Tư cách một người cách mệnh" được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra cụ thể trong 23 điều sau:
    Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[1].
    Nội dung 23 điều này bao gồm 3 mối quan hệ mật thiết với nhau (với tự mình; với người và với công việc), hàm chứa trong đó tinh thần đạo đức truyền thống của dân tộc và đạo đức mới của thời đại - Đó là đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Đường Cách mệnh, những chuẩn mực và yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên ngày càng được Người nêu đầy đủ hơn trong các bài nói, bài viết sau này, như: Người cán bộ, đảng viên phải "cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư", phải "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng",  phải "trung với nước, hiếu với dân",v.v.. Sau đó, Người đã cụ thể những yêu cầu về đạo đức cách mạng thành: phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”, phải “đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, phải “suốt đời đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân”…
    Với nội dung ngắn gọn trong "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ nhận thức sâu sắc vai trò của đạo đức; yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng mà còn coi đạo đức là gốc, là nền tảng, liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Thể hiện rõ trên 3 mối quan hệ, nên tuy ngắn gọn, song 23 điều này đã chỉ rõ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên cần phải có. Đó là, trong mọi lĩnh vực công tác cũng như cuộc sống đời thường, trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, người cán bộ, đảng viên đều:
    - "Tự mình phải” chính là thái độ, hành vi đầu tiên mà người cán bộ, đảng viên phải chú trọng rèn luyện. Bởi đó vừa là yêu cầu vừa là mệnh lệnh, đồng thời cũng là những chỉ dẫn phải được thực hiện và thực hiện nghiêm túc suốt đời. Đây không chỉ là vấn đề đặc biệt quan trọng, quyết định tới tư cách của một người cách mệnh mà còn là yêu cầu đối với sự mẫu mực nêu gương về đạo đức của người cán bộ, đảng viên. "Đối người phải” là nguyên tắc ứng xử của người cách mạng với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp của mình và đối với với quần chúng nhân dân, để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. "Làm việc phải” là trí tuệ, bản lĩnh, phong cách công tác của người cán bộ, đảng viên trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; thể hiện rõ vai trò, tinh thần trách nhiệm của mình trước trọng trách được giao. Ý nghĩa của những điều trong "Tự mình phải", "Đối người phải" và "Làm việc phải" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra không chỉ bao hàm những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan và thế giới quan cách mạng, về ý thức và phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân, mà còn đồng thời khẳng định rằng: Đạo đức cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên chân chính, tiến tới xây dựng Đảng Mácxít cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
    Thông qua "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một người cách mạng, người đảng viên cộng sản khi đã dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, muốn hoàn thành được trọng trách của mình trước Tổ quốc và nhân dân thì trước hết, đầu tiên phải có đạo đức cách mạng, phải rời xa chủ nghĩa cá nhân. . Thực tế cho thấy rằng, vấn đề trọng yếu này đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Bởi vì trong điều kiện lịch sử mới, để Đảng luôn xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, danh dự và lương tâm của cả dân tộc; để Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích, lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người thì Đảng càng phải chú trọng vấn đề đạo đức. Đồng thời, cán bộ, đảng viên càng phải nỗ lực rèn luyện về đạo đức cách mạng, càng phải nghiêm cẩn thực thi các nguyên tắc xây dựng Đảng và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân để quyền lực cùng những đặc quyền, đặc lợi của nó không làm tha hóa, không làm biến chất, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Từ những tiềm ẩn về nguy cơ suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"[2], mà Người còn nhấn mạnh Đảng cầm quyền càng phải chú trọng công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cụ thể, Người khẳng định trong tác phẩm Sửa đối lối làm việc (1947): "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì"[3] và trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (1958): "Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh, mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang"[4].
    Từ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, có thể thấy rằng, dù nêu ra ở những thời điểm khác nhau, song trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đạo đức cách mạng nói chung, đặt lên hàng đầu việc mỗi người cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân nói riêng, để bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật; để sâu sát thực tế, hướng về nhân dân, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm tốt mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó luôn là nhất quán. Điều đó cũng có nghĩa là, trong hoàn cảnh nào cũng vậy, còn hoạt động bí mật hay khi đã trở thành Đảng cầm quyền, thời chiến hay thời bình, thì việc tu dưỡng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên cũng cần phải tập trung vào 3 mối quan hệ "Tự mình phải", "Đối người phải" và "Làm việc phải" và đó cũng chính là gắn đạo đức cách mạng với thực tiễn cuộc sống, với văn hoá và sự phát triển, để người cán bộ, đảng viên xứng đáng với trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ của nhân dân; vừa là chính mình vừa là tấm gương đạo đức để quần chúng nhân dân tin tưởng, ủng hộ.
                                          Theo TS. Văn Thị Thanh Mai, Ths. Dương Thị Bích
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.280-281
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.292-293
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.601

Tập trung dân chủ là nguyên tắc căn bản của một Đảng Mácxít-Lêninnit

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"[1]; và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”[2]. Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

Thực tế cũng cho thấy, tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản (trong tổ chức và hoạt động) của Đảng, để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng phái chính trị khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng, không thể tách rời, vì tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ thành tập trung quan liêu, độc tài; còn dân chủ đúng đắn phải dựa trên cơ sở tập trung, dân chủ mà tách rời tập trung sẽ thành vô chính phủ. Tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ được kiểm soát trong khuôn khổ, chứ không phải là tập trung độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là để toàn thể đảng viên tư tưởng và hành động đều thống nhất, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Còn dân chủ được thực hiện và là bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, để tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức. Dân chủ nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng (được bày tỏ chính kiến, thông tin, thảo luận, tranh luận, bảo lưu ý kiến trong tổ chức) để bàn bạc và đi đến thống nhất về quan điểm, chủ trương… không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, khi tổ chức đảng đã có nghị quyết thì tất cả đảng viên đều phải nói và làm theo nghị quyết.

Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản; trong đó, thiểu số phục tùng đa số (nội dung cốt lõi, đặc trưng của dân chủ trong Đảng), cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức đảng trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trên thực tế, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - coi đó là nguyên tắc số một, bất di bất dịch.

Theo đó, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; đồng thời, luôn có cơ chế để nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm trên tinh thần "thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp uỷ. Tạo mọi điều kiện cần thiết để mỗi cấp uỷ viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người”[3], nhằm "tránh lối cá nhân độc đoán chuyên quyền" hoặc "tránh lối ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm" mà không dám quyết đoán khi cần phải ra quyết định. Đồng thời, việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng.

Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định và vì thế, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng chính là biểu hiện của tính tiền phong, chiến đấu của Đảng. Vì thế, bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho rằng, nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ, ắt phải từ bỏ tập trung thì đều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.620

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.620

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.629

Thực hiện nghiêm ngặt tập trung dân chủ để Đảng thống nhất trong tổ chức và hoạt động

Đảng Cộng sản Việt Nam là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể đễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”[1].

Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”[2]. Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng, lạm dụng quyền lực của mình (được bầu, được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân, nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”[3].

Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đàng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

Trong 77 năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[4]

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 90 năm qua. Đó là sự thật và sự thật này đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế.

Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì thế, bất cứ sự buông lỏng nào trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng!

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.50, tr.507

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.839

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.470

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.232

 


PHẢN BIỆN XÃ HỘI!

Phản biện xã hội phải rạch ròi, công minh
Lấy xây dựng gắn nghĩa tình đất nước
Không được vô ơn thế hệ đi trước
Lịch sử bôi đen, lội nước ngược dòng.

Phản biện cần suy xét, cân đong
Đừng nóng vội, lòng vòng, cẩu thả
Trước sự việc đừng ba hoa, vội vã
Trắng thay đen, nước lã hoá máu đào.

Phản biện xã hội đạo đức phải đề cao
Chớ nguỵ biện để kêu gào, khóc mướn
Nguồn gốc phải truy, xét soi hiện tượng
Đừng ta đây, thánh tướng dạy đời.

Đồng bào mình còn khốn khó muôn nơi
Cả đất nước vẫn sáng ngời nghĩa cả
Tình bí bầu sẻ chia vô giá
Lá rách đùm lòng dạ vẫn vui.

Phản biện buồn thay mấy kẻ thầy dùi
Tâm độc địa, mắt đui, đầu rỗng
Chúng đặt điều, nói lời vu khống
Chửi chính quyền Việt cộng đần ngu. 

Lợi dụng khó khăn chúng tung hoả mù
Nhà nước đừng tin, một xu đừng góp
Hình ảnh đạo, chữ thì quay cóp
Dẫn dụ dân mình bằng mật ngọt yêu thương.

Phải vạch mặt, chỉ tên, lôi ra pháp trường
Đám phản biện chống chủ trương của Đảng
Những kẻ a dua thẳng thừng lên án
Để đất nước mình rỡ rạng, bình yên./.
Yêu nước ST.

Tự phê bình và phê bình - giải pháp cơ bản khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Trong Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ tư (khóa XIII), về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cùng với tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần thực hiện mục tiêu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, nó là “giặc nội xâm”, kẻ thù ở trong lòng mỗi con người, muốn chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, một trong những biện pháp rất quan trọng là phải tự phê bình và phê bình, Người coi “thang thuốc tốt nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa một cách thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày” và phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống suốt đời. Điều đặc biệt hơn, Người luôn căn dặn rất kỹ về mục đích, cách (phương pháp) tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn; để đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Người còn nhấn mạnh, muốn chưa khỏi bệnh cá nhân chủ nghĩa, tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải lấy lòng nhân ái, thành thật để phê bình đồng chí mình. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm; không “thâm thọc, mỉa mai”, “bới bèo ra bọ, vạch lá tìm sâu”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người; hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và phải sửa chữa cho bằng được… làm được như thế thì sẽ sớm chữa được bệnh cá nhân chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và như thế “Đảng cũng khỏe mạnh vô cùng”.

Thấm nhuần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cần thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để nhận biết rõ những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Muốn nhận thức nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Kết luận số 21-NQ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Quy định về những điều đảng viên không được làm”. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, tiếp tục quán triệt, nghiên cứu, học tập nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trong đó, nghiên cứu kỹ, nắm chắc 5 phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và 10 biểu hiện nhận diện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã thống nhất. Có như vậy mới nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa cá nhân và sự cần thiết, cấp bách phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức cách mạng.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự phê bình và phê bình kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người, nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, nó cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hàng ngày, trước, trong và sau mỗi khi thực hiện nhiệm vụ hoặc ra quyết định nào đó. Từ trong suy nghĩ, hành động phải xem xét thật kỹ lưỡng suy nghĩ ấy, hành động ấy có vướng vào những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân hay không. Phải thiết thực, chân thành lắng nghe ý kiến phê bình thật thà của đồng chí đồng đội, từ đó nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm và biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời, phấn đấu thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức đảng trong thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tế bào của Đảng, đều sinh hoạt trong một tổ chức đảng nhất định. Vai trò, chức năng của các tổ chức đảng là quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua các chế độ sinh hoạt, trong đó tự phê bình và phê bình là một chế độ, đồng thời là vấn đề quy luật trong xây dựng và phát triển Đảng. Do đó, thực hiện một cách có hiệu quả, thường xuyên, liên tục chế độ tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhận ra những khuyết điểm, những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, giao nhiệm vụ, xác định thời gian sửa chữa cho cán bộ, đảng viên, giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Các tổ chức đảng, nhất là chi ủy, chi bộ phải phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thông qua các chế độ sinh hoạt như: sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Trong đó, nêu cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng, phương pháp công tác của bí thư cấp ủy, nhất là trong khơi dậy tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng của mỗi cán bộ, đảng viên.

                                                                                                          ST PQ

Đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay

 

Với dã tâm thâm độc và lòng hận thù dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm kích động tín đồ, nhân dân tham gia các hoạt động gây rối, biểu tình và coi đó như “ngòi nổ” để mở đường thúc đẩy hoạt động phá hoại trên các lĩnh vực khác. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn hoạt động này là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong những năm qua, đại đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu đổi mới của đất nước; tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở nước ta. Họ dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”… Họ đưa ra chiêu bài đòi “tự do tôn giáo”, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở Tây Bắc; “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên với “Tin lành Đề ga” làm quốc đạo… hòng kích động, chia rẽ các tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của ta. Cụ thể là:

Một là, các thế lực thù địch lợi dụng xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế cũng như thông qua hoạt động tài trợ kinh tế, từ thiện, các tổ chức phản động ngoài nước đã chuyển tài liệu tôn giáo có nội dung phản động vào trong nước với mục đích xuyên tạc bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, vu khống về chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước nhằm tạo cớ can thiệp sâu vào công việc nội bộ nước ta. Đồng thời, chúng đẩy mạnh các hoạt động gây dựng lực lượng chống đối ở trong nước nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo dựng những nhân tố tiến tới chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Hai là, chúng âm mưu thúc đẩy sự liên kết hoạt động giữa các tôn giáo (liên tôn); phối hợp chặt chẽ với các lực lượng phản động, cơ hội chính trị trong nước để tạo dựng ngọn cờ, hình thành lực lượng đối lập, làm “đối trọng” với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, làm sầm uất xứ đạo, khuyếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để tập hợp lực lượng và dẫn dắt đồng bào thực hiện mưu đồ chính trị phản động của chúng.

Nổi bật trong thủ đoạn trên, trong những năm gần đây, trên địa bàn Tây Bắc và Tây Nghệ An, các thế lực thù địch đã ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra đạo “Vàng Chứ” để thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Vùng Tây Nguyên, chúng đòi thành lập đạo Tin Lành Đềga với mưu toan là cơ sở cho ý đồ thành lập “Nhà nước Đềga độc lập”. Ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khơ me sinh sống, chúng chủ trương dựng nên “Nhà nước Khơ me Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp hệ Phật giáo Nam tông Khơ me Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Ba là, bằng nhiều thủ đoạn và chiêu trò thâm hiểm, xảo quyệt, chúng từng bước xúc tiến việc nắm quyền điều khiển các tổ chức tôn giáo để biến những tổ chức này thành các tổ chức chính trị, đảng chính trị để làm chỗ dựa, “núp bóng” cho các hoạt động phá hoại và mưu đồ phản động. Chúng triệt để lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để phê phán, xuyên tạc, bôi nhọ hòng hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, họ đòi tôn giáo phải độc lập, không chịu sự quản lý của Nhà nước; tâng bốc, ca ngợi “tự do tôn giáo” ở các nước tư bản; yêu cầu Nhà nước ta “công nhận” hoạt động của các tổ chức tôn giáo giả hiệu như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Tin lành Đềga, Vàng Chứ, đạo Hà mòn,…; đòi thả các “tù nhân tôn giáo” - những kẻ đội lốt tôn giáo vi phạm pháp luật; kêu gọi Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo”,...

Để đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù; giữ vững môi trường an ninh trật tự, đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong tình hình hiện nay, công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước cần tập trung làm tốt những nhiệm vụ cơ bản:

Trước hết, cần tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo. Từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật về tôn giáo cũng như hướng dẫn về thực hiện công tác tôn giáo đối với từng địa bàn cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới. Đồng thời, phải tiến hành có hiệu quả các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tại những vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo nhằm tạo ra môi trường ổn định và nền tảng vững chắc cho việc thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong đồng bào các tôn giáo.

Thứ hai, cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, xem xét, giải quyết việc cấp đăng ký hoạt động tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo để thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phải phát huy cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội trong tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước đến các chức sắc, chức việc cũng như đến mỗi tín đồ các tôn giáo. Vận động chức sắc, chức việc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo” thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Cùng với đó, phải tập trung giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc, nảy sinh trong công tác tôn giáo như: vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Cùng với đó, phải kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.

Thứ ba, cần tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) trong tuyên truyền, vận động và làm nòng cốt cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là đồng bào tín đồ các tôn giáo nhận diện và tố giác âm mưu cùng các hành vi, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước.

                                                                                                          ST PQ

Đấu tranh với các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội hiện nay


          1. Sự phát triển và tác động đa chiều của mạng xã hội ở Việt Nam

Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng quy định: mạng xã hội là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin, bao gồm: dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các dịch vụ khác. Mạng xã hội có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, song đều ứng dụng nền tảng Internet, nội dung do người dùng tự sáng tạo, chia sẻ.

Mạng xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000 và phát triển với tốc độ nhanh chóng, dần trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Hiện nay, không chỉ những người trẻ tuổi, có trình độ công nghệ thông tin mới sử dụng mạng xã hội như một công cụ làm việc, kết nối liên lạc, giải trí, cập nhật tin tức, quảng cáo, bán hàng online… mà ngay cả người già, thậm chí trẻ em cũng vào mạng xã hội để tìm kiếm thông tin, kết nối bạn bè và giải trí. Sự phổ biến nhanh chóng của mạng xã hội đưa đến cả tác động tích cực và tiêu cực, bên cạnh những lợi ích không nhỏ là những hệ lụy khôn lường nếu không biết cách sử dụng, quản lý. Điều này đặt ra vấn đề cấp thiết trong công tác quản trị, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch ra sức lợi dụng mạng xã hội để thực hiện nhiều chiêu trò và phương thức tinh vi, nguy hiểm nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Trên thực tế, một số người thiếu ý thức và trách nhiệm với cộng đồng đã sử dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng xấu đến ổn định xã hội. Một số trang mạng sử dụng các chiêu trò xuyên tạc, thổi phồng sự việc, bóp méo bản chất vấn đề, kích thích trí tò mò của công chúng, gây chia rẽ nội bộ, hoài nghi trong dư luận. Một số tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai lệch, lợi dụng các tiện ích của mạng xã hội để thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, từ đó định hướng dư luận, thậm chí truyền bá lối sống ích kỷ, bạo lực, lừa đảo trên mạng, khiến một bộ phận thanh niên lệch chuẩn trong lối sống. Nếu trước kia, người dân tôn vinh những anh hùng dân tộc, anh hùng trong lao động sản xuất, chiến đấu hoặc là các danh nhân văn hóa… thì hiện nay một số người trẻ tuổi lại mất phương hướng, thần tượng những người vi phạm pháp luật, với những hành vi sai trái, lệch chuẩn trên mạng xã hội.           Một tội phạm như Ngô Bá Khá (Khá Bảnh) khi ra hầu tòa lại được chào đón như một “người hùng”, là “thần tượng” của một bộ phận giới trẻ với những phát ngôn lệch lạc, kiếm tiền bằng các hành vi vi phạm pháp luật, sử dụng bạo lực để thể hiện sức mạnh... Sự hâm mộ cuồng nhiệt của một số bạn trẻ được thể hiện qua những con số khó tin: kênh Youtube của Ngô Bá Khá có tới hàng triệu người theo dõi. Mới đây, thêm một “hiện tượng mạng xã hội” nữa vướng vòng lao lý, khi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án vụ chứa chấp sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, không tố giác tội phạm liên quan đến Trần Ngọc Phúc (Phúc XO) và 12 đồng phạm. Phúc XO cũng là một “thần tượng” của giới trẻ khi thể hiện sự giàu có, lối sống xa hoa trên mạng xã hội và nhận được sự ngưỡng mộ của nhiều người. Đó là những biểu hiện đáng lo ngại của sự lệch lạc về nhận thức của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Rõ ràng, giới trẻ chịu tác động không nhỏ từ những thông tin trên mạng xã hội và rất dễ bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông, thiếu định hướng. Nói rộng hơn, sự lệch chuẩn thần tượng có thể dẫn đến những hành động cổ súy cho tư duy cực đoan, định hướng sai lầm trong phát triển nhân cách, gây ra những nguy hại khó lường, bắt nguồn từ chính mạng xã hội.

Trên không gian ảo, người dùng có thể ẩn danh và dễ dàng thể hiện bản thân, đây cũng là môi trường tồn tại nhiều thông tin giả mạo, sai sự thật, thiếu trách nhiệm, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, xâm phạm quyền, lợi hợp pháp của các tổ chức. Tình trạng nhiễu loạn thông tin, tung tin đồn thất thiệt, giật gân nhằm thu hút sự chú ý trên mạng xã hội ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng. Mạng xã hội đang trở thành công cụ để các đối tượng phạm tội hình sự, kinh tế, ma túy lợi dụng tạo tài khoản ảo, kết bạn, làm quen sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đánh cắp mật khẩu, chiếm giữ quyền kiểm soát tài khoản trái phép nhằm trục lợi. Không ít người bị dẫn dắt bởi các thông tin độc hại trên mạng xã hội, tin theo những luận điệu của chúng và bị mua chuộc, trở thành công cụ phục vụ cho mưu đồ của các thế lực phản động. Chúng thiết lập và sử dụng các trang mạng xã hội nhằm tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi nhọ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng đăng tải những bài viết xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, khiến một bộ phận người dân hoang mang, dao động, mất niềm tin vào chế độ. Nhiều trang mạng xã hội đã lợi dụng những sai sót của một số cán bộ, đảng viên trong quản lý kinh tế để kích động dư luận, hình thành tư tưởng chống đối, kêu gọi biểu tình chống chế độ, làm xuất hiện các điểm nóng chính trị - xã hội. Một số trang mạng đã đăng tải thông tin không đúng sự thật, kích động người dân bạo loạn, cung cấp các tài liệu sai lệch, tạo diễn đàn xuyên tạc, nói xấu chính quyền.

Với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch tìm cách chống phá bằng mọi thủ đoạn, vừa công khai, vừa bí mật, kết hợp bên trong và bên ngoài hòng làm thay đổi quan điểm, lập trường chính trị của Đảng, làm cho Đảng ta suy yếu về tư tưởng và tổ chức, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiều nội dung của tư tưởng đa nguyên, xóa bỏ độc quyền lãnh đạo được ráo riết tuyên truyền dưới nhiều hình thức nhằm xâm nhập vào xã hội và nội bộ Đảng ta. Một số đối tượng cơ hội chính trị, mặc dù đang hưởng thụ những thành quả cách mạng nhưng lại mưu cầu lợi ích cá nhân, tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, viết bài bôi nhọ chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam.

          2. Đấu tranh với các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội

          Trong bối cảnh internet mang lại nhiều tác động tích cực, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến văn hóa truyền thống, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, các cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý, định hướng đối với sự phát triển của mạng xã hội.

Chủ đề của Đại hội XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1).Do đó, tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ.

          Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin và tài liệu có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị. Hệ thống tuyên giáo Đảng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức của Đảng, trực tiếp góp phần thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Thực tiễn sôi động và phức tạp của đời sống xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác tuyên giáo. Đây là một trong những vũ khí sắc bén chống lại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Cần quản lý mạng xã hội như một công cụ thể hiện quyền tự do của con người song tuyệt đối không để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, tiến hành các hoạt động chống phá chế độ.

Tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 02 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” nhằm cung cấp cho người dân những thông tin thời sự nhất về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Việc lập trang mạng xã hội vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, vừa định hướng dư luận, đồng thời giúp Nhà nước tăng cường quản lý xã hội bằng chính công cụ hữu hiệu này. “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” trở thành phương thức truyền thông hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, cung cấp tri thức và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Hai trang mạng này cũng góp phần định hướng hành vi của cá nhân, giám sát và quản lý xã hội, kết nối ý Đảng với lòng dân. Cũng nhờ mạng xã hội mà trong những ngày thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg về giãn cách xã hội, người dân vẫn nắm bắt nhanh chóng, đầy đủ các thông tin về tình hình chính trị - xã hội, phòng chống dịch bệnh, tiến hành các hoạt động làm việc, giao lưu trực tuyến, giảng dạy online, thương mại điện tử, trao đổi thông tin liên lạc.

 “Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề cực kỳ quan trọng và hệ trọng, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng; là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2); công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò quan trọng.Để tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa và các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động trên mạng xã hội, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng về những vấn đề thời sự lớn, những vấn đề mới trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước và quốc tế là góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua tháng 6-2018 đã chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2019. Đảng, Nhà nước cho phép sử dụng mạng xã hội và bảo đảm tự do internet nhưng kiên quyết không để mạng xã hội trở thành công cụ cho các thế lực chống đối, thù địch lợi dụng, tiến hành các hoạt động chống phá.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cần tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, phát huy ưu thế của mạng xã hội trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

                                                                                                          ST PQ

Đẩy mạnh đấu tranh với tội phạm mạng


Tội phạm hoạt động trên không gian mạng internet (tội phạm mạng) thường không xuất đầu lộ diện, có thủ đoạn phạm tội rất tinh vi và gây nguy hiểm không nhỏ cho an ninh xã hội. Trong bối cảnh công nghệ cao phát triển, việc ngăn ngừa, đấu tranh với tội phạm mạng được Công an thành phố Hà Nội đẩy mạnh.

          Thủ đoạn tinh vi

Thiếu tướng Nguyễn Minh Chính, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao (Bộ Công an) cho biết, diễn biến tội phạm trên không gian mạng thời gian qua rất phức tạp, nổi lên là hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn chủ yếu là giả danh các cơ quan thực thi pháp luật, giả mạo trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp để đánh cắp dữ liệu cá nhân nhằm mục đích lừa đảo, trục lợi. Trong đó, nhiều vụ việc đã xảy ra ở Hà Nội.

          Anh Hoàng Ngọc Nam (ở phố Nguyễn Trường Tộ, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình) cho biết: "Gần đây, tôi hay nhận được thư điện tử, thậm chí có người gọi điện thoại tự xưng là cán bộ công an thông báo xe ô tô bị “phạt nguội”, yêu cầu cung cấp nhiều thông tin cá nhân. Tôi biết một số bạn bè đã bị lừa với hành vi tương tự”.

          Về việc này, Đại tá Dương Đức Hải, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội) thông tin, thời gian qua, một số người dân nhận được các cuộc điện thoại, thư điện tử tự xưng là cảnh sát giao thông, thông báo việc “phạt nguội” do vi phạm giao thông. Các đối tượng đề nghị người dân cung cấp số biên bản, nếu chưa nhận được thì cung cấp số căn cước công dân, số hộ chiếu, số tài khoản ngân hàng… Tiếp đó, chúng yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản hoặc cung cấp mã xác thực với ngân hàng, từ đó chiếm đoạt tiền.

Đối tượng Trần Đạo Nghĩa (ở tỉnh Quảng Trị) bị Công an quận Nam Từ Liêm bắt giữ gần đây đã khai nhận lừa đảo chiếm đoạt gần 2 tỷ đồng của khoảng 4.000 người. Thủ đoạn của đối tượng là chiếm quyền quản trị tài khoản Facebook cá nhân, gửi tin nhắn cho bạn bè của chủ tài khoản với nội dung nhờ nhận tiền giúp; tự xưng là nhân viên ngân hàng, hướng dẫn nạn nhân truy cập vào đường link (kết nối) có sẵn rồi điền tài khoản ngân hàng, mã truy cập... để nhận tiền. Nạn nhân làm theo là bị rút mất tiền.

Đại tá Nguyễn Bình, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự (Công an thành phố Hà Nội) cho hay, đầu tháng 7-2021 đơn vị đã bắt giữ Quách Văn Hải, Trịnh Hải Nam, cùng trú tại huyện Yên Thủy (tỉnh Hòa Bình) vì lừa đảo trên mạng. “Các đối tượng tải hình ảnh lan đột biến rồi đăng lên trang mạng xã hội cá nhân, rao bán. Với thủ đoạn này, 2 đối tượng đã lừa đảo nhiều khách hàng, trong đó có nạn nhân đã đặt gần 1 tỷ đồng để mua 21 cây lan đột biến ảo”, Đại tá Nguyễn Bình thông tin.

          Giữ cho không gian mạng an toàn

Trước diễn biến phức tạp của tội phạm mạng, các lực lượng của Công an thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp để bảo đảm an ninh, an toàn cho không gian mạng.

Theo Thượng tá Đinh Thị Thu Thủy, Trưởng phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Công an thành phố Hà Nội), Công an thành phố Hà Nội đang tích cực phối hợp với các sở, ngành chức năng của thành phố, các đơn vị quản lý dịch vụ mạng, dịch vụ máy chủ, tên miền... tăng cường các biện pháp quản lý, ngăn chặn các địa chỉ thường xuyên gửi thư điện tử “rác”. Công an cũng đẩy mạnh tuyên truyền bằng hình thức gửi cảnh báo đến điện thoại cá nhân về thủ đoạn phạm tội để người dân phòng ngừa; yêu cầu không sử dụng các phần mềm không rõ nguồn gốc, không tham gia các giao dịch ảo. Trong trường hợp có dấu hiệu bị tống tiền, đề nghị cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp liên hệ, phối hợp với cơ quan chức năng để điều tra làm rõ, tuyệt đối không tự ý chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượng…

Đại tá Nguyễn Thành Long, Trưởng Công an quận Nam Từ Liêm cũng khuyến cáo, để tránh bị tội phạm tiếp cận trên không gian mạng, người sử dụng mạng nên thường xuyên thay đổi mật khẩu thư điện tử, trang cá nhân; sử dụng bảo mật hai lớp, đăng nhập bằng mã xác nhận gửi về số điện thoại đăng ký đối với tài khoản ngân hàng. Tuyệt đối không truy cập vào các trang mạng không chính thống, không cài đặt các ứng dụng không rõ nguồn gốc. “Khi có người thân, bạn bè nhờ nhận, chuyển hoặc vay tiền qua mạng xã hội phải kiểm tra qua số điện thoại cá nhân hoặc gọi video call, xác minh thông tin bằng các chi tiết chỉ hai người biết”, Đại tá Nguyễn Thành Long lưu ý.

Ở góc độ địa phương, Chủ tịch UBND phường Dịch Vọng Hậu (quận Cầu Giấy) Tống Xuân Duy cho biết, trên địa bàn có nhiều phòng giao dịch ngân hàng. Tại những địa điểm này, Công an phường đều đặt cảnh báo người dân về những giao dịch bất thường qua không gian mạng, như việc nhận hàng được cho tặng mà đầu dây bên kia yêu cầu gửi mã tài khoản, hay các cuộc điện thoại tự xưng là công an, cơ quan tư pháp yêu cầu chuyển tiền…

Cùng với các biện pháp nghiệp vụ của cơ quan công an, việc mỗi cá nhân chủ động đề cao cảnh giác sẽ góp phần bảo đảm an ninh, an toàn cho các hoạt động trên không gian mạng.

                                                                                                          ST PQ

LIÊM SỈ!

     Câu chuyện liên quan đến ông Y Luyện Niê Kđăm, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk những ngày này đang thu hút sự quan tâm của một bộ phận dư luận xã hội.
     Sau khi truyền thông phản ánh các công trình của gia đình ông dựng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đắk Lắk), ông đã tự giác huy động con cháu đến tháo dỡ. Dù chưa có ý kiến chỉ đạo của cơ quan chức năng nhưng ông Y Luyện đã kịp thời, nhanh chóng hoàn trả mặt bằng nguyên trạng cho khu bảo tồn. Ông nói, sai thì phải sửa, không vì khuyết điểm của mình mà ảnh hưởng đến tổ chức và người khác!
     Dù là ai và với bất cứ lý do gì thì việc xây dựng các công trình trong khu bảo tồn thiên nhiên, rõ là sai rồi. Nhưng vấn đề dư luận quan tâm không nằm ở cái sai ấy, mà là tinh thần và thái độ sửa sai của người từng giữ cương vị lãnh đạo cao nhất tỉnh Đắk Lắk, từng có công lao đóng góp trong kháng chiến và xây dựng quê hương. Khi đương chức, ông cũng chính là người có công đề xuất, quyết định thành lập khu bảo tồn này. Nơi đó gắn bó sâu sắc với tuổi thơ, thời trai trẻ và những năm tháng tham gia kháng chiến đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng quê hương của ông.
     Với những gì ông nói và làm trong những ngày qua, thay vì xăm xoi khuyết điểm, nhiều người đã dành cho ông sự cảm thông và cái nhìn thiện cảm. Là con người, ai cũng có thể mắc sai lầm, khuyết điểm. Nhưng tinh thần tiếp thu phê bình và thái độ sửa sai, tự nguyện khắc phục khuyết điểm như vậy là biểu hiện tính tự trọng của con người có liêm sỉ.
     Nhìn rộng ra trong đời sống xã hội hiện nay, có không ít cán bộ từng giữ trọng trách trong hệ thống chính trị các cấp, sau khi nghỉ hưu vẫn cứ khư khư giữ lấy nhà công vụ, không chịu trả lại tài sản công, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng chí, đồng đội mình. Một số khác, khi bị các cơ quan chức năng điều tra về hành vi tham nhũng thì tìm cách tẩu tán tài sản, tìm cách chối tội, đổ lỗi. Hậu quả họ để lại cho xã hội, cho đất nước là rất nặng nề, nhưng thái độ thành khẩn, ý thức khắc phục hậu quả thì rất kém, gây thêm khó khăn cho tổ chức, kéo theo sự phiền phức, vất vả cho nhiều người khác.
     Ông bà ta có câu “Cháy nhà ra mặt chuột”! Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay đã và đang làm lộ ra nhiều góc khuất trong phong cách, nhân cách, tính tự trọng và sự liêm sỉ của không ít công bộc. Thấy rõ hơn những góc khuất ấy để chúng ta có thêm các hình thức, giải pháp thiết thực nhằm chấn hưng văn hóa Đảng.
     Tiếp xúc cử tri một số địa phương ở Hà Nội vào ngày 15-10, chuẩn bị cho Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng vẫn đang tiếp diễn. Vì sự tiến bộ chung, vì để giáo dục người khác đừng đi vào vết xe đổ ấy, Trung ương buộc phải làm và yêu cầu các cấp cũng phải làm như Trung ương...
     Như vậy là tinh thần kiên trì, kiên quyết, quyết tâm, quyết liệt, không có vùng cấm... trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ tiếp tục được thực thi, mở rộng từ Trung ương đến các địa phương. Những cán bộ, đảng viên thoái hóa, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chắc chắn sẽ bị điều tra, xử lý nghiêm minh. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trước hết là ủy ban kiểm tra các cấp của Đảng và cơ quan thực thi pháp luật.
     Sai đến đâu, xử đến đó! Không có ai dung túng, cổ xúy cho cái sai, cái xấu. Nhưng dưới lăng kính văn hóa, dư luận xã hội vẫn dành sự tôn trọng nhất định cho người có dũng khí nhận sai và ý thức, thái độ sửa sai. Đó là biểu hiện của lòng tự trọng, của liêm sỉ. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chấn hưng văn hóa Đảng hiện nay, rất cần cái liêm sỉ ấy!
Yêu nước ST.

LẠI XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

         Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Hội nghị chưa diễn ra vậy mà trên một số diễn đàn, mạng xã hội đã có những bài viết, những ý kiến của một số người đội lốt là “nhà dân chủ”, “trí thức” xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sau khi Hội nghị thành công và kỳ họp thứ tư, Quốc hội Khóa XV họp tuần đầu tiên thì chính những người này lại tiếp tục đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
     Đây không phải là lần đầu tiên những người nói trên xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tế thời gian qua cho thấy, cứ mỗi lần Quốc hội họp, mỗi lần bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là các luận điệu chống phá về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của các phần tử chống đối, thù địch lại đem ra chép lại. Thế nhưng dù có “tung hỏa mù”, có những “vỏ bọc kín đáo” thì luận điệu đó vẫn không che nổi bản chất, âm mưu thâm độc của họ.
     Thực tế, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật, vì dân chủ, con người, quyền con người, quyền công dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được xây dựng, hoàn thiện đồng thời với xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ba trụ cột phát triển đất nước.
     Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận và khẳng định điều đó.
     Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tồn tại, được hiện thực hóa, vận động và phát triển thông qua các giá trị của nó. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quá trình hiện thực hóa, làm sâu sắc, gia tăng các giá trị của nó.
     Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Viêt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đặc trưng này thể hiện tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn với hệ thống chính trị Việt Nam, là sự thể hiện sinh động việc vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số người còn cho rằng, “đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với xã hội chủ nghĩa”, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung xã hội chủ nghĩa trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.
     Thậm chí, một số người nhân danh “đổi mới” để vu cáo rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền”; cho rằng, “việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ”… Những luận điệu trên thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
     Cũng phải thừa nhận, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta cũng đã bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu. 
     Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta đã nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Để xây dựng Đề án trên, Ban Chỉ đạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, lấy ý kiến các tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cuộc tọa đàm chuyên sâu để lấy ý kiến rộng rãi. Quá trình xây dựng Đề án được đánh giá cao về cách làm bài bản, dân chủ, khoa học, tạo được sự đồng thuận cao trong các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng Đề án. Tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhất trí thông qua. 
     Vì thế, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.