Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Đấu tranh, đập tan luận điệu Quân đội nhân dân Việt Nam “trung lập”

 Đấu tranh, đập tan luận điệu Quân đội nhân dân Việt Nam “trung lập”

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Thời gian gần đây, những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước cấu kết cùng với các thế lực thù địch ở nước ngoài triệt để lợi dụng mạng Internet để hàng ngày phát tán hàng trăm tài liệu, từ xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phủ nhận thành quả sau 30 năm đổi mới đất nước… nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

          Một trong những nội dung chống phá của các thế lực thù địch là tìm cách tuyên truyền, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội; phủ nhận sự trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đối với Đảng. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng đã và đang ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho các quan điểm vô cùng cực đoan, phản động, nham hiểm, trong đó có luận điểm: Quân đội chỉ bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, không đứng về phía đảng phái nào, không chịu sự lãnh đạo của Đảng Công Sản Việt Nam.

          Đây là một luận điểm hoàn toàn không có căn cứ về lý luận và thực tiễn, không phù hợp với lý luận Mác – Lênin về xây dựng quân đội nói chung, xây dựng quân đội kiểu mới nói riêng. Đó là sự cổ xuý cho nhận thức sai lầm – quân đội “trung lập về chính trị”, quân đội “đứng ngoài chính trị” nhằm “phi chính trị hoá” quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, vô hiệu hoá chức năng, nhiệm vụ của Quân đội đã được hiến định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Thực tiễn cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử 87 năm qua đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu duy nhất vì lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc Việt Nam, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang của Đảng, từ yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nước ta, Đảng ta đã tổ chức ra Quân đội nhân dân Việt Nam làm công cụ bạo lực vũ trang cách mạng – lực lượng nòng cốt trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Tất yếu, quá trình tổ chức và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam được tuân thủ theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng và hoạt động quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Theo đó, vấn đề có tính nguyên tắc là trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn phải có nghĩa vụ trước hết là trung thành tuyệt đối, chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của giai cấp công nhân Việt Nam – lực lượng đã tổ chức và lãnh đạo Quân đội. Đây cũng là vấn đề có tính nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Mặt khác, chính thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã qui định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng độc tôn duy nhất lãnh đạo và cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Vì vậy, quân đội phải là công cụ bạo lực cách mạng sắc bén, lực lượng chính trị trung thành và chiến đấu, hy sinh bảo đảm cho sự tổ chức, lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

Là quân đội kiêu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Là công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước, quân đội phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho. Quân đội phải có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Nhà nước. Để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và để bảo đảm cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của Nhà nước đối với xã hội, thì sự trung thành của quân đội đối với Nhà nước là điều kiện bảo đảm cho Nhà nước thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng; đảm bảo cho Nhà nước quản lý tập trung, thống nhất quân đội; bảo đảm cho quân đội không bao giờ thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước.

Là quân đội kiêu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhưng cán bộ, chiến sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam lại xuất thân từ con em của nhân dân các dân tộc ở Việt Nam; tham gia quân đội không chỉ để thực hiện mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tôc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, mà còn là để thực hiện nguyện vọng của nhân dân các dân tộc Việt Nam là đấu tranh giành độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, chỉ có luôn trung thành với nhân dân thì cán bộ, chiến sĩ quân đội mới quyết tâm phấn đấu để thực hiện trọn vẹn bổn phận của mình đối với nhân dân.

Trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân là bổn phận  của Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, xây dựng và lãnh đạo, do Nhà nước quản lý tập trung, thống nhất. Chỉ có trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, quân đội mới quyết tâm thực hiện tốt vai trò là công cụ bạo lực cách mạng sắc bén, lực lượng chính trị trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân và quyết tâm làm tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Hiện nay, trung thành với Đảng, với nhà nước, với nhân dân biểu hiện ở tinh thần, ý chí, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phấn đấu, hy sinh của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội để thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện thắng lợi quan điểm kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; phòng, chống làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ bên trong do tác động của “diễn biến hoà bình”. Đồng thời, quân đội phải là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, tích cực đấu tranh bảo vệ cương lĩnh, đường lối của Đảng, phê phán bác bỏ những quan điểm tư tưởng hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội; tích cực tham gia xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ năng lực, chuyên môn giỏi, có phương pháp tác phong công tác phù hợp, luôn thực sự là công bộc” của nhân dân; tishc cực đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay…

Trung thành với nhân dân được biểu hiện ở tinh thần, ý chí, quyết tâm của mọi cán bộ, chiến sĩ luôn phấn đấu vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, bảo vệ nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng đất nước có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng chống thiên tai, dịch hoạ, cứu hộ, cứu nạn…

Bổn phận trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân  của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được thể hiện và thực hiện tốt trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của quân đội. Nhưng trong điều kiện hiện nay thì vấn đề khẳng định lòng trung thành và sự cần thiết phải thể hiện bổn phận trung thành của quân đội đối với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân càng được đặt ra một cách cấp thiết hơn. Quân đội không chỉ phải tiếp tục khẳng định lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, mà còn phải phấn đấu để thực hiện tốt hơn bổn phận trung thành đó trong điều kiện mới. Muốn vậy, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam phải thường xuyên học tập, rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện phương pháp, tác phong công tác để hoàn thành tốt bổn phận của mình đối với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân./.

 

 

Âm mưu, thủ đoạn, chiến lược DBHB của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay

 

          Như trên đã đề cập, mục tiêu chiến lược nhất quán của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc và phương Tây.

          Để đặt được mục tiêu đó, địch không từ bỏ một thủ đoạn chống phá nào, kể cả hành động can thiệp quân sự và trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược...

Từ đầu thập niên 50 đến năm 1975, đây là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá nước ta toàn diện, dùng hành động quân sự là chủ yếu để can thiệp và tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn vào ngày 30-4-1975.

          Từ sau năm 1975 đến năm 1994, đây là giai đoạn nước ta còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tai nặng nề, đặc biệt là tác động tiêu cực của những biến động Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đối với Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tăng cường nhiều biện pháp chống phá như: bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập ngoại giao; kết hợp DBHB, bạo loạn lật đổ để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

          Chúng lợi dụng tình hình xã hội nước ta vẫn tồn tại những sơ hở để tổ chức các đảng phái và lực lượng vũ trang phản động, lôi kéo phần tử thoái hóa, biến chất trong cơ quan Đảng, Nhà nước và phần tử cực đoan trong Nhân dân, nhanh chóng thành lập các đảng, tổ chức chính trị và lực lượng phản động, chống phá cách mạng Việt Nam; trước hết và chủ yếu bằng DBHB, nhưng để nhanh chóng đặt được mục đích đề ra và tạo áp lực lớn đối với ta, chúng kết hợp với thủ đoạn bạo loạt lật đổ.

          Từ năm 1995 đến nay, sau thất bại trong âm mưu cô lập chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc buộc phải điều chỉnh chính sách, thủ đoạn chống phá, bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ về ngoại giao. Chủ nghĩa đế quốc đã chuyển thủ đoạn, biện pháp hành động kiên quyết sang thủ đoạn trực tiếp dính líu, ngầm, sâu, đẩy mạnh các hoạt động thâm nhập, chống phá cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Các thế lực thù định tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước” - Chúng tiếp tục thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

          Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều biện pháp, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung vào một số lĩnh vực sau:

          Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta.

          Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...

          Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

          Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua.

          Hiện tại và những năm tiếp theo, các thế lực phản động, thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây sức ép với Việt Nam, thực hiện âmm mưu DBHB, bạo loạn lật đổ. Cho nên, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam vẫn là một trong những nội dung, biện pháp được Mỹ và các thế lực thù địch thường sử dụng. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Vận động chính khách các nước và quốc hội Mỹ để đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Khôi phục và thành lập các tổ chức, hội đoàn tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ tham gia hoạt động, phát triển lực lượng.

          Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, âm mưu của địch là phi chính trị hóa quân đội và công an, vô hiệu hóa các lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Chúng tập trung chống phá hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; tuyên truyền kích động gây mơ hồ, chia rẽ mối quan hệ bản chất giữa Đảng với quân đội; quân đội với công an và các ngành khác, làm cho quân đội giảm lòng tin với Đảng, xa rời mục tiêu chiến đấu và nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội mất bản chất cách mạng. Mặt khác, chúng chỉ đạo việc đầu tư vào những địa bàn dễ phá vỡ thế trận QPAN của ta.

          Lợi dụng những biến động phức tạp trên thế giới và chính sách mở cửa hội nhập của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tác động đến các nước, các tổ chức và diễn đàn quốc tế gây sức ép đòi Việt Nam tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hiện tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đồng thời, gây áp lực buộc chúng ta phải nhân nhượng một số vấn đề chính trị trong nước, nhất là chấp nhận “đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập”, thực hiện âm mưu hòa nhập Việt Nam vào ASEAN và lôi kéo Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

          Trên lĩnh vực ngoại giao, núp dưới danh nghĩa ngoại giao thân thiện để hướng Việt Nam theo quỹ đạo của phương Tây, tạo cơ hội chuyển hóa và đưa Việt Nam dần hòa nhập cùng cộng đồng các nước dân chủ phương Tây. Tăng cường tiếp xúc của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân dưới nhiều hình thức như: thăm viếng, hội thảo, viện trợ nhân đạo, du lịch... để xuyên tạc đường lối của Đảng, gieo rắc tâm lý mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, tạo cơ hội chuyển hóa Việt Nam.

                                                                                                QTVũ Tất Thành - Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

 

Đừng nhân danh tự do để vi phạm tự do một cách trắng trợn

 

          Sự sai lệch và chủ đích không xây dựng

          Thử điểm qua một số tiêu đề trong thời gian gần đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...

          Đây nữa, cũng là một số tiêu đề bài báo trên một cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn... đảng”, “Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong nhà nước mau giảm giá xăng, chớ “so sánh” nữa”...

          Không riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan. Có thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt (Pháp). Có lẽ, cũng không cần phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc, không đúng bản chất kiểu này nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn đề gì, tính chính xác đến đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy kết, chụp mũ những vấn đề chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện, “chợ búa” trong cách dùng từ ngữ...

          Có một điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công bằng trong thông tin. Điều này thể hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những thông tin tiêu cực, những hạn chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới, xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ biến. Họ cố tình quên những thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay. Là một nhà báo, một cơ quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc tế đánh giá khách quan, chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức sống của người dân được nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, tôn giáo, tín ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.

          Những thông tin quan trọng về thành tựu của Việt Nam thì họ không bao giờ đưa. Ví dụ, ngày 7-6-2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đồng thuận bầu Việt Nam làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện châu Á-Thái Bình Dương. Trước đó, Việt Nam đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 2008-2009, 2020-2021), 5 lần được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 1978-1983, 2001-2005, 2009-2013, 2015-2019 và 2021-2025), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016), thành viên Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016-2018)...

          Trong hơn hai năm qua, khi đại dịch Covid-19 hoành hành khiến cả thế giới chao đảo, Việt Nam đã rất thành công trong phòng, chống đại dịch, sớm kiểm soát được dịch bệnh, đưa mọi hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới. Việt Nam đã “mở cửa bầu trời” quốc nội và quốc tế, hoạt động kinh tế nói chung, du lịch nói riêng đã tấp nập trở lại với những mức tăng trưởng đầy khích lệ, hết sức lạc quan. Cuối tháng 6-2022, Ngân hàng UOB (Singapore) đã công bố Báo cáo tăng trưởng kinh tế và dự báo quý kế tiếp cho các thị trường, trong đó có Việt Nam. Báo cáo của UOB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%, bởi đà tăng trưởng cơ bản của Việt Nam vẫn giữ nguyên trong quý II-2022...

          Trước đó, vào đầu tháng 6-2022, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi ở mức 6,5% năm 2022 và đạt 6,7% năm 2023. Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 xuống mức 3,6%, nhưng tin rằng tiến trình phục hồi kinh tế tại Việt Nam sẽ mạnh lên từ việc thực thi Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Ông Francois Painchaud-Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam-cho rằng, GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 6% trong năm 2022 và 7,2% trong năm 2023...

          Có lẽ, chỉ cần đưa những dẫn chứng hết sức cụ thể, khách quan kể trên, theo sự nhìn nhận, đánh giá của thế giới cũng đủ sức thuyết phục về sự tăng trưởng kinh tế, cũng như uy tín, vị thế của Việt Nam hiện nay! Xin được nhắc lại lời khẳng định nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

          Sự thật cần phải được tôn trọng!

          Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, hằn học, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.

          Thiết nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”, với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã trường diễn suốt bao năm qua.

          Chúng ta đều biết rằng, trong “Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền” được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày 10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can thiệp.

          Nhưng tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của “Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền” khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan niệm của họ mà thiếu đi sự thật.

          Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống, cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn!

                                                                                                Đa.St

Chiến lược "Diễn biến hòa bình"

 

          Chiến lược “Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mà không cần đến chiến tranh. Vì vậy, chiến lược DBHB là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội tiến bộ, trước hết là các nước XHCN từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền.

          Thuật từ “Diễn biến hòa bình” còn được sử dụng thay thế bằng các thuật từ khác như: chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cần chiến tranh...

          Mục tiêu tổng quát của DBHB là làm cho đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, từ cán bộ cấp cao cho đến người dân đều có chung tâm trạng hoài nghi, dao động; không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, nhằm tiến tới xóa bỏ mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta.

          Mục tiêu cụ thể của DBHB thể hiện sự chống phá trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung ở các khía cạnh:

          Về tư tưởng, chính trị, dùng nhiều kế hoạch và phương tiện, tuyên truyền nhằm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó gây ra “tự diễn biến”, hòng tạo ra sự khủng hoảng về lý tưởng chính trị, làm suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Từ đó làm chệch hướng và sụp đổ chế độ chính trị, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bằng ý thức hệ tư bản chủ nghĩa.

          Về kinh tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế nhằm xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

          Về văn hóa, làm phai nhạt và tiến tới làm mất bản sắc văn hóa Việt Nam.

          Về thể chế pháp luật, đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng.

          Đặc trưng cơ bản để nhận biết được chiến lược DBHB so với các chiến lược phản cách mạng khác, chính là: cuộc chiến không sử dụng súng, không mùi thuốc súng; cuộc chiến chủ yếu sử dụng các công cụ mềm như kinh tế, ngoại giao văn hóa, tư tưởng, khi cần mới sử dụng sức mạnh quân sự, để răn đe đối phương; tác động từ bên ngoài vào tạo nên sự chuyển hóa, tự diễn biến, tự suy yếu bên trong các nước XHCN, thông qua con người, lực lượng phương tiện của chính đối phương; không phá hủy của cải vật chất của đối phương bằng sức mạnh quân sự, chủ yếu “ru ngủ”, gây mất cảnh giác cách mạng của Nhân dân lao động, mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong cơ quan Đảng và nhà nước, những văn nghệ sĩ, tri thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệnh lạc hoặc bất mãn với chế độ.

          Và một đặc điểm khác, chiến lược DBHB mang tính toàn cầu, được triển khai trên quy mô lớn và rộng khắp, tiến hành gặm nhấm, không vội vã, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước làm cho đối phương rối loạn nội bộ rồi sụp đổ... DBHB đã trở thành một trong những nguyên nhân đến sự sụp đổ của các nhà nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động đang đẩy mạnh DBHB đối với các nước XHCN còn lại. DBHB do các thế lực thù địch tiến hành, đã và đang là một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: DBHB do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.

                                                                                                Đa.

 

NGƯỜI LÀM RUNG CHUYỂN THẾ GIỚI VỚI CHIẾN CÔNG VANG DỘI

 

🇻🇳
Năm 1973, trận tập kích phá huỷ Tổng kho xăng Nhà Bè của liệt sĩ Nguyễn Công Bao và đồng đội có thể nói là đã làm chấn động cả thế giới.
Nguyễn Công Bao sinh năm 1947, quê xã Cẩm La - huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên). Anh là một trong 8 chiến sĩ lừng danh của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, đơn vị 2 lần Anh hùng. Trong trận đánh mưu trí, quyết liệt đêm mồng 2 rạng ngày 3-12-1973, các anh đã thiêu huỷ toàn bộ căn cứ Tổng kho xăng dầu Nhà Bè của Mỹ - Ngụy bên sông Lòng Tàu, Sài Gòn.
Anh có biệt tài bơi lặn giỏi từ những ngày mò cua bắt ốc, chăn trâu, cắt cỏ bên sông, cùng bạn bè trang lứa học tiểu học trường làng. Những trang sử của ông cha đánh giặc giữ nước trên dòng sông quê hương đã nung nấu trái tim chàng trai vùng sông biển Hà Nam.
Năm 1968 anh tình nguyện nhập ngũ, được bổ sung vào một đơn vị đặc công thuỷ. Dịp nghỉ phép thăm nhà, anh xây dựng gia đình với cô giáo Vũ Thị Hiệp, người làng Phong Hải. Những ngày hạnh phúc của anh chị quá ngắn ngủi. Rồi anh vội vã về đơn vị huấn luyện các chiến sĩ mới. Tới đơn vị, anh viết thư về cho Hiệp: “Gà gáy hôm đó nhỡ đò, anh đã cởi trần bơi từ bến đò Chanh, dọc sông Chanh qua sông Rừng rộng mênh mông sang bờ Thuỷ Nguyên, rồi chạy bộ về đơn vị kịp giờ điểm danh...”. Đọc thư, mà lòng Hiệp tê tái thương anh.
Năm 1972, khi Hiệp sinh con trai được 2 tháng rưỡi thì Bao được lệnh lên đường vào chiến trường B làm nhiệm vụ đặc biệt thuộc đơn vị C5, E10, đặc công Rừng Sác. Lúc đó anh đã là một đảng viên với cấp bậc thượng sĩ, chức vụ Trung đội trưởng. Đơn vị chọn thành lập Đội cảm tử gồm 8 người do Hà Quang Vóc làm tổ trưởng, anh làm tổ phó, cùng các anh Trần Ngọc Sĩ, Nguyễn Hồng Thế, Phạm Văn Tiềm, Đỗ Hải Quân, Nguyễn Văn Dực, Hoàng Hữu Hinh. Các anh đã làm lễ tuyên thệ, truy điệu sống dưới cờ trong căn cứ Rạch Lá - Ông Kèo, trước khi vào trận đánh Kho xăng Nhà Bè. Vóc và Bao đã chỉ huy đồng đội bơi ngầm vượt qua 14 lần hàng rào kẽm gai, chướng ngại vật nguy hiểm, chó bécgiê, ngỗng báo động v.v... của địch để bố trí trận đánh. Cùng lúc trên đường rút về, những quả mìn đặc biệt do các anh mưu mẹo ém vào các bồn xăng, các điểm hiểm yếu đồng loạt nổ tung, thì anh và Tiềm bị địch phát hiện.
Trận đánh diễn ra vô cùng căng thẳng, ác liệt giữa 8 chiến sĩ cảm tử với bọn địch, lực lượng rất lớn gồm bộ binh, nhiều tàu chiến, máy bay trực thăng quần đảo trên sông Lòng Tàu. 6 chiến sĩ ta lọt được ra ngoài. Bao và Tiềm đã bị lọt vào vòng vây của 7 chiếc tàu tuần tiễu của địch. Địch bủa vây, bắn xối xả, ném cơ man lựu đạn xuống sông. Bị sức ép kinh khủng dưới nước, hai anh trồi lên, đã bị chúng chao lưới kéo lên tàu. Hai anh còn tiếp tục chiến đấu, tiêu diệt thêm nhiều tên nữa. Biết không thể thoát được, nhưng kiên quyết không để địch bắt sống, Bao và Tiềm đã dùng vũ khí đặc biệt còn lại trong người hy sinh thân mình và huỷ luôn tàu giặc. Những chiến sĩ rút ra ngoài đã trực tiếp quan sát được bối cảnh hy sinh anh dũng của hai anh trên sông…
Sau trận đánh, đơn vị đã nhiều lần bí mật tìm kiếm nhưng vẫn không thể tìm được thi hài của Bao và Tiềm. Hai liệt sĩ được tuyên dương “Hành động Anh hùng” và được tặng thưởng Huân chương Chiến Công hạng Nhất. Thời điểm đó, hãng thông tấn Roi tơ đã phải thốt lên: “Những chiến sĩ Việt cộng này tinh khôn đến lạ lùng. Họ đã đánh vỡ dạ dày của quân đội Sài Gòn... Họ đã đốt sạch 200 triệu lít xăng trong 12 bồn chứa lớn bằng ngọn lửa rừng rực cháy suốt 12 ngày đêm...”.
Năm 2013, anh đã được Nhà nước chính thức truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Chiến công đánh Kho xăng Nhà Bè vang dội cả nước. Dư luận thế giới hết lời ngợi ca. Hiện những bức ảnh chụp riêng hai anh và đội cảm tử tuyên thệ trong Rừng Sác hồi đó được báo chí các hãng thông tấn đăng tải một thời còn được lưu giữ tại Phòng Truyền thống Đoàn 10 Rừng Sác…
ST





VIỆT NAM CÓ THỂ LÀ HÌNH MẪU THÀNH CÔNG CHO CÁC QUỐC GIA KHÁC

 

Đây là tiêu đề bài viết trên trang EIN Presswire của Mỹ thông tin về chuyến thăm của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres tại Việt Nam.
Sự kiện đối ngoại nổi bật nhất tuần qua và cũng thu hút nhiều sự chú ý đó là chuyến thăm và làm việc của,, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres tại Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc (1977- 2022).
Sự kiện thể hiện một thông điệp mạnh mẽ về sự coi trọng của Liên Hợp Quốc đối với quan hệ đối tác Việt Nam - Liên Hợp Quốc trong 45 năm qua.
Nhiều trang báo quốc tế đã đưa đậm những đánh giá, ghi nhận của Tổng Thư ký tại các cuộc gặp với lãnh đạo cấp cao Việt Nam về Việt Nam có thể là hình mẫu thành công cho các quốc gia khác hay Việt Nam có những đóng góp xuất sắc trong các hoạt động của LHQ.
Bài viết trên trang EIN Presswire cho biết Tổng Thư ký LHQ đã khen ngợi những thành tựu của Việt Nam và tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô cốt lõi, đồng thời bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và trở thành hình mẫu thành công cho các quốc gia khác.
Lãnh đạo LHQ cũng đánh gía cao những đóng góp xuất sắc của Việt Nam trong các hoạt động của LHQ. Với sự ủng hộ của LHQ, ông mong muốn Việt Nam tiếp tục đóng góp vào các vấn đề toàn cầu và là nước chủ nhà các sự kiện quốc tế lớn trong tương lai.
Tổng Thư ký LHQ António Guterres nhận định: "Điều đáng kinh ngạc nhất là khi gia nhập LHQ, Việt Nam là một nước rất nghèo và ngày nay, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế sôi động và là một quốc gia được tôn trọng và có tiếng nói, tầm quan trọng trong các công việc của LHQ.
Thứ hai, Việt Nam còn trở thành nước có đóng góp quan trọng vào hoạt động gìn giữ hòa bình - một trong những nhiệm vụ chính của LHQ. Để có được một lực lượng những người lính thời bình, Việt Nam bằng năng lực, sự tận tụy, lòng dũng cảm đã đóng góp to lớn cho LHQ và cho những người dân mà họ phục vụ.
Tôi nghĩ một điểm cũng cần nhấn mạnh rằng, Việt Nam là một quốc gia đã thực hiện được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của LHQ".
Trang Tân hoa xã của Trung Quốc và the Star của Malaysia cũng đồng loạt đăng tải với bài viết: Việt Nam và Liên Hợp Quốc nhất trí tiếp tục tăng cường chủ nghĩa đa phương.
Cụ thể, tại cuộc gặp Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, hai bên nhất trí tiếp tục củng cố chủ nghĩa đa phương với LHQ đóng vai trò trung tâm trong bối cảnh tình hình thế giới và các vấn đề chính trị, an ninh trong khu vực đang có những diễn biến khó lường.
Lãnh đạo Việt Nam và Liên Hợp Quốc cũng nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ giữa LHQ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN và phát huy vai trò của khối trong giải quyết các vấn đề khu vực.
VTV


ANH HÙNG LLVT ND NGUYỄN SƠN - THUYỀN TRƯỞNG CON TÀU KHÔNG SỐ


Đồng chí Nguyễn Sơn, sinh năm 1940; quê ở Thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Năm 19 tuổi, đồng chí tham gia vào tổ chức thanh niên xã để xây dựng phong trào và vận động nhân dân chống Mỹ.
Năm 1961, đồng chí nhận nhiệm vụ vượt biển ra miền Bắc đưa vũ khí vào miền Nam, sau đó được biên chế về Đoàn 759 Đoàn tàu Không số. Đồng chí là một trong những người đi nhiều nhất với 23 chuyến, trong đó có những nhiệm vụ đặc biệt như: đưa đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Bí thư Khu ủy Khu 9 từ căn cứ A2 (Hậu Thủy, đảo Hải Nam, Trung Quốc) về Cà Mau, đưa đồng chí Lê Đức Anh, nguyên Tư lệnh Quân khu 9 từ Cà Mau về miền Bắc an toàn.
Trong chuyến đi khởi hành ngày 26-9-1963 của Tàu 41 đưa vũ khí vào bến Lộc An (Bà Rịa-Vũng Tàu), đồng chí giữ cương vị là thuyền trưởng. Ngày 1-10-1963, khi chuẩn bị cập bến để bốc hàng thì địch tổ chức trận càn khu vực bến Lộc An. Chỉ huy bến yêu cầu thuyền trưởng phải di tản lực lượng vào bờ và hủy tàu. Bằng kinh nghiệm, Nguyễn Sơn nhận định là tàu ta chưa bị lộ, xin chỉ huy bến được "tùy cơ ứng biến" và đã được đồng ý. Đồng chí đã khéo léo chỉ huy ngụy trang giả dạng tàu đánh cá mắc cạn. Chờ nước lên, Tàu 41 nhổ neo vào bến bốc hàng an toàn. Sau đó, đồng chí tiếp tục tham gia các chuyến vận tải khác. Sau 1975, đồng chí về công tác tại Trung đoàn 962, Quân khu 9. Năm 1983, Nguyễn Sơn chuyển ngành làm Giám đốc Đoàn tàu Quốc doanh Đồng Nai đến năm 1992 thì nghỉ hưu và tiếp tục tham gia công tác xã hội tại địa phương.
Ngày 25 tháng 4 năm 2015 đồng chí được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
ST