Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

 

TCCS - Trong những năm gần đây, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn trên thế giới, song các nhân tố khó lường kèm theo nguy cơ, thách thức cũng có xu hướng gia tăng, nhất là những hệ quả bất lợi, đa chiều từ xu hướng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Để ứng phó với tình hình mới, các nước dù lớn hay nhỏ hiện nay đề cập nhiều hơn tới khái niệm “tự chủ chiến lược”, thậm chí xác định đây là phương châm chủ đạo, lâu dài trong việc hoạch định chính sách đối ngoại.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres với các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Tự chủ chiến lược và những nhân tố tác động đến tự chủ chiến lược trong quan hệ quốc tế

Từ góc độ ngôn ngữ, theo từ điển Oxford (năm 2022), “chiến lược” (strategic) liên quan đến việc nhận diện các mục tiêu hay lợi ích lâu dài và các công cụ để đạt được các mục tiêu đó; còn “tự chủ” (autonomy) phản ánh khả năng tự quản trị, sự độc lập, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài. Như vậy, theo cách sơ lược nhất, có thể hiểu “tự chủ chiến lược” (strategic autonomy) chỉ sự độc lập, tự lực của một chủ thể trong việc xác định cũng như thực hiện các mục tiêu và lợi ích quan trọng, dài hạn.

Trong quan hệ quốc tế, nhiều chuyên gia, học giả đã khái quát hóa và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tự chủ chiến lược. Theo học giả người Ấn Độ X. Ca-ly-an-ra-ra-man (S. Kalyanraraman), tự chủ chiến lược phản ánh khả năng của một quốc gia trong việc theo đuổi, triển khai chính sách đối ngoại phục vụ lợi ích quốc gia và các ưu tiên đã xác định mà không bị ràng buộc, tác động bởi bất kỳ quốc gia nào khác(1). Nói một cách ngắn gọn như nhà báo Ấn Độ Xri-moi Ta-lúc-đa (Sreemoy Talukdar), tự chủ chiến lược là việc các nước đưa ra những lựa chọn chỉ “đơn thuần dựa trên lợi ích quốc gia”(2). Tuy nhiên, tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự cô lập, hay theo đuổi chính sách biệt lập. Trên thực tế, tự chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn hiện nay phản ánh sự độc lập của một quốc gia trong việc lựa chọn các đối tác, tham gia những thỏa thuận hợp tác để bảo vệ và thực hiện các mục tiêu, lợi ích một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn.

Một số học giả khác nhấn mạnh nhân tố giá trị và tiềm lực như một biểu hiện của tự chủ chiến lược. Học giả người I-ta-li-a Na-than-li-ơ Tốc-xi (Nathalie Tocci) - được coi là một trong các chuyên gia đầu tiên đề cập tới khái niệm tự chủ chiến lược của châu Âu, cho rằng - tự chủ chiến lược “là việc thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược trong khi duy trì, bảo vệ được các nguyên tắc, chuẩn mực và giá trị của chính mình”(3). Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, một quốc gia có tính tự chủ chiến lược cao nghĩa là quốc gia đó có khả năng thiết lập, điều chỉnh và thực thi các quy tắc, “luật chơi” quốc tế, thay vì chỉ tuân thủ thụ động “luật chơi” do người khác đặt ra(4).

Trong khi đó, nhóm tác giả Bác-ba-ra Líp-pớt (Barbara Lippert), Ni-cô-lai vôn On-đa-da (Nicolai von Ondarza) và Vôn-cơ Pi-thơ (Volker Perthes) trong nghiên cứu “Tự chủ chiến lược châu Âu: Chủ thể, các vấn đề, xung đột và lợi ích” nhận định, tự chủ chiến lược dùng để chỉ khả năng của một chủ thể trong việc định hình các ưu tiên và có đủ sức mạnh tổng hợp về thể chế, chính trị, vật chất để tự thực hiện các ưu tiên, quyết định đó mà không bị ảnh hưởng bởi bên thứ ba. Chia sẻ quan điểm này, học giả I-van La-cơ-xma-na (Evan Laksmana) thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế In-đô-nê-xi-a cho rằng, một trong các nhân tố tác động trực tiếp đến sự tự chủ chiến lược của một quốc gia về đối ngoại là yếu tố sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trong thế giới lưỡng cực hay đa cực, nhất là dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, tự chủ chiến lược có tính tương đối. Về mặt lý thuyết, chỉ có siêu cường trong thế giới “đơn cực” mới thật sự có tự chủ chiến lược tuyệt đối, bởi vì chỉ có siêu cường mới có sức mạnh vượt trội cả về kinh tế, quân sự, công nghệ và “sức mạnh mềm” để kiềm chế, đối trọng được các áp lực đến từ những quốc gia khác(5).

Như vậy, các quan niệm về tự chủ chiến lược trong quan hệ quốc tế cho đến nay đều cơ bản nhấn mạnh các thành tố chính là:
1- Sự độc lập của một quốc gia về ý chí (trong việc đề ra lợi ích, mục tiêu, giá trị) và hành động (kiên định triển khai và bảo vệ các biện pháp để đạt được mục tiêu, lợi ích và giá trị đã đề ra); 2- Sự tích cực, chủ động trong triển khai đối ngoại, tập hợp lực lượng và thích ứng, định hình “luật chơi” để tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi nhất; 3- Tối đa hóa sức mạnh tổng hợp, trong đó nội lực đóng vai trò quyết định của một quốc gia để bảo vệ, triển khai hiệu quả các chiến lược, chính sách.

Từ các thành tố chính về khái niệm, có thể thấy để có khả năng tự chủ chiến lược, trước tiên, một quốc gia cần có ý chí chính trị và sức mạnh tổng hợp để triển khai các quyết tâm của mình. Theo học giả Phrê-đê-rích Mô-rô (Frédéric Mauro), công thức lý tưởng tạo nên tự chủ chiến lược của một quốc gia bao gồm đồng thời cả ba yếu tố ý chí chính trị, khả năng tự quyết định và khả năng hành động. Đồng quan điểm với học giả Phrê-đê-rích Mô-rô, học giả Xven Bi-xcốp (Sven Biscop) cho rằng, một quốc gia dù có sức mạnh tổng hợp mạnh đến đâu, song nếu thiếu sự nhận thức, ý chí về tự chủ thì sẽ không bao giờ tự quyết định hoặc hành động một cách tự chủ được(6). Trên thực tế, không ít quốc gia tầm trung có sức mạnh tổng hợp quốc gia hạn chế song ngày càng thể hiện được các quyết định độc lập dựa trên cơ sở lợi ích quốc gia của mình, cho dù các quyết định đó có thể gặp phải sức ép lớn từ các cường quốc khác.

Cùng với ý chí chính trị và khả năng tự quyết, thì sức mạnh, nguồn lực của một quốc gia là yếu tố quyết định tới việc hiện thực hóa các quyết định, mục tiêu đề ra(7). Sức mạnh tổng hợp quốc gia (bao gồm “sức mạnh cứng”, “sức mạnh mềm”) càng lớn sẽ giúp các quốc gia khẳng định chỗ đứng của mình trên trường quốc tế, tối đa hóa khả năng hành động độc lập và bảo vệ hiệu quả giá trị, lợi ích của mình trên thế giới(8). Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp quốc gia của một chủ thể trong quan hệ quốc tế không chỉ được biểu hiện qua các chỉ số “sức mạnh cứng”, như tăng trưởng kinh tế, mức độ đầu tư quân sự, mà còn là mức độ tự chủ, tự cường, tự chống chịu của chủ thể đó trong các lĩnh vực trọng yếu, nhất là trong tình huống xảy ra khủng hoảng, đứt gãy chuỗi cung ứng.

Bên cạnh các nhân tố chủ quan, chiều hướng phát triển của cục diện quốc tế, nhất là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương toàn cầu, khu vực, xu hướng đánh giá lại toàn cầu hóa, phong trào dân túy và dịch bệnh COVID-19 cũng là những nhân tố tác động lớn, đẩy nhanh hơn quá trình nhận thức và thúc đẩy các quốc gia tăng cường tự chủ chiến lược.

Khái niệm tự chủ chiến lược trên thực tế đã bắt đầu được đề cập đến khi Mỹ và Trung Quốc bước vào giai đoạn chuyển đổi trạng thái sang cạnh tranh từ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma(9). Dù vậy, kể từ khi Mỹ xác định Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược hàng đầu” dưới thời kỳ Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm đến nay, kéo theo tình trạng phân tách trên nhiều lĩnh vực công nghệ, thương mại, chuỗi cung ứng, những căng thẳng về ngoại giao - chính trị thì nhu cầu tự lực, tự cường trong các lĩnh vực trọng yếu trở nên cấp thiết hơn. Hiện nay, cuộc khủng hoảng Nga - U-crai-na và những hệ lụy về an ninh năng lượng, sự đứt gãy về đầu tư, tài chính và việc các nước lớn thúc đẩy tập hợp lực lượng mới càng làm cho tự chủ chiến lược trở thành một chủ đề, một xu hướng mới mà ngày càng nhiều quốc gia theo đuổi để tránh nguy cơ bị rơi vào thế kẹt và có thể xử lý hài hòa quan hệ giữa các nước lớn.

Bên cạnh đó, mặc dù toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển song do tác động của các phong trào dân túy, dân tộc cực đoan, một số mặt trái đã bị “phơi bày”, như chuỗi cung ứng cồng kềnh, sự nổi lên của các vấn đề an ninh phi truyền thống, như khủng hoảng nhập cư, an ninh mạng, khủng bố trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến phức tạp khiến các quốc gia, ngay cả các nước lớn cũng phải điều chỉnh, tìm cách cân bằng tốt hơn việc tận dụng các nguồn lực, lợi thế toàn cầu và bảo đảm mức độ tự lực cần thiết. Đặc biệt, dịch bệnh COVID-19 là chất xúc tác khiến cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trở nên gay gắt hơn, đồng thời cho thấy rõ sự lệ thuộc của các nước vào các chuỗi cung ứng nước ngoài về dược phẩm, làm nảy sinh nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng do chính sách kiểm soát biên giới, đóng cửa nền kinh tế của các nước để đối phó với dịch bệnh COVID-19, thậm chí phục vụ mục tiêu cạnh tranh chiến lược. Chính vì vậy, nhu cầu tự chủ trong các lĩnh vực chiến lược liên quan đến sự sống còn của đất nước trong tình huống khủng hoảng trở nên cấp bách và quan trọng hơn đối với nhiều quốc gia.

Thực tiễn tự chủ chiến lược của một số quốc gia và tổ chức trên thế giới

Đối với Ấn Độ, trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia thể hiện bản sắc riêng về đối ngoại, trong đó yếu tố tự cường, tự chủ chiến lược được thể hiện tương đối rõ nét. Học giả Xri-ram Châu-li-a (Sreeram Chaulia) nhận định, dù trong thời kỳ trật tự thế giới hai cực (1947 - 1991), đơn cực (1991 - 2008) - khi Mỹ bước vào một chu kỳ dài của sự suy thoái kinh tế và Trung Quốc dần tiếp cận Mỹ về sức mạnh tổng hợp, hay trật tự thế giới đa cực (hiện tại), nhu cầu tự chủ trong các lựa chọn chính sách đối ngoại của Ấn Độ vẫn tiếp tục được duy trì(10).

Trên cơ sở các phát biểu của chính giới Ấn Độ, nội hàm của khái niệm tự chủ chiến lược được định hình và phát triển theo thời gian. Sau Chiến tranh lạnh, nhất là sau các vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1998, các quan chức Ấn Độ thường xuyên sử dụng khái niệm tự chủ chiến lược nhằm khẳng định việc không chấp nhận sức ép của các nước trước việc phát triển vũ khí hạt nhân vì lý do an ninh quốc gia. Trong bài phát biểu trước Quốc hội vào tháng 10-1999, Tổng thống Ấn Độ Cô-chi-rin Ra-man Na-ra-y-a-nan (Kocheril Raman Narayanan) khẳng định: “Ấn Độ duy trì cam kết đối với vấn đề giải giáp hạt nhân toàn cầu dựa trên nền tảng không phân biệt đối xử. Đồng thời, chính quyền Ấn Độ sẽ bảo đảm tự chủ chiến lược của đất nước dựa trên những quan ngại chính đáng về an ninh và đánh giá về môi trường an ninh quốc tế”(11).

Sau này, khái niệm tự chủ chiến lược được gắn trực tiếp nhiều hơn với các vấn đề đối ngoại. Trong bài phát biểu của Tổng thống Ấn Độ Pra-ti-bơ-ha Pa-tin (Pratibha Patil) tháng 8-2011 và các báo cáo đối ngoại của Quốc hội Ấn Độ, tự chủ chiến lược là nhân tố được nhấn mạnh đậm nét khi đề cập đến đường lối đối ngoại của Ấn Độ. Tư tưởng này được cụ thể hóa hơn trong phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Xan-man Khu-sít (Salman Kurshid) tháng 11-2013, khi nhấn mạnh “trong quá khứ Ấn Độ duy trì chính sách không liên kết, hiện nay, Ấn Độ theo đuổi lập trường chiến lược về tự chủ”. Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi sau đó đã có nhiều phát biểu giải thích rõ ràng hơn, cho rằng Ấn Độ đang chuyển từ chính sách không liên kết một cách thụ động trong quá khứ, trở thành một nước chủ động liên kết, hợp tác trong từng vấn đề; đồng thời, nhấn mạnh trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng cao, việc “mở rộng đối tác chính là một biện pháp tự chủ chiến lược”(12). Trong bài diễn văn phát biểu tại Đối thoại Shan-gri La năm 2018, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi khẳng định chủ trương tự chủ chiến lược của Ấn Độ là việc thúc đẩy quan hệ đối tác ngày càng lớn mạnh với cả ba cường quốc Mỹ, Trung Quốc, Nga, hướng tới xây dựng thế giới đa cực. Tinh thần tự chủ chiến lược của Ấn Độ gần đây được thể hiện rõ nét trong Tầm nhìn của Ấn Độ về khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, khẳng định ủng hộ đa cực ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và trên thế giới, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, mong muốn tăng cường quan hệ với tất cả các nước lớn trên cơ sở “ba cùng”, đó là: cùng nhạy cảm về lợi ích của nhau, cùng tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi(13). Có thể thấy, đối với Ấn Độ, tự chủ chiến lược có nghĩa là nâng cao khả năng tự lựa chọn, quan hệ cân bằng với tất cả các nước lớn, linh hoạt tham gia các khuôn khổ, sáng kiến. Tự chủ chiến lược thực chất là thúc đẩy “đa liên kết” (multi-alignment) để ứng xử trong thế giới đa cực, cạnh tranh chiến lược, qua đó giúp giữ vững tinh thần cốt lõi của chính sách đối ngoại Ấn Độ là không liên kết(14).

Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm “Bộ tứ” tại Tokyo (Nhật Bản), tháng 5-2022_Ảnh: AFP

Thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong những năm qua cũng thể hiện rõ tư duy trên về tự chủ chiến lược, nhất là cách ứng xử của Ấn Độ trong xử lý quan hệ với các nước lớn. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng, Ấn Độ khéo léo thúc đẩy hợp tác với từng nước trong các lĩnh vực có lợi ích, song duy trì nguyên tắc độc lập, không liên minh, liên kết và bảo vệ lập trường khi cần thiết. Chủ trương tự chủ chiến lược đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đã giúp Ấn Độ giữ được, thậm chí gia tăng giá trị chiến lược trong sự nhìn nhận của tất cả các nước lớn, là nhân tố quan trọng được các bên chú trọng tranh thủ trên các phương diện lợi ích khác nhau, và là “nguồn cảm hứng” cho các chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của các nước trong và ngoài khu vực. Ấn Độ chủ động tham gia và đóng vai trò thành viên tích cực trong Nhóm “Bộ tứ” do Mỹ khởi xướng, công khai chia sẻ nhiều giá trị mà Mỹ thúc đẩy trong chiến lược với khu vực. Sự tham gia của Ấn Độ vào Nhóm “Bộ tứ” và mới đây là Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPEF) không những giúp Ấn Độ nâng cao vị thế quốc tế, phục vụ chính sách “hướng Đông”, mà còn đưa Ấn Độ trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng về kết cấu hạ tầng, năng lượng, thương mại, y tế cùng với các cường quốc phát triển hàng đầu, như Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng tham gia tích cực và có chọn lọc vào một số cơ chế do Trung Quốc khởi xướng, như Nhóm các nền kinh tế lớn mới nổi (BRICS), nhằm tăng cường vị thế chiến lược trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc; đồng thời, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường của Ấn Độ tại khu vực châu Á. Trong lúc khéo léo thúc đẩy quan hệ với các nước lớn, Ấn Độ cũng thể hiện thái độ kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia, như tiếp tục hoàn tất tiếp nhận hệ thống phòng không S-400 từ Nga - đối tác quốc phòng truyền thống số 1 của Ấn Độ - bất chấp sức ép trừng phạt từ Mỹ. Ấn Độ cũng quyết định bỏ phiếu trắng hoặc phiếu chống trong một số dự thảo nghị quyết tại Liên hợp quốc liên quan đến “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại U-crai-na; tiếp tục đẩy mạnh việc mua dầu thô từ Nga(15) và khẳng định không chính trị hóa các giao dịch dầu mỏ hợp pháp của Ấn Độ. Bên cạnh đó, Ấn Độ tăng cường tự chủ chiến lược trước Nga về nguồn cung vũ khí bằng cách đa dạng hóa, tăng tỷ trọng nhập khẩu vũ khí từ Mỹ để giảm sự phụ thuộc vào Nga về nguồn cung. Riêng 10 năm qua, từ năm 2012 - 2022, Ấn Độ đã nhập khoảng 13 tỷ USD khí tài quân sự của Mỹ, qua đó giảm tỷ lệ mua vũ khí, khí tài quân sự từ Nga xuống chỉ còn khoảng 50% - 60% tỷ trọng nhập khẩu vũ khí, khí tài từ nước ngoài của Ấn Độ(16). Mục tiêu của đa dạng hóa hợp tác quốc phòng là nhằm giúp Ấn Độ tăng cường tự chủ chiến lược về quốc phòng, tự phát triển công nghiệp quốc phòng. Ngày 2-9-2022, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi đánh giá việc Ấn Độ biên chế tàu sân bay nội địa đầu tiên Vikrant là ví dụ điển hình của tự chủ trong lĩnh vực quốc phòng của nước này trên cơ sở hợp tác công nghệ và mua máy bay tiêm kích của Nga, Pháp, Mỹ(17).

In-đô-nê-xi-a cũng là một trong những trường hợp được các chuyên gia, học giả quan tâm, đề cập đến nhiều khi nhắc tới cách hành xử theo hướng tự chủ chiến lược ở khu vực. Hầu hết các chuyên gia đều gắn tự chủ chiến lược của In-đô-nê-xi-a với chính sách cân bằng động (dynamic equilibrium) theo truyền thống liên kết(18) với tất cả các nước lớn, đề cao nguyên tắc Băng-đung về tự quyết về chính trị, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ(19).

Tổng thống Indonesia Joko Widodo phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính và Thống đốc ngân hàng trung ương nhóm G20 ở Thủ đô Jakarta, tháng 2-2022_Nguồn: Reuters

Trên thực tế, In-đô-nê-xi-a có cách ứng xử khá thực tế, năng động, linh hoạt trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng. Tận dụng việc coi trọng của các nước lớn, In-đô-nê-xi-a chủ động can dự nhằm tranh thủ các nguồn lực phát triển đất nước, dùng quan hệ với nước này để làm đòn bẩy với nước kia, thúc đẩy vai trò trung gian, hòa giải, cầu nối đối thoại; đồng thời, kiên định duy trì nguyên tắc, lập trường trong các vấn đề có lợi ích dù gặp phải sức ép. Đơn cử như, với Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a coi trọng quan hệ kinh tế - thương mại, sớm bày tỏ thiện chí và tham gia các sáng kiến trọng điểm về kinh tế đối ngoại của Trung Quốc, như Ngân hàng hạ tầng châu Á (AIIB), Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI). Tuy nhiên, việc coi trọng hợp tác kinh tế không có nghĩa In-đô-nê-xi-a sẽ nhân nhượng lợi ích của mình. Trong các thảo luận với phía Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a nhiều lần nhấn mạnh việc hợp tác trong BRI phải phù hợp với các lợi ích của In-đô-nê-xi-a trong chiến lược Trục hàng hải toàn cầu (GMF). Đối với vấn đề an ninh biển, bất chấp các sức ép từ Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a vẫn tiếp tục duy trì các dự án dầu khí tại vùng biển xung quanh quần đảo Natuna mà In-đô-nê-xi-a cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp của mình; đồng thời, chủ động hơn trong việc khẳng định lập trường ủng hộ luật pháp quốc tế tại Biển Đông dù khẳng định mình không phải là một bên tranh chấp. Với Mỹ, In-đô-nê-xi-a tận dụng thúc đẩy các lợi thế từ quan hệ đối tác chiến lược, nhất là việc nâng cao năng lực quân sự, phục vụ kế hoạch hiện đại hóa quốc phòng. Trong nhiều năm qua, Mỹ đã phê duyệt không ít thương vụ bán, hỗ trợ vũ khí, khí tài quân sự hiện đại, có giá trị lớn, tiến hành huấn luyện, tập trận, nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển cho In-đô-nê-xi-a. In-đô-nê-xi-a cũng là quốc gia đầu tiên thúc đẩy Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP), chia sẻ nhiều quan điểm giá trị chiến lược khu vực của Mỹ, như tính mở, bao trùm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN. Tuy nhiên, In-đô-nê-xi-a cũng thể hiện thái độ phản đối rõ ràng với việc Mỹ - Anh - Ô-xtrây-li-a thiết lập Thỏa thuận hợp tác an ninh ba bên (AUKUS), cho rằng thỏa thuận này sẽ châm ngòi cho cuộc chạy đua vũ trang và làm suy giảm ổn định của khu vực. Với tư cách nước chủ nhà Hội nghị cấp cao Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G-20), Tổng thống In-đô-nê-xi-a Giô-cô Uy-đô-đô đã triển khai ngoại giao trung gian hòa giải giữa Nga và U-crai-na với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và an ninh năng lượng, đồng thời thuyết phục Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin và Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình nhận lời tham dự Hội nghị cấp cao G-20, được tổ chức tại In-đô-nê-xi-a vào tháng 11-2022. 

Đối với Liên minh châu Âu (EU), tự chủ chiến lược ban đầu được đề cập trong các thảo luận của EU gắn liền với việc cần thúc đẩy năng lực quân sự. Thông cáo của Ủy ban Kinh tế - Xã hội Nghị viện EU (năm 2013) nhấn mạnh, “châu Âu cần có trách nhiệm đối với an ninh của chính mình và đối với hòa bình, ổn định của thế giới. Điều này đòi hỏi châu Âu cần có mức độ tự chủ nhất định, châu Âu cần là một đối tác tin cậy và có đủ khả năng hành động mà không cần phụ thuộc vào bên thứ ba”(20). Hội đồng châu Âu sau đó đã nâng tầm và cụ thể hóa các lĩnh vực cụ thể để tăng cường tính tự chủ của EU trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Chiến lược toàn cầu mới của EU (năm 2016) khẳng định, “tự chủ chiến lược là nhân tố quan trọng đối với mục tiêu bảo đảm hòa bình, an ninh bên trong và bên ngoài biên giới của các nước EU. Do vậy, EU sẽ tăng cường năng lực về quốc phòng, an ninh mạng, chống khủng bố, năng lượng. Một nền quốc phòng ổn định, đổi mới và cạnh tranh mang ý nghĩa sống còn đối với sự tự chủ chiến lược của EU”(21). Trước những thay đổi của tình hình thế giới, nhất là đại dịch COVID-19 bộc lộ nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và cạnh tranh giữa các nước lớn gia tăng, nhu cầu tăng cường tự chủ chiến lược của EU trong các lĩnh vực khác bước đầu được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Đại diện cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh Giô-xép Bô-ren (Josep Borell) nhiều lần nhấn mạnh, tự chủ chiến lược không nên chỉ được hiểu một cách hạn hẹp trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, như thương mại, tài chính và đầu tư, y tế(22). Điều này không đồng nghĩa với việc cổ xúy cho chủ nghĩa bảo hộ, mà là để bảo vệ độc lập chính trị, làm chủ các quyết định và tương lai của mình(23). Tháng 3-2022, Tuyên bố Véc-xây của Hội nghị thượng đỉnh bất thường của các nhà lãnh đạo châu Âu được tổ chức tại thành phố Véc-xây (Pháp), đã chỉ ra định hướng chiến lược mới cho hoạt động của EU(24), trong đó nhấn mạnh việc EU sẽ tăng cường tự chủ, giảm phụ thuộc, nhất là với các đối thủ cạnh tranh trên ba trụ cột: quốc phòng - an ninh, năng lượng và kinh tế.

Như vậy, chính sách tự chủ chiến lược của EU chú trọng việc thúc đẩy năng lực và giảm sự phụ thuộc của EU trong các lĩnh vực trọng yếu nhằm bảo đảm sự chủ động và độc lập trong các quyết sách, bao gồm đối ngoại. Trong thời gian qua, EU đã có nhiều nỗ lực nhằm hiện thực hóa chính sách này. Một ví dụ điển hình là việc EU thông qua Định hướng chiến lược về an ninh và quốc phòng (tháng 3-2022), quyết định thiết lập lực lượng phản ứng nhanh gồm 5.000 quân giúp độc lập triển khai trong các tình huống khủng hoảng(25). Cho đến nay, đã có 21 quốc gia thành viên của EU, đồng thời là thành viên của NATO, cam kết dành 2% GDP cho chi tiêu quân sự vào năm 2024. Đa số chuyên gia cho rằng, việc tự chủ hơn về quốc phòng sẽ giúp EU chủ động, linh hoạt xử lý các khủng hoảng an ninh quốc tế, giảm phụ thuộc vào quá trình thông qua quyết sách vốn mất nhiều thủ tục của NATO. Nhằm giảm thiểu tối đa các rủi ro đến từ nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng cũng như sự phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh, EU cũng tích cực phối hợp với đồng minh là Mỹ; đồng thời, đang thúc đẩy hợp tác với các đối tác cùng chung chí hướng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (thông qua chiến lược của EU với khu vực) hướng đến việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng trên nhiều lĩnh vực quan trọng như công nghệ, y tế, thiết lập tiêu chuẩn thương mại toàn cầu phù hợp với giá trị, nguyên tắc của EU.

Ngoài ba trường hợp điển hình trên, quan hệ quốc tế cũng chứng kiến xu hướng nhiều quốc gia tuy không trực tiếp đề cập đến khái niệm tự chủ chiến lược, song trong nhiều tuyên bố, chính sách và hành động có nhiều điểm tương đồng, đặc trưng của tự chủ chiến lược, như Thổ Nhĩ Kỳ, Ô-xtrây-li-a, Xin-ga-po, Phi-líp-pin (dưới thời Tổng thống Ph. Mác-cốt)...

Một số hàm ý chính sách

Hiện nay, tình hình thế giới đang trải qua những biến động to lớn, phức tạp. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2022) đã đưa ra một số dự báo về tình hình quốc tế trong những năm tới, trong đó có sự đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn giữa các nước lớn; các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng; cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu; các thách thức an ninh phi truyền thống như dịch bệnh COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp(26). Trong bối cảnh đó, từ thực tiễn phát triển và triển khai chủ trương, chính sách tự chủ chiến lược của các quốc gia, có thể thấy khái niệm tự chủ chiến lược cơ bản có nhiều nét tương đồng với chủ trương, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế của các nước nhỏ, tầm trung, trong đó có Việt Nam.

Từ góc độ lý luận và thực tiễn hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại, tự chủ chiến lược cho thấy một số điểm cần nhấn mạnh:

Thứ nhất, mục đích của tự chủ chiến lược trước hết là để giảm thiểu áp lực, thế bị động từ cạnh tranh nước lớn, ứng xử hiệu quả với các lực kéo, đẩy, sức ép chọn bên, tránh nguy cơ bị “kẹt”. Đa phần các nước nhỏ và các quốc gia tầm trung chủ trương không chọn bên mà đưa ra các lựa chọn dựa trên lợi ích quốc gia - dân tộc, đó là chọn lẽ phải, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Thứ hai, cách tiếp cận tự chủ chiến lược là toàn diện, liên ngành, toàn chính phủ, kết hợp giữa nội lực và huy động tối đa ngoại lực, trong đó nội lực là nền tảng, quyết định, đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng, liên quan đến an ninh quốc gia. Cần bảo đảm hài hòa giữa tự chủ và hội nhập quốc tế, xác định hội nhập quốc tế là xu thế khách quan, nhưng trong hội nhập, cần “lấy nội lực là cơ bản, là chiến lược lâu dài, là nhân tố quyết định, gắn với tranh thủ ngoại lực - nhân tố quan trọng, cần thiết, thường xuyên, đột phá”(27). Để củng cố nội lực, cần ưu tiên đồng bộ thể chế phát triển, xác định các lĩnh vực trọng yếu để tăng cường và củng cố hơn nữa khả năng tự chủ như kinh tế, công nghệ, lương thực, năng lượng song song với việc tìm kiếm cơ hội từ các đối tác tin cậy để bảo đảm chuỗi cung ứng bền vững trong các tình huống xảy ra khủng hoảng.

Thứ ba, tự chủ chiến lược không phải là biệt lập, trung lập cực đoan hay phản ứng thụ động mà trái lại càng phải đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, linh hoạt, đa dạng hóa, đa phương hóa (đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, công nghệ...), chủ động thích ứng và tham gia điều chỉnh, xây dựng, định hình các “luật chơi” chung trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Thứ tư, tự chủ chiến lược mở ra nhiều cơ hội cho các nước nhỏ và các nước tầm trung, nhất là trong việc đầu tư thúc đẩy các hình thức ngoại giao chuyên biệt(28), hợp tác nhóm, tiểu đa phương, phát huy vai trò cầu nối đối thoại, trung gian, hòa giải(29)./.

-------------------------

(1) S. Kalyanaraman: “Aravind Devanathan asked: What is ‘strategic autonomy’? How does it help India’s security?” (Tạm dịch: Aravind Devanathan hỏi: “Tự chủ chiến lược” là gì? Nó giúp ích gì cho an ninh của Ấn Độ?), Manohar Parrika Institute for Defence Studies and Analyses, ngày 20-1-2015, https://idsa.in/askanexpert/strategicautonomy_indiasecurity
(2) Jeff M. Smith: “Strategic Autonomy and US - Indian Relations” (Tạm dịch: Tự chủ chiến lược và quan hệ Mỹ - Ấn Độ),  ngày 6-11-2020, https://warontherocks.com/2020/11/strategic-autonomy-and-u-s-indian-relations/
(3) Nathalie Tocci: “European Strategic Autonomy: What It Is, Why We Need It, How to Achieve It” (Tạm dịch: Tự chủ chiến lược của châu Âu: Nó là gì, tại sao chúng ta cần nó, làm thế nào để đạt được nó), Istituto Affari Internazionali, 2021, https://www.iai.it/sites/default/files/9788893681780.pdf
(4) Barbara Lippert - Nicolai von Ondarza - Volker Perthes: “European Strategic Autonomy: Actors, Issues, Conflicts of Interests” (Tạm dịch: Tự chủ chiến lược của châu Âu: Tác nhân, vấn đề, xung đột lợi ích), SWP Research Paper, tháng 3-2019, https://www.swp-berlin.org/publications/products/research_papers/2019RP04_lpt_orz_prt_web.pdf
(5) Evan A. Laksmana: “Southeast Asian Militaries: The Need to Boost Strategic Autonomy” (Tạm dịch: Quân đội Đông Nam Á: Cần tăng cường tự chủ chiến lược), Fulcrum, ngày 23-12-2021, https://fulcrum.sg/southeast-asian-militaries-the-need-to-boost-strategic-autonomy/
(6) Evan A. Laksmana: “Southeast Asian Militaries: The Need to Boost Strategic Autonomy” (Tạm dịch: Quân đội Đông Nam Á: Cần tăng cường tự chủ chiến lược), Tlđd
(7) Vitor Bento: “Strategic Autonomy and Economic Power” (Tạm dịch: Tự chủ chiến lược và quyền lực kinh tế), Routledge, ngày 5-8-2022,##https://www.taylorfrancis com/books/mono/10.4324/9781003248392/strategic autonomy-economic-power-vitor-bento
(8) Suzana Anghel - Beatrix Immenkamp - Elena Lazarou: “On the path to ‘strategic autonomy’” (Tạm dịch: Trên con đường đến “tự chủ chiến lược”), European Parliamentary Research Service, tháng 9-2020, https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/STUD/2020/652096/EPRS_STU(2020)652096_EN.pdf
(9) Trong thời gian này, Trung Quốc vươn lên là cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới, đưa ra một số điều chỉnh chính sách về đối ngoại theo hướng từ bỏ “giấu mình chờ thời”; chính quyền Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma đề ra và triển khai chính sách “tái cân bằng”, không chấp nhận đề nghị của Trung Quốc về xác lập mô hình “G2” hay “quan hệ nước lớn kiểu mới”
(10) Sreeram Chaulia: “A self - reliant foreign policy” (Tạm dịch: Chính sách đối ngoại tự chủ), The Hindu, ngày 13-8-2020, https://www.thehindu.com/opinion/op-ed/a-self-reliant-foreign-policy/article32339890.ece
(11) Honourable Membersa: “Address to Parliament” (Tạm dịch: Diễn văn trước Quốc hội), ngày 25-10-1999, https://eparlib.nic.in/bitstream/123456789/4004/1/narayanan_25_10_1999.pdf search=
(12) Jeff M. Smith: “Strategic Autonomy and US - Indian Relations” (Tạm dịch: Tự chủ chiến lược và quan hệ Mỹ - Ấn Độ), Tlđd  
(13) Bài phát biểu của Ngoại trưởng X. Giai-san-ca (S. Jaishankar) về “Tầm nhìn của Ấn Độ về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, Bộ Ngoại giao Ấn Độ, ngày 18-8-2022, https://www.mea.gov.in/Speeches-Statements.htm?dtl%2F35641%2FAddress_by_External_Affairs_Minister_Dr_S_Jaishankar_at_the_Chulalongkorn_University_on_Indias_Vision_of_the_IndoPacific&fbclid=IwAR3ywjCOMtWTekDEJoKRP072QQ_V_J9XOYzQZUMCS6jDVr2pMX6dJpmZ_ZY; Bài phát biểu của Ngoại trưởng X. Giai-san-ca tại Viện Chính sách xã hội châu Á ở Thủ đô Niu Đê-li (Ấn Độ), Bộ Ngoại giao Ấn Độ, ngày 29-8-2022, https://www.mea.gov.in/Speeches-Statements.htm?dtl%2F35662%2FRemarks_by_External_Affairs_Minister_Dr_S_Jaishankar_at_the_launch_of_Asia_Society_Policy_Institute#.Yw5-p0gabtM.twitter.
(14) Rajiv Bhatia: “India and Strategic Autonomy” (Tạm dịch: Ấn Độ và tự chủ chiến lược), Gateway House, Bộ Ngoại giao Ấn Độ, ngày 12-2-2019, https://www.gatewayhouse.in/india-strategic-autonomy/.
(15) Refinitiv - một công ty của Tập đoàn giao dịch chứng khoán Luân Đôn (Anh) ước tính khoảng 3,36 triệu tấn dầu thô Nga đã đến Ấn Độ vào tháng 5-2022, gấp 9 lần trung bình tháng 5-2021
(16) Xem: PTI: “Russia’s share of arms import to India fell from 69% in 2012-17 to 46% in 2017 - 21: Report” (Tạm dịch: Thị phần nhập khẩu vũ khí của Nga cho Ấn Độ giảm từ 69% trong các năm 2012 - 2017 xuống còn 46% trong các năm 2017 - 2021: Báo cáo), ngày 15-3-2022, https://economictimes.indiatimes.com/news/defence/russias-share-of-arms-import-to-india-fell-from-69-in-2012-17-to-46-in-2017-21 report/articleshow/90218483.cms?utm_source=contentofinterest&utm_medium=text&utm_campaign=cppst; Forum on the Arams Trade: “U.S. Arms Sales to India” (Tạm dịch: Bán vũ khí của Hoa Kỳ cho Ấn Độ), 2021, https://www.forumarmstrade.org/usindia.html
(17) Nguyễn Tiến: “Ấn Độ biên chế tàu sân bay nội địa đầu tiên”, Báo Thanh niên điện tử, ngày 2-9-2022, https://thanhnien.vn/an-do-bien-che-tau-san-bay-noi-dia-dau-tien-post1495823.html
(18) In-đô-nê-xi-a là một trong 5 nước sáng lập Phong trào Không liên kết vào năm 1955
(19) Xem: Office of the Historian: “Bandung Conference (Asian-African Conference), 1955” (Tạm dịch: Hội nghị Bandung (Diễn đàn Á - Phi), 1955), Foreign Service Institute United States Department of State, truy cập ngày 12-9-2022, https://history.state.gov/milestones/1953-1960/bandung-conf
(20) European Commission: “Communication from the Commission to the European Parliament, the Council, the European Economic and Social Committee and the Committee of the Regions: Towards a more competitive and efficient defence and security sector” (Tạm dịch: Liên lạc từ Ủy ban tới Nghị viện châu Âu, Hội đồng, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Âu và Ủy ban các khu vực: Hướng tới một khu vực quốc phòng và an ninh cạnh tranh và hiệu quả hơn), ngày 24-7-2013, https://eurlex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:52013DC0542&from=EN
(21) Shared Vision - Common Action: “A Stronger Europe - A Global Strategy for the European Union’s Foreign and Security Policy” (Tạm dịch: Một châu Âu mạnh hơn - Chiến lược toàn cầu cho chính sách đối ngoại và an ninh của Liên minh châu Âu), The Diplomatic Service of the European Union, ngày 15-12-2019, https://eeas.europa.eu/topics/eu-global-strategy/17304/node/17304_fr
(22) Josep Borell:  “Why European strategic autonomy matters” (Tạm dịch: Tại sao tự chủ chiến lược của châu Âu lại quan trọng), The Diplomatic Service of the European Union, ngày 3-12-2020, https://eeas.europa.eu/headquarters/headquarters-homepage/90963/node/90963_en
(23) Josep Borell: “Europe’s Watershed Year” (Tạm dịch: Năm đầu nguồn của châu Âu), Project Syndicate, ngày 7-1-2021, https://www.project-syndicate.org/onpoint/europe-covid-response-and-future-agenda-by-josep-borrell-2021-01
(24) “Informal meeting of the Heads of State or Government Versailles Declaration” (Tạm dịch: Cuộc họp không chính thức giữa những người đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ tại Véc-xây), ngày 11-3-2022, https://presidence-francaise.consilium.europa.eu/media/qphpn2e3/20220311-versailles-declaration-en.pdf
(25) Strategic Communications: “A Strategic Compass for the EU” (Tạm dịch: La bàn chiến lược cho EU), The Diplomatic Service of the European Union, ngày 21-2-2022, https://eeas.europa.eu/headquarters/headquarters-homepage_en/89047/A%20Strategic%20Compass%20for%20the%20EU
(26) Xem: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr.  105 - 107
(27) Phạm Minh Chính: “Chân thành, lòng tin và trách nhiệm vì một thế giới tốt đẹp hơn”, Tạp chí Cộng sản, số 990, tháng 5-2022, tr. 24
(28) Xem: Vũ Lê Thái Hoàng (chủ biên): Ngoại giao chuyên biệt: Hướng đi, ưu tiên mới của Ngoại giao Việt Nam đến năm 2030, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2020; Vũ Lê Thái Hoàng - Đỗ Thị Thủy: “Quốc gia tầm trung với định hướng ngoại giao chuyên biệt: Một số gợi ý cho Việt Nam đến năm 2030”, Tạp chí Cộng sản, số 967, tháng 6-2021, tr. 99 - 104
(29) Xem: Vũ Lê Thái Hoàng - Lê Trung Kiên: “Cơ chế hợp tác nhóm: Thực tiễn quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 975, tháng 10-2021, tr. 104 - 111

                                                                                        Nguồn: TS. VŨ LÊ THÁI HOÀNG - TRẦN HÀ MY

                                    Viện Nghiên cứu chiến lược và ngoại giao, Học viện Ngoại giao - Vụ châu Mỹ, Bộ Ngoại giao

 Cách mạng Tháng Mười - Bài học đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế

Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại. (Nguồn: tapchicongsan.org.vn)

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA - TRANG SỬ MỚI CỦA NƯỚC NGA

Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917) mở ra trang sử mới đối với nước Nga và tiến trình phát triển của nhân loại - cuộc cách mạng mang sứ mệnh khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực. Cách mạng tháng Mười đã đi vào lịch sử với tính chất đột phá mở đường và dẫn đường, là một thành tựu lớn trong tiến trình của lịch sử nhân loại với lý tưởng vô cùng cao đẹp là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, thực hiện hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Là cuộc cách mạng đánh dấu bước chuyển biến về chất của CNXH khoa học: từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động. V.I.Lênin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho “một thời đại mới trong lịch sử loài người”, “một sự nghiệp mới mẻ sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất... Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(1).

Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga (tổ chức ngày 5/11/2017), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Cách mạng tháng Mười Nga đã làm rung chuyển thế giới, phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, những tiên đoán của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã trở thành hiện thực trên một phần sáu địa cầu. Lần đầu tiên rong lịch sử, những người lao động đã đứng lên giành lấy chính quyền về tay mình để xây dựng một xã hội hoàn toàn mới. Một nhà nước kiểu mới dưới hình thức các xô viết đã hình thành và được V.I.Lênin đánh giá là chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân”.

Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga do Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức tại Hà Nội ngày 5/11/2017.

Cách mạng tháng Mười Nga làm nổ tung mắt xích yếu nhất trong hệ thống tư bản chủ nghĩa (TBCN), mở ra kỷ nguyên mới cho loài người, các quốc gia cùng đứng lên giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Cách mạng tháng Mười đã dẫn dắt các dân tộc đứng lên giành độc lập và đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Thế chiến II.

Đến nay, dấu ấn tròn 105 năm trôi qua vẫn không làm phai nhạt sức sống trường tồn, giá trị khai mở và tinh thần khai sáng cho nhân loại.

Thứ nhất, Cách mạng Tháng Mười đã đưa nước Nga trở thành nước đầu tiên trên thế giới bước vào thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH.

Cách mạng Tháng Mười đã xóa bỏ chế độ Nga hoàng và giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, xóa bỏ áp bức giai cấp, áp bức dân tộc… đưa nhân dân lao động Nga lên làm chủ đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng ngàn đời của nhân loại cần lao mong muốn thoát khỏi cảnh áp bức, bóc lột, bất công; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc đã trở thành hiện thực sinh động của hàng trăm triệu con người, nhiều dân tộc ngưỡng vọng, phấn đấu noi theo.

Như vậy, Cách mạng Tháng Mười đã biến CNXH khoa học từ lý luận trở thành hiện thực; CNXH đã phủ định CNTB. Từ đây, chiều hướng phát triển chủ yếu, trục xuyên suốt của sự vận động lịch sử là đấu tranh xóa bỏ trật tự TBCN, thiết lập và từng bước xây dựng CNXH trên phạm vi thế giới. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), phong trào cộng sản và công nhân quốc tế dần trở thành lực lượng nòng cốt của các phong trào cách mạng. Phong trào giải phóng dân tộc đã có xu hướng đi theo con đường XHCN.

Thứ hai, nước Nga Xôviết, tiếp sau là Liên Xô - thành quả của Cách mạng Tháng Mười, đã sáng tạo nên những giá trị Xôviết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo.

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính quyền Xôviết đã ban hành những sắc lệnh nổi tiếng: Sắc lệnh hòa bình, Sắc lệnh về ruộng đất, đồng thời ban hành hàng loạt chính sách tiến bộ như: ngày làm 8 giờ, giáo dục không mất tiền, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng, tách nhà thờ khỏi nhà trường… Và, trong 74 năm (1917-1991) xây dựng và phát triển, Liên Xô đã vươn lên trở thành một cường quốc có vị thế lớn trên trường quốc tế. Từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp hàng đầu; kinh tế tăng trưởng hàng năm với tốc độ bình quân vài chục phần trăm. Các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có sự phát triển vượt bậc, trở thành một dân tộc có nền văn hoá cao, phổ cập giáo dục rộng rãi nhất. Liên Xô đi tiên phong trong nhiều ngành khoa học như: vũ trụ, hạt nhân, sinh học.... Liên Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi Nước Nga Sa hoàng, đem đến cho họ cuộc sống mới, tốt đẹp hơn; tăng cường sự đoàn kết, hữu nghị, giao lưu hòa hợp và xích lại gần nhau giữa các dân tộc. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác như: Quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo… Đó chính là những giá trị xã hội XHCN ưu việt do Liên Xô tạo nên. Những giá trị này, đã buộc CNTB phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “việc tổ chức ra các Xôviết này mở đầu cho một cái gì lớn lao, mới mẻ, từ trước tới lúc bấy giờ chưa hề có trong lịch sử cách mạng thế giới. Các Xôviết do nhân dân hoàn toàn tự động sáng tạo ra là hình thức của nền dân chủ chưa từng có trong một nước nào cả”(2). “Các Xôviết là một hình thức dân chủ cao hơn nhiều, hoàn hảo hơn nhiều, hợp lí hơn nhiều so với Quốc hội lập hiến, vì các Xôviết đại biểu cho nền dân chủ của những người lao động”(3).

V.I.Lênin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Moskva trong Lễ kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, ngày 7/11/1918. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Thứ ba, Liên Xô đã trở thành trụ cột để giúp đỡ to lớn phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế cũng như phong trào giải phóng dân tộc.

CNXH hiện thực đứng đầu là Liên Xô đã từng là lực lượng lớn mạnh, có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự to lớn, đủ sức răn đe, ngăn chặn sự hiếu chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít. Nhờ đó, CNXH từ sau chiến tranh thế giới II (1939-1945) đã trở thành một hệ thống thế giới mang tính đối trọng với CNTB đế quốc và là một con đường phát triển, một hình mẫu của tổ chức xã hội mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Sự lựa chọn con đường XHCN đã trở thành một xu thế lớn (thời kỳ này đã có 26 nước định hướng đi theo con đường XHCN). CNXH hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới trong thế kỷ XX, làm thay đổi sâu sắc cục diện thế giới. Nếu không có Cách mạng Tháng Mười, không có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN, thì những biến đổi tiến bộ trên thế giới ắt đã bị chậm lại.

BÀI HỌC ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Cách mạng Tháng Mười, cả những thành công và hạn chế của nó, đã để lại nhiều bài học quý giá, đã khơi dậy bao nhiêu cảm xúc và trăn trở trong lương tri của nhân loại. Nhưng, con đường đi lên CNXH do Cách mạng Tháng Mười Nga khai mở vẫn là giải pháp đúng đắn duy nhất và cần thiết cho cho nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Cách mạng Tháng Mười Nga - chân dung lớn của thế kỷ XX, vẫn tỏa sáng, có sức lôi cuốn kỳ lạ bởi những giá trị không đổi.

Bài học về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Cách mạng Tháng Mười Nga đã sáng tạo ra một nhà nước Nga Xôviết sau đó là nhà nước Liên Xô, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động, trong 74 năm đã phát huy cao độ sức sáng tạo và đáp ứng lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động - điều chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Về tổng thể, bộ máy nhà nước đó có kết cấu hợp lí, đảm bảo quyền thực sự của nhân dân, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, giữa các cấp từ trung ương đến địa phương, thực hiện tốt các chức năng cơ bản trong tổ chức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, nhất là giai đoạn 1970-1980, bộ máy đó bị biến dạng: tổ chức cồng kềnh, quan liêu, trì trệ, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả… là một trong những lí do dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô.

Bài học đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp; chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả. Cách mạng Tháng Mười Nga đã biết chớp thời cơ “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả, thực hiện tốt các nghĩa vụ quốc tế vô sản. Liên Xô thực sự trở thành căn cứ địa, thành trì cách mạng thế giới. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô và các nước XHCN. Tuy nhiên, vào giai đoạn 1970-1980, cơ chế quan hệ, hợp tác và tính hiệu quả trong tương trợ, giúp đỡ giữa các nước XHCN chưa tốt đã phần nào hạn chế đến sức mạnh của mỗi nước, cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Bài học về tính tất yếu phải liên minh giai cấp công nhân - nông dân. Cách mạng Tháng Mười đã xây dựng được khối liên minh công - nông, nhất là liên minh với những người nông dân mặc áo lính, nhờ đó vừa làm phân hoá, tan rã kẻ thù, vừa tăng cường được lực lượng cách mạng để làm nên một cuộc cách mạng “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Trong suốt quá trình xây dựng CNXH, khối liên minh công - nông - trí đã không ngừng được củng cố, tăng cường, góp phần làm nên sức mạnh Xôviết. 

Bài học về sử dụng bạo lực kiên quyết, triệt để, mau lẹ để giành và giữ chính quyền. Trong Cách mạng Tháng Mười, khi kẻ thù đã sử dụng bạo lực để đàn áp cách mạng, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã chỉ đạo sử dụng bạo lực, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quyết định mau lẹ, quyết đoán, sáng tạo, kịp thời, đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười. Trong 74 năm tồn tại, Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô luôn chú trọng xây dựng quân đội và hải quân hùng mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vào giai đoạn 1970-1980, trong cải tổ vấn đề này chưa được quan tâm và giải quyết đúng đắn, nên đã phải trả giá đắt.

Bài học về đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng chống cộng, cơ hội, xét lại. Trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền, xây dựng, phát triển đất nước, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô đã đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng chống cộng của các đế quốc; tư tưởng cơ hội xét lại trong các phái: Mensevích, Khơrútsốp… Tuy nhiên, trong giai đoạn cải tổ, các tư tưởng chống cộng điên cuồng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc; tư tưởng cơ hội, xét lại của một số người đứng đầu không được nhận diện kịp thời và đấu tranh kiên quyết nên đã làm phân liệt, tan rã Đảng Cộng sản và Nhà nước Xôviết.

Bài học về tính tất yếu phải có chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, của chiến tranh Vệ quốc và xây dựng phát triển đất nước. Đảng đã nắm vững tình thế, thời cơ cách mạng; xác định rõ mục tiêu, lực lượng, phương pháp cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiến đấu bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi bộ mặt hành tinh, buộc chủ nghĩa đế quốc phải điều chỉnh, thích ứng. Tuy nhiên, vào những năm 1970-1980, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, vì không tuân thủ đúng học thuyết xây dựng đảng kiểu mới của V.I.Lênin khiến dẫn đến vi phạm dân chủ, quan liêu, bao biện làm thay nhà nước, tham nhũng; cải tổ không đúng nguyên tắc, xa rời, từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng... và đã phải trả giá đắt, đó là sự sụp đổ mô hình XHCN.

Với Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười Nga có ảnh hưởng to lớn. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với Cách mạng Tháng Mười. Người đã xác định rõ cách mạng Việt Nam phải đi theo Cách mạng Tháng Mười, bởi: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi”(4). Từ đây, Người xác định rõ con đường, lực lượng, phương pháp cách mạng Việt Nam: đánh đổ thực dân phong kiến, tư sản phản động, giành độc lập dân tộc, đi lên CNXH. Lực lượng cơ bản của cách mạng là công nông: “Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ… là bầu bạn của cách mệnh”(5); sử dụng phương pháp bạo lực của quần chúng nhân dân: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”(6); cách mạng Việt Nam cũng là một bộ phận và quan hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới, để chống lại tư sản và đế quốc. Tuy vậy, chúng ta không được trông chờ, ỷ lại mà phải phát huy sức mạnh dân tộc, “lấy sức ta giải phóng cho ta”.

Để cách mạng Việt Nam thắng lợi nhất thiết phải phải xây dựng được một Đảng kiên trung, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nòng cốt: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(7). “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(8). Từ đó Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam; tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh - đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 - 1931 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)

Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, Liên Xô đã ủng hộ to lớn, toàn diện công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng CNXH của nhân dân ta. Nếu không có sự giúp đỡ quý báu, chí tình, chí nghĩa đó, cách mạng Việt Nam ắt sẽ gặp không ít khó khăn, và khó có được thành tựu như hiện nay. Chúng ta biết ơn sự ủng hộ giúp đỡ vô cùng trong sáng, vô tư, to lớn, quý báu đó.

Dù còn có quanh co, phức tạp, thụt lùi tạm thời, nhưng loài người tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhân loại tiến bộ luôn ghi nhận, biết ơn Cách mạng Tháng Mười Nga - một sự kiện vĩ đại có ý nghĩa đột phá, mở đường để nhân loại tiến vào một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN tiến bộ, nhân văn, tất cả vì con người, sự phát triển toàn diện của con người. Lý tưởng và giá trị tốt đẹp của Cách mạng Tháng Mười vẫn luôn cỗ vũ, dẫn đường cho chúng ta đi đến tương lai, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

                                                                                Nguồn: Đại tá. TS. Nguyễn Văn Phương
                                                                                Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự

                                                                                    Đại tá, ThS. Phạm Văn Quynh
                                                                                    Học Viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

ĐINH HỮU THOẠI TIẾP TỤC THÁCH THỨC CHÍNH QUYỀN

 


Nếu như những năm gần đây khi nhắc đến các linh mục trong Công giáo chống phá, không có thiện chí với chính quyền ở các tỉnh phía Bắc thì có linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong (Hà Nội), Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam (Nghệ An), Bùi Khiêm Cường (Hà Tĩnh) còn các tỉnh phía Nam thì có linh mục Nguyễn Duy Tân (Đồng Nai), Đinh Hữu Thoại (Quảng Nam). Sau những hình phạt xử lý của đấng bề trên giáo hội Công giáo cũng như những hình thức xử phạt nghiêm minh của chính quyền, lực lượng chức năng, thời gian gần đây linh mục Đinh Hữu Thoại (linh mục phụ tá giáo xứ Tiên Phước, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) đang cho thấy bản chất của một vị linh mục đang muốn thách thức chính quyền, thách thức giáo hội công giáo khi liên tiếp đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết xuyên tạc sai sự thật, xuyên tạc, vu cáo, bôi lem các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, chia rẽ nội bộ giáo hội Công giáo và cổ vũ cho những kẻ đã bị bắt, xử lý về các hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá đất nước.

Lẽ ra, với trách nhiệm, bổn phận của mình về đời và đạo lẽ ra bên cạnh việc rao giảng về Kinh thánh, giáo lý, giáo luật cho đàn chiên thì người chủ chăn, linh mục cần nghiên cứu, tìm hiểu cặn kẽ về đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền, vận động giáo dân tự giác chấp hành và thực hiện nghĩa vụ bổn phận của giáo dân với Tổ quốc, với quê hương và nêu cao tinh thần đoàn kết lương giáo trong chính sách đại đoàn kết dân tộc. Vậy nhưng trái ngược lại, trên facebook cá nhân mang tên “Đinh Hữu Thoại”, vị linh mục này thường xuyên chia sẻ các bài viết của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí như “Việt Tân”, “VOA Tiếng Việt”, Mạc Văn Trang… và đăng tải nhiều bài viết đi ngược lại chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận những thành quả của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ngay cả sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 vào ngày 11/10/2022 vừa qua, vị linh mục này cũng có những bài viết thể hiện sự lạc lõng khi phủ nhận những thành tựu của Việt Nam, phủ nhận vị trí, vai trò của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Hay gần đây, khi Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ông Trần Sỹ Thanh có đề xuất về việc mỗi ô tô nên có mã số định danh riêng và có số dư tài khoản vị linh mục Đinh Hữu Thoại đã ngay lập tức đưa ra những lời lẽ xuyên tạc, bôi lem người đứng đầu thành phố về chủ trương này. Về sự hợp lý của chủ trương này có lẽ không cần đề cập nhiều nữa vì nhiều tờ báo đã phân tích, đánh giá kỹ và thực tế nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã tiến hành nên nếu Việt Nam thực hiện được vấn đề này thì sẽ giúp cho việc quản lý ngày càng đơn giản hơn rất nhiều. Chỉ có những kẻ không muốn đất nước phát triển, không tự hào về những gì đất nước Việt Nam đã, đang làm được như Đinh Hữu Thoại mới có thể buông ra những lời lẽ thiếu suy nghĩ như vậy.

Còn đối với việc Đinh Hữu Thoại đưa ra những lời lẽ để vu cáo, bôi lem các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong đó có những người đứng đầu thủ đô Hà Nội trong thời gian gần đây khi có những chủ trương, chính sách đối với người dân thủ đô đã được page Việt Nam Thời báo đề cập ở nhiều bài viết trước. Vậy nhưng có lẽ vi linh mục này vẫn “coi trời bằng vung” thể hiện sự thách thức chính quyền, thách thức pháp luật và thách thức của giáo hội.

Nên nhớ rằng Đinh Hữu Thoại cũng đã từng được chỉ mặt điểm tên trên truyền hình và trên các mặt báo về những hành vi tương tự của mình. Cách đây không lâu với những hành vi đăng tải nội dung xuyên tạc trên không gian mạng về công tác phòng, chống dịch COVID-19, ngày 02/10/2021, Đài Truyền hình tỉnh Quảng Nam có chương trình bản tin vạch rõ bộ mặt hành vi bôi nhọ, xuyên tạc công tác chống dịch của Đảng và Nhà nước; đồng thời báo Công an nhân dân có đăng tải bài viết trên chuyên mục Bản tin 113 với tiêu đề “Cần xử lý nghiêm hành vi vi phạm của linh mục Đinh Hữu Thoại”. Có lẽ rằng, đã đến lúc cái tên Đinh Hữu Thoại cần được các cơ quan chức năng “gọi tên” thêm vài lần nữa với những hình thức xử lý nghiêm khắc hơn!!!

HIỂU RÕ VẤN ĐỀ NGỤY BIỆN CỦA NGỤY SỬ

 

1. Nguỵ biện thứ nhất: đòi công nhận chính danh cho chế độ nguỵ quyền Sài Gòn vì "họ cũng có công giữ gìn, bảo vệ lãnh thổ", thậm chí đòi vinh danh lính nguỵ vì "họ cũng là con dân Việt Nam, họ cũng yêu nước" và dẫn cả lời Bác Hồ rằng "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" để bảo vệ cho đòi hỏi đó.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế nguỵ quyền giữ lãnh thổ cho Mỹ, lính nguỵ chết ở Hoàng Sa là do bị bán đứng. Đồng thời lờ đi ý nghĩa lời Bác nói là khẳng định chỉ có một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và chính Bác luôn gọi rõ tên nguỵ quyền nguỵ quân, Bác cũng luôn chỉ rõ Việt gian thì cần phải trừng trị! "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào"!

2. Nguỵ biện thứ hai: đòi thay thế từ "nguỵ" bằng "Việt Nam cộng hoà" là để hoà hợp hoà giải.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi việc ta đã thực hiện hoà hợp hoà giải ngay trong quá trình giải phóng cho đến ngày nay, bằng thực tâm và các giải pháp toàn diện. Còn theo ý họ "bỏ từ nguỵ" thì chỉ hoà hợp hoà giải với một nhúm nguỵ cực đoan, kết quả đâu chưa thấy, đã thấy nhiều người cảm giác bị phản bội, lũ nguỵ được đằng chân lân đằng đầu càng chống phá điên cuồng hơn, trong khi hàng triệu CCB và gia đình TBLS thì đau đớn, nổi giận.

3. Nguỵ biện thứ ba: cho rằng dùng từ "nguỵ" là miệt thị, và từ đó ngôn ngữ quốc tế không có!

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi nghĩa của từ "nguỵ quân, nguỵ quyền" là danh từ để chỉ một chế độ không chính danh, một đội quân không chính nghĩa chứ không phải chỉ là tính từ biểu cảm. Và tiếng quốc tế có đủ để dịch (nếu họ đọc), ví như trong tiếng Anh có "Government mandate - Chính phủ uỷ nhiệm", "puppet government - chính quyền bù nhìn", "Fictional state - nhà nước hư cấu", hoặc đơn giản nhất là "fake government - chính phủ giả hiệu"!

4. Nguỵ biện thứ tư:

đòi "công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà là để có thể kế thừa các thành tựu kinh tế - văn hoá - giáo dục,...".

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế rằng chính người Mỹ (TNS Fulbright và nhiều chính khách khác) đã nhận xét thẳng thừng: "chỉ có 5% dân số ủng hộ VNCH, 10% trung lập, còn lại tất cả đều theo Việt Cộng", "VNCH chỉ kiểm soát được 20% lãnh thổ, 80% nằm trong tay Việt Cộng"! Và 20 % lãnh thổ khi đó thì "Sài Gòn chỉ là cái động đ""ĩ của Mỹ" với "một nền kinh tế dựa trên chợ đen, ma tuý và đ""ĩ đi""ếm", đó là chưa nói đến việc hoàn toàn dựa vào viện trợ Mỹ và do Hoa kiều (Ba Tàu) kiểm soát, thao túng hầu hết!

Vv và vv, có thể bổ sung rất nhiều những nguỵ biện khác.

Tóm lại: Tất cả những diễn giải của đám nguỵ sử và của cả một vài vị nọ vị kia chỉ là nguỵ biện, phục vụ cho âm mưu đào bới, xét lại lịch sử, rửa mặt và phục dựng thây m"a cờ vàng nhằm chia rẽ nhân tâm, phá hoại sự thống nhất "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", hòng đánh đổ từ bên trong chế độ ưu việt : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều mà thực dân, đế quốc và bành trướng không thể thực hiện được.

Kết luận: lịch sử thì phải viết đúng theo lịch sử. Nguỵ muôn đời là ngụy!

TẠI SAO GIUSE ĐINH HỮU THOẠI ĐỒNG LOÃ VỚI TỔ CHỨC KH.ỦNG BỐ “VIỆT TÂN”

 


 “Việt Tân” là tổ chức kh.ủng bố, thông tin này đã được Bộ Công an đưa ra từ ngày 04/10/2016 và thông tin chính thức của Bộ Công an đã đưa ra thì người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vậy nhưng đáng tiếc thay khi trong cộng đoàn, tín hữu Người Công giáo vẫn có một số người, thậm chí là một số Cha xứ thường xuyên chia sẻ những bài viết của tổ chức kh.ủng bố “Việt Tân” với những lời lẽ thiếu thiện chí, thiếu khách quan. Điển hình trong số đó có lẽ phải kể đến Cha Giuse Đinh Hữu Thoại.

Mặc dù không ít lần bị lực lượng chức năng xử lý, thậm chí đã được truyền hình tỉnh Quảng Nam, báo Công an nhân dân đề cập đến trong thời gian qua nhưng có vẻ như Đinh Hữu Thoại đang muốn thông qua việc sử dụng facebook cá nhân để thể hiện thái độ thiếu thiện chí với chính quyền với tần suất ngày càng nhiều hơn. Theo dõi facebook cá nhân của Đinh Hữu Thoại có thể thấy, Giuse Đinh Hữu Thoại thường xuyên chia sẻ các bài viết của “Việt Tân”, BBC, VOA Tiếng Việt cùng với đó là những nội dung chưa được kiểm chứng hướng đến để hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Trong đó, đối với thủ đô Hà Nội, từ khi ông Trần Sỹ Thanh, được bầu làm Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đến nay, Đinh Hữu Thoại đã đăng tải không ít các bài viết thể hiện cách nhìn phiến diện, thậm chí nhiều người cho rằng đó là sự vu cáo sai sự thật nhằm hạ uy tín Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Và hình ảnh được cắt từ bài viết của Giuse Đinh Hữu Thoại mới đây liên quan đến việc ông Trần Sỹ Thanh đưa ra đề xuất về có mã số định danh cho xe ô tô cũng đủ cho thấy điều đó. Những từ ngữ, ngôn từ mà Giuse Đinh Hữu Thoại đề cập thực sự đang cho thấy việc cộng đoàn, tín hữu Người Công giáo cũng như người dân lên án trước các hành động của Đinh Hữu Thoại trong thời gian gần đây là điều hoàn toàn có cơ sở và hợp lý. Với viễn cảnh này thì việc các lực lượng chức năng sẽ liên lạc với Cha Giuse Đinh Hữu Thoại trong thời gian tới và có thể sẽ phải đối diện với những hình thức xử lý về mặt pháp luật là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Phải chăng điều đó Giuse Đinh Hữu Thoại không biết?

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH - NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tuy nhiên, đối với bất cứ một đảng cầm quyền nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... luôn hiện hữu. Do vậy, để giữ vững bản chất, uy tín và năng lực lãnh đạo, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần nêu gương, nâng cao trách nhiệm, kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa... Đây chính là “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hại, nếu không chống sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và sự phát triển của đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tập trung xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Đây chính là cơ sở để giữ vững niềm tin và tạo sự ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền. Bởi vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

GIÀN THUN BẮN LỰU ĐẠN - ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT ĐÁNH DU KÍCH CỦA VIỆT NAM



Chiến tranh đã lùi xa, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Tổng kết sau chiến tranh, nguyên nhân dẫn đến thắng lợi thì nhiều nhưng có một nguyên nhân nho nhỏ đã góp phần rất lớn để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, đó là "Nghệ thuật đánh du kích". Vâng! Du kích chiến hay nói nôm na là cách đánh du kích của ta vừa linh hoạt, sáng tạo vừa độc đáo, táo bạo đã bao phen làm cho kẻ thù bạt vía, kinh hoàng.
Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả.
Người có sáng kiến làm ra cái giàn thun bắn lựu đạn là ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang, nguyên Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng). Trung tướng Nguyễn Việt Thành cũng là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác.
Theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ"… Giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, du kích Việt Nam đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.
Sau Hiệp định Pari, địch không những không chấp hành nghiêm chỉnh mà còn xua quân thực hiện kế hoạch "cắm cờ giành dân, lấn đất", "phá thế da beo", "tràn ngập lãnh thổ". Lấn chiếm tới đâu, chúng cho đóng đồn, bót tới đó.
Trong bối cảnh đó, du kích Việt Nam đã dùng giàn thun bắn lựu đạn đánh bức rút hàng loạt đồn, bót địch. Quan sát thấy địch nổi lửa nấu cơm là du kích ta dùng "pháo hãm thanh" bắn vào đồn vài quả lựu đạn. Bắn ngày này qua ngày khác, không theo một quy luật nào. Khi thì chỉ cách nhau vài ba phút bắn vài ba quả, khi cách nhau một vài tiếng đồng hồ bắn thêm mấy quả nữa. Bị đói, bị thương, bọn địch la khóc rần trời, còn tinh thần thì hoang mang, lo sợ cực độ. Bởi, bắn lựu đạn bằng giàn thun không nghe tiếng "đề pa", không nghe tiếng rít; bỗng dưng lựu đạn từ trên trời rơi xuống nổ cái oành! Không biết lúc nào mà trốn tránh, không có cách gì để đối phó. Cuối cùng, địch đành phải bỏ đồn tháo chạy…
Thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh bằng chông sắt, chông tre; đánh bằng ong vò vẽ, đánh bằng mìn và lựu đạn gài, sử dụng giàn thun bắn lựu đạn linh hoạt, biến hóa khôn lường đã đưa cách đánh du kích của ta lên một tầm cao nghệ thuật. Cũng cần nói rằng, so sánh về lực lượng tương quan thì kẻ thù quá mạnh, phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại nên chưa thể dàn hàng ngang đối đầu. Vậy nên, tiến hành chiến tranh du kích là biện pháp khá hữu hiệu, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề./.
st