Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Nêu cao vai trò người đứng đầu trong thực hiện quy chế dân chủ

 (ĐCSVN) – Phó Bí thư thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội nêu cao vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hiện quy chế dân chủ, trong đó cần đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến phát biểu tại cuộc kiểm tra.  

Ngày 25/10, Đoàn kiểm tra thành phố Hà Nội do Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Thị Tuyến làm Trưởng đoàn đã kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở tại Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.

Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương và Thành ủy, việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ quan Sở đã được cấp ủy, Ban Chỉ đạo quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Ban lãnh đạo Sở đã cụ thể hóa việc thực hiện dân chủ bằng việc ban hành hệ thống quy chế của Sở như: Quy chế làm việc, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế quản lý tài chính, Quy chế quản lý công sản…

Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Hà Nội đã gắn kết việc thực hiện QCDC với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị, thực hiện Luật Cán bộ công chức; Luật Phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí; cải cách hành chính. Ngoài ra, việc thực hiện các chế độ chính sách (nâng lương, chuyển ngạch, đào tạo, xử lý kỷ luật…) được triển khai kịp thời, công khai dân chủ, tạo sự đồng thuận, phát huy được vai trò làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của đội ngũ công chức, viên chức của cơ quan. Qua đó, đề cao trách nhiệm cấp ủy, tăng cường vai trò quản lý của lãnh đạo Sở và đảm bảo kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cơ quan; nâng cao năng lực quản lý Nhà nước và phòng chống tệ nạn quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan.

Đáng chú ý, Sở đã duy trì hiệu quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo cơ chế “một cửa”; công khai 34 thủ tục hành chính và đưa ra giải quyết theo cơ chế “một cửa” 34 thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi đối với các tổ chức, cá nhân. Từ đầu năm 2021 đến hết ngày 15/9/2022, Sở đã tiếp nhận và trả kết quả 8.472 hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính (đạt 100%), không có hồ sơ nào giải quyết quá thời hạn; không có vụ việc kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo về việc giải quyết thủ tục hành chính.

Sở cũng đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức tiếp công dân và giải quyết các vấn đề liên quan tới khiếu nại tố cáo, kiến nghị của tổ chức/công dân. Từ năm 2021 đến ngày 15/9/2022, Sở đã tiếp 26 lượt công dân và tiếp nhận 390 đơn thư (trong đó 386 đơn kiến nghị phản ánh, 3 đơn khiếu nại, 1 đơn tố cáo). Đến nay đã xử lý xong dứt điểm, không có tồn đọng và khiếu kiện kéo dài…

Tại buổi làm việc, các thành viên Đoàn kiểm tra đã trao đổi nhiều nội dung nhằm giúp Sở thực hiện tốt dân chủ trong các hoạt động chuyên môn của sở, qua đó duy trì sự đoàn kết nội bộ, làm tốt công tác cán bộ…

Phát biểu kết luận buổi kiểm tra, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến ghi nhận, đánh giá cao những kết quả xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở của Sở TT&TT. Tuy nhiên, đồng chí cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại, hạn chế như: Nhận thức cũng như ý thức tự giác của một số ít công chức, viên chức và người lao động trong việc thực hiện QCDC ở cơ quan chưa cao, còn thụ động, chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm của mình trong việc cùng tham gia với lãnh đạo thực hiện có hiệu quả QCDC ở cơ quan. Đồng thời, vai trò giám sát, kiểm tra của Ban Chỉ đạo xây dựng QCDC và hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân còn hạn chế….

Nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện thời gian tới, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội đề nghị Sở tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản của trung ương, thành phố về thực hiện QCDC ở cơ sở; đặc biệt cần tập trung đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các kênh thông tin tuyên truyền do Sở quản lý. 

Đồng thời, nêu cao vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hiện QCDC, trong đó cần đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Gắn thực hiện QCDC với thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ quan, thành phố. Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính gắn với việc thực hiện QCDC ở cơ sở; tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính trong quy trình giải quyết công việc với các tổ chức, công dân, nhất là các đơn vị có chức năng nhiệm vụ thường xuyên phải tiếp xúc, giải quyết công việc cho nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Thị Tuyến đề nghị tiếp tục nâng cao hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở. Tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức; làm tốt công tác truyền thông, quản lý báo chí…/.

Trung Anh

Nâng cao chất lượng tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 (ĐCSVN) – Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay” là diễn đàn để các cấp, các ngành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu đánh giá thực tiễn và bàn các giải pháp mới, chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ đạo 35 các cấp trong thời gian tới.

 Đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo. (Ảnh: Đình Tăng).

Sáng 26/10, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Đà Nẵng và Trường Chính trị Thành phố phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay”.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng cho biết: Thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng, Ban chỉ đạo 35 các cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng đã triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và hiệu quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị với nhiều cách làm mới, quyết liệt, sáng tạo, đem lại những hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên, theo đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên địa bàn TP vẫn còn một số mặt hạn chế; các hoạt động tuyên truyền tại các cơ quan, đơn vị chưa đồng đều, nội dung tuyên truyền chủ yếu mang tính thông tin, chưa đi vào chiều sâu, sắc sảo; công tác dự báo tình hình, nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đôi lúc thiếu chủ động nên hoạt động định hướng, tuyên truyền còn chưa kịp thời; công tác tuyên truyền trên không gian mạng chưa đáp ứng được những yêu cầu; chưa có những mô hình hay, cách làm mới để nhân rộng trên địa bàn Thành phố…

Cán bộ, đảng viên phải ý thức rõ trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Hội thảo khoa học "Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay” là diễn đàn để các cấp, các ngành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu đánh giá thực tiễn và bàn các giải pháp mới, chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ đạo 35 các cấp trong thời gian tới”- Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng nhấn mạnh.

 

Cũng theo đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết: Về mặt lý luận, hội thảo cần tập trung phân tích, làm rõ toàn diện các khía cạnh của nội hàm “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Từ lý luận đó, chúng ta phải xác định rõ và hệ thống hóa những điểm mới, sáng tạo lý luận của Đảng ta về con đường phát triển đất nước để làm cơ sở, dữ liệu lý luận khoa học phục vụ tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, xác định cụ thể những nhóm nhiệm vụ đối với công tác tuyên truyền, giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 35 nhằm thực hiện đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương, TP đến cơ sở, tránh trùng lắp với những nhiệm vụ chính trị khác.

Bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức thông qua các hoạt động trực tiếp, truyền thống thì hiện nay đòi hỏi các cấp, các ngành phải thực hiện tốt công tác quản lý, định hướng tư tưởng, hoạt động của người dân trên không gian mạng. “Hiện trên địa bàn Đà Nẵng có khoảng 8.000 trang thông tin điện tử, khoảng 2,4 triệu tài khoản mạng xã hội, vì vậy rất cần có các giải pháp thích ứng với những thay đổi, phát sinh trên môi trường này: Một mặt phải khai thác và dựa vào mạng xã hội để tuyền truyền, lan tỏa thông tin tích cực, một mặt phải quản lý được hoạt động của người dân trên mạng xã hội, nhất là trong bối cảnh thành phố đang phát triển mạnh mẽ nhưng cũng phát sinh những hạn chế cần giải quyết”- đồng chí lưu ý  đồng thời cho rằng: Mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì danh dự và uy tín của Đảng không thể tách rời danh dự, uy tín của mỗi đảng viên, thực hiện nghiêm túc các quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí, Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.

Cùng với các lưu ý trên, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng cũng đề nghị Hội thảo quan tâm đề xuất các giải pháp xây dựng được đội ngũ thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục có chất lượng, có chuyên môn, có bản lĩnh chính trị và lý luận sâu sắc tại các cấp; đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng công tác nắm bắt và dự báo tình hình tư tưởng, diễn biến, tâm trạng xã hội. Đặc biệt, các cấp ủy, tổ chức đảng hết sức lưu ý và triển khai nghiêm túc Hướng dẫn số 40-HD/BTGTW ngày 25/01/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Đấu tranh, cảm hóa cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, cơ hội chính trị”, xem việc rà soát, đấu tranh, cảm hóa là việc làm thường xuyên nhằm ngăn ngừa, không để cán bộ, đảng viên, quần chúng vi phạm quy định của Đảng, Nhà nước, tự diễn biến, tự chuyển hóa với mức độ ngày càng cao; chủ động thông báo, đề xuất cấp có thẩm quyền để có biện pháp đấu tranh, cảm hóa đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng (nếu có); lưu ý đánh giá đúng mức độ, tính chất để theo dõi, đấu tranh, cảm hóa, trên tinh thần không nâng quan điểm, không làm phức tạp hóa, không đẩy đối tượng về phía đối lập.

Báo chí dẫn dắt, định hướng dư luận và tạo sự đồng thuận xã hội

Khẳng định vai trò của báo chí, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng đề nghị: Hội thảo cần đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của báo chí đối với nội dung: Báo chí cách mạng phải không ngừng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại để giữ vững vai trò chủ đạo trong việc tuyên truyền, lan tỏa nền tảng tư tưởng của Đảng; thực hiện tốt sứ mệnh truyền thông: “Đồng hành và phản biện”, dẫn dắt, định hướng dư luận và tạo sự đồng thuận xã hội; tuyên truyền, cung cấp kịp thời thông tin đến người dân đối với những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thu hút sự quan tâm của dư luận; phát huy thế mạnh của các loại hình báo chí trên mạng Internet, kể cả phát thanh, truyền hình trực tuyến.

Quang cảnh tại Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay”. (Ảnh: Đình Tăng).

Trong khi đó, với hệ thống giáo dục trên địa bàn, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng đề nghị các đại biểu tham dự Hội thảo quan tâm thảo luận phát huy vai trò của hệ thống giáo dục công lập và ngoài công lập trên địa bàn TP đối với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, tư tưởng chính trị, truyền thống, lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên trên ghế nhà trường; cùng với đó là sự tham gia phối hợp của đoàn thanh niên các cấp nói riêng và các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung trong công tác giáo dục, quản lý, định hướng đối với đoàn viên, thanh niên, sinh viên, học sinh trên địa bàn TP hiện nay.

Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận nhiều vấn đề, nội dung như: Thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục góp phân bảo vệ nền tảng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tại cơ sở trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, các ý kiến tập trung làm rõ những vướng mắc, bất cập và đề xuất nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này tại Đà Nẵng trong thời gian tới.

Vấn đề đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; vấn đề tăng cường công tác giáo dục, chính trị, tư tưởng, trang bị kỹ năng nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong giai đoạn hiện nay; vấn đề bồi dưỡng kỹ năng sử dụng Internet, mạng xã hội của cán bộ, đảng viên trong công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch; vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay; công tác phối hợp của các đơn vị, cơ quan chuyên môn trong việc nắm bắt, định hướng dư luận trong việc xử lý các điểm nóng, các vụ việc gây bức xúc nhằm ổn định nhận thức tư tưởng trong Nhân dân, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch…./.

Đình Tăng

Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nội dung Nghị quyết Đại hội XIII

 (ĐCSVN) - Đồng chí Lê Hải Bình, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị Tỉnh ủy Đắk Lắk tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ tỉnh gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 theo tinh thần Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 09/3/2021 của Bộ Chính trị.

Sáng ngày 25/10, đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương do đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Tỉnh ủy Đắk Lắk.

Tham dự có đồng chí Phạm Minh Tấn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Đắk Lắk cùng đại diện lãnh đạo các sở, ngành tại địa phương.

 Đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương do đồng chí Lê Hải Bình, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Tỉnh ủy Đắk Lắk

Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk cho biết, những tháng đầu năm 2022, cùng với nhiều địa phương trên cả nước, tỉnh Đắk Lắk triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với nhiều khó khăn, thách thức khi dịch bệnh COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đoàn kết thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và sự ủng hộ của Nhân dân, tình hình dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh đang được kiểm soát tốt; kinh tế - xã hội của tỉnh trong 9 tháng đầu năm tăng trưởng khá; tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 64,58% kế hoạch, tăng 8,79% so với cùng kỳ năm 2021.

Phát biểu kết luận tại Hội nghị, đồng chí Lê Hải Bình, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đánh giá cao những thành tích mà Tỉnh ủy Đắk Lắk đã làm được trong thời gian. Đồng thời, đồng chí đề nghị Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ tỉnh gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 theo tinh thần Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 09/3/2021 của Bộ Chính trị.

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình nhấn mạnh, Tỉnh ủy Đắk Lắk  tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, nhất là những văn bản mới được ban hành từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đến nay, như là: Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương và Kế hoạch số 03-KH/TW ngày 01/12/2021 của Bộ Chính trị, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quang cảnh Hội nghị

Đồng chí Lê Hải Bình yêu cầu Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk tiếp tục tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc 9 nội dung chỉ đạo của đồng chí Thường trực Ban Bí thư tại Hội nghị tổng kết ngành Tuyên giáo năm 2021; phát huy tính chủ động, kịp thời, nhạy bén trong công tác tham mưu cho Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo; tích cực, chủ động hướng dẫn, phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện tốt những nhiệm vụ, công việc được giao cho ngành Tuyên giáo, trong đó cần chú ý triển khai thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm 2022; công tác báo chí cần chỉ đạo sát sao, kịp thời; phải có sự phối hợp giữa địa phương và Trung ương để kịp thời xử lý những vấn đề nổi cộm, điểm nóng,  bức xúc trên địa bàn tỉnh.../.

HIỂU RÕ VỀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG!

     Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. 
     Theo đó, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản.
     Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.
     Phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.
     Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”.  
     Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. 
     Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc.
     Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành.
     Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý.
     Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng./.
Yêu nước ST.

 

Khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

(LLCT) - Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, khoa học lý luận chính trị và khoa học xã hội - nhân văn nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, thực trạng và đề xuất khuyến nghị, giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, góp phần bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

1. Vị trí, vai trò của khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn trong bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản, phổ biến của thế giới hiện thực. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh đúng đắn các quy luật của thực tiễn khách quan và trở lại định hướng hoạt động thực tiễn. Vì vậy, lý luận là một nội dung, một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong hoạt động chính trị, nhất là hoạt động của các đảng chính trị, đảng cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, Đảng mà không có lý luận dẫn đường thì “cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1).

Khoa học lý luận chính trị là khoa học nghiên cứu, hình thành hệ thống tri thức về lý luận chính trị và tổng kết những vấn đề thực tiễn mới đặt ra trong đời sống chính trị của xã hội để đúc kết thành lý luận và bài học kinh nghiệm. Khoa học lý luận chính trị có vị trí, vai trò, tầm quan trọng to lớn đối với nhận thức và hành động của cá nhân, cộng đồng, giai cấp và sự phát triển của toàn xã hội; nó mang tính giai cấp, tính khái quát khoa học và tính định hướng, dự báo cao. Ở Việt Nam hiện nay, khoa học lý luận chính trị là khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước... Quy định số 285-QĐ/TW ngày 25-2-2015 của Bộ Chính trị khóa XI về “Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước” đã chỉ rõ: Nghiên cứu lý luận chính trị là hoạt động nghiên cứu nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khoa học lý luận chính trị có chức năng quan trọng là nghiên cứu, bổ sung, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hệ tư tưởng thống trị; giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, như C.Mác đã chỉ rõ: “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị”(2).

Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học nghiên cứu về xã hội và con người, trong đó khoa học xã hội tập trung nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội, mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa con người với con người; khoa học nhân văn là khoa học nghiên cứu về con người, trong đó tập trung vào đời sống tinh thần của con người, về sự phát triển nhân cách, trí tuệ, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của con người; về những quy tắc ứng xử, những hoạt động, hành vi của con người. Khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu về xã hội và con người từ đời sống xã hội hiện thực, gắn với các giai đoạn, bối cảnh lịch sử cụ thể, nhằm khám phá bản chất, quy luật vận động của lịch sử xã hội, lịch sử dân tộc và đời sống của con người; hệ thống hóa, khái quát hóa thành những tri thức khoa học để soi sáng nhận thức con người, thúc đẩy con người phát triển và hoàn thiện nhân cách, hành động sáng tạo, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, dân chủ, công bằng, văn minh, “tất cả vì con người và cho con người”.

Khoa học lý luận chính trị và khoa học xã hội và nhân văn có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời; cùng nghiên cứu về xã hội và con người. Tuy nhiên, khoa học lý luận chính trị có đặc thù là gắn chặt với hệ tư tưởng, với quan điểm, lập trường, lợi ích của giai cấp thống trị, lãnh đạo, cầm quyền trong xã hội. Do vậy, khoa học lý luận chính trị có chức năng định hướng về tư tưởng, lý luận, hệ giá trị và phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu cho các khoa học xã hội và nhân văn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(3), “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”(4).

Trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các khoa học xã hội và nhân văn, khoa học chính trị ở nước ta hiện nay cùng hướng tới mục tiêu chung là nghiên cứu phục vụ công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN; xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo; bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Khoa học lý luận chính trị giữ vai trò chủ đạo, định hướng chính trị cho các khoa học xã hội và nhân văn trong việc nghiên cứu, góp phần bổ sung, phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Các khoa học xã hội và nhân văn khác - với những cách tiếp cận nghiên cứu và nội dung nghiên cứu rất đa dạng, nhiều mặt về xã hội và con người - góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực; góp phần xây dựng hệ thống quan điểm phát triển nhanh và bền vững đất nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; đồng thời, nhận diện, phê phán, đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; v.v..

2. Khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 01-11-2012, Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đây là nghị quyết rất quan trọng, định hướng cho sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta trong giai đoạn mới, trong đó khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn là lĩnh vực được đặc biệt chú ý. Nghị quyết 20-NQ/TW xác định: “Khoa học xã hội và nhân văn tập trung vào nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới đất nước và dự báo xu hướng phát triển. Tiếp tục cung cấp luận cứ làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phục vụ xây dựng đường lối, chính sách phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới. Chú trọng các nghiên cứu về mô hình và chiến lược phát triển, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xu thế phát triển của xã hội, văn hóa, dân tộc, tôn giáo và con người Việt Nam; tăng cường nghiên cứu khoa học lịch sử; dự báo các xu thế phát triển của khu vực và thế giới, hội nhập quốc tế, nâng cao vai trò của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu...”(5). Như vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn nói chung, khoa học lý luận chính trị nói riêng được Nghị quyết số 20-NQ/TW chỉ ra chính là tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Một là, đã xây dựng các chương trình, đề tài, đề án lớn về nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn

 Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, nhiều chương trình, đề tài, đề án khoa học lý luận chính trị và khoa học xã hội - nhân văn đã được phê duyệt và triển khai mạnh mẽ, rộng khắp của các cơ quan quản lý và nghiên cứu thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các viện nghiên cứu, các trường đại học...

Trong giai đoạn 2011 - 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt 03 Chương trình Khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước về khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn: Chương trình KX.02/11-15 “Nghiên cứu khoa học phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam đến năm 2020”; Chương trình KX.03/11-15 “Nghiên cứu khoa học phát triển văn hóa, con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” và Chương trình KX.04/11-15 “Nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị”. Giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt các Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia: Chương trình KX.04/16-20 “Nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị”; Chương trình KX.01/16-20 “Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội”... Hội đồng Lý luận Trung ương triển khai hệ thống các đề tài thuộc Chương trình nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011 - 2015, 2016 - 2020, 2021 - 2025 (mã số KX.04/11-15, KX.04/16-20, KX.04/21-25). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai nhiều chương trình, đề án lớn như: Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 (mã số KX.02/16-20) “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”, với 20 đề tài nghiên cứu toàn diện về các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin; Đề án “Nghiên cứu luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam”; Chương trình cấp bộ trọng điểm giai đoạn 2019 - 2020 “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật”; v.v..

Hai là, đã tập trung làm rõ giá trị lý luận, thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Các chương trình, đề tài, đề án được Hội đồng Lý luận Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ chí Minh tổ chức thực hiện trực tiếp nghiên cứu về nền tảng tư tưởng của Đảng và sự kế thừa, bổ sung và phát triển của Đảng ta trong giai đoạn mới như: “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; nghiên cứu về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới, hội nhập và phát triển: Giá trị và ý nghĩa lý luận - thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay”, về “Đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay: Thực trạng, quan điểm và định hướng chính sách”, về “Nội dung, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới”, về “Vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng lãnh đạo: Thực trạng, vấn đề đặt ra”, về “Vấn đề kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, vấn đề và định hướng chính sách”, về “Ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng giải pháp”, về “Thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo: Thực trạng, vấn đề đặt ra và giải pháp”, về “Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” và nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng; Đề án cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2020 - 2025.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai hàng chục chương trình, đề tài cấp Nhà nước, hàng trăm đề tài, đề án cấp Viện Hàn lâm và viện chuyên ngành... làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Một số công trình đã đi sâu nghiên cứu, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tiêu biểu như: “Thực hiện dân chủ trong Đảng ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”; “Đảm bảo an ninh con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” (mã số KX.03.14/11-15); “Phát triển bền vững con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (mã số KX.03.08/11-15); “Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay” (mã số KX.03.11/11-15); “Bảo đảm quyền văn hóa trong điều kiện phát huy đa dạng văn hóa ở Việt Nam hiện nay” (mã số KX.03.05/11-15); “Ảnh hưởng của cách mạng khoa học và công nghệ đến con người Việt Nam hiện nay” (mã số KX.01.11/16-20); “Chính sách văn hóa, xã hội, giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; v.v..

Tạp chí Cộng sản triển khai nghiên cứu và công bố nhiều công trình, bài viết có giá trị sâu sắc về lý luận và thực tiễn về bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, tiêu biểu như các đề tài: “Giám sát xã hội đối với thu nhập, tài sản và hành vi của cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (mã số KX.01.34/16-20); “Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam” (mã số KX.01.50/16-20); v.v..

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, đề tài về văn hóa, nghệ thuật, tiêu biểu như đề tài KX.01.16/16-20 “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam” v.v..

Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai các chương trình khoa học cấp quốc gia về “Lịch sử Việt Nam”, “Biên niên sự kiện lịch sử Việt Nam”, “Địa chí quốc gia Việt Nam” và nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ khác, tiêu biểu như: “Tôn giáo trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vấn đề nhà nước thế tục ở Việt Nam” (mã số KX.04.19/11-15); “Tác động của tiếp biến và hội nhập văn hóa đến phát triển ở Việt Nam hiện nay” (mã số KX.03.04 /11-15); “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (mã số KX.03.09/11-15); “Quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách” (mã số KX.04.15/16-20) v.v..

Kết quả nghiên cứu từ các chương trình, đề tài, đề án đã cung cấp luận cứ khoa học, làm rõ hơn mô hình và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam; v.v.. Các chương trình, đề tài, đề án đều đã chắt lọc nội dung, xây dựng kiến nghị trình Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ; tiếp tục khẳng định bản chất khoa học, cách mạng và tính đúng đắn của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và những nội dung cần bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong tình hình mới.

Một số công trình lý luận quan trọng được công bố rộng rãi đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của cán bộ, đảng viên, nhân dân ta và bạn bè quốc tế, tiêu biểu là công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của GS, TS Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng(6). Công trình đã khẳng định những giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về mô hình và con đường đi lên CNXH; những vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; v.v..

Ba là, đã cung cấp luận cứ khoa học để phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch

Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam trên các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ, trong đó đẩy mạnh chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Chúng không chỉ phủ nhận những giá trị thời đại, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng lợi dụng những thành tựu cơ bản của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ để tấn công chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời và không còn phù hợp với thời đại phát triển khoa học và công nghệ hiện nay. Các đối tượng thù địch tập trung tấn công phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng; xuyên tạc những vấn đề lý luận, thực tiễn mới đặt ra trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam như: kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN... để cho rằng Việt Nam đã “chệch hướng” và cần cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự” theo mô hình phương Tây... Những luận điệu sai trái trên đã có tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta(7). Từ thực tế đó, nhiều chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn đã trực tiếp, trực diện đấu tranh, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng(8).

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã thực hiện Chương trình cấp bộ trọng điểm giai đoạn 2019 - 2020 “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật” với 09 đề tài nhánh và 01 đề tài tổng quan. Đặc biệt, cuộc thi viết chính luận khoa học “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện phát động đã thu hút được đông đảo các nhà khoa học, cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên... tham gia. Tại cuộc thi lần thứ nhất (năm 2021), chỉ sau ba tháng phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được gần 10.000 bài viết của các tác giả gửi đến từ mọi miền của đất nước. Các đề tài, bài viết chính luận đã nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin sai lệch, xuyên tạc, các phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn hóa, văn học, nghệ thuật, báo chí, truyền thông và trên mạng xã hội; đề xuất những phương hướng, phương thức, hình thức cơ bản để đấu tranh phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung đấu tranh phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng hiệu quả, thuyết phục, bám sát hơn với thực tiễn công tác tư tưởng - lý luận, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Bốn là, đã cung cấp căn cứ khoa học để nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật. Nhiều công trình đã đưa ra những kiến nghị có giá trị khoa học, thực tiễn và có tính khả thi cao về hoàn thiện thể chế, về cơ chế phối hợp, về xây dựng đội ngũ, mạng lưới thực hiện nhiệm vụ cũng như việc đổi mới phương thức, hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn học, nghệ thuật, báo chí truyền thông và trên mạng xã hội,  v.v.. Đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới đất nước(9); v.v..

Đánh giá về thành tựu của khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị trong những năm qua, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc”(10). Sự phối hợp, gắn kết giữa khoa học lý luận chính trị với khoa học xã hội và nhân văn đã làm sâu sắc hơn và lan tỏa hơn những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả rõ rệt đã đạt được, công tác nghiên cứu lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập: “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi tính chiến đấu chưa cao, còn bị động, lúng túng. Việc dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời... Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng yêu cầu; một số vấn đề mới, khó, phức tạp thực tiễn đặt ra chưa được làm sáng tỏ”(11). Những công trình khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị liên quan trực tiếp đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn chưa nhiều, tính chiến đấu còn thấp, chưa mang tính trực diện; một số bài nghiên cứu đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch chưa thật sự sắc bén, chưa đủ tính thuyết phục. Sự tham gia của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, nhà văn hóa, giáo dục vào các hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chưa thật sự đông đảo. Đội ngũ chuyên gia nòng cốt tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn ít về số lượng, trình độ, năng lực chưa đồng đều. Nhận thức của một số cấp ủy đảng, cơ quan chính quyền, cơ quan khoa học, văn hóa, giáo dục, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế...

3. Một số khuyến nghị, giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta lần đầu tiên đã xác định và bổ sung khoa học lý luận chính trị là một trong các bộ phận hợp thành của khoa học - công nghệ nước nhà: khoa học tự nhiên; khoa học kỹ thuật và công nghệ; khoa học xã hội và nhân văn; khoa học lý luận chính trị. Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra những định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu... Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”(12); “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học xã hội và nhân văn để có cơ sở phục vụ tốt nhất sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, xã hội. Khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao trách nhiệm và tôn trọng sự khác biệt trong công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Gắn kết chặt chẽ khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên và công nghệ trong quá trình triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”(13). Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để phát huy cao nhất vai trò, nhiệm vụ của khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị trong công tác bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân về vai trò quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và công tác bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã nêu trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01-11-2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09-10-2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Cần xác định rõ, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó các cơ quan tư tưởng lý luận, cơ quan nghiên cứu và đào tạo về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị, đội ngũ trí thức, các nhà khoa học xã hội, khoa học chính trị là nòng cốt.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, các cấp ủy, tổ chức đảng; sự phối hợp của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan tư tưởng lý luận, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, báo chí, xuất bản về khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn trong công tác bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương; sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương, các địa phương, các cơ quan báo chí, truyền thông, các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đào tạo khoa học lý luận chính trị,... nhằm tổ chức, động viên, phát huy trí tuệ, tài năng và tâm huyết của các nhà lãnh đạo, quản lý, các cán bộ lý luận, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị trong công tác bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, xây dựng thế trận toàn dân, phối hợp rộng rãi các lực lượng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, coi đây là công việc tự giác, thường xuyên của cán bộ lãnh đạo, quản lý, của các cấp ủy đảng, tổ chức chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội và mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động...

Thứ ba, cấp ủy đảng, lãnh đạo các cơ quan tư tưởng, lý luận, khoa học và công nghệ, nghiên cứu, đào tạo về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị triển khai thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch, nội dung đề tài, đề án tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đường lối đổi mới, về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Cần bám sát chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, đơn vị mình, phù hợp với từng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm gắn với từng giai đoạn cụ thể. Hội đồng Lý luận Trung ương triển khai thực hiện Chương trình khoa học trọng điểm cấp quốc gia về khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025 (mã số KX04/21-25), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai thực hiện chương trình khoa học trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2022 - 2025 (mã số KX02/22-25) “Nghiên cứu vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới (giai đoạn từ năm 1986 đến nay, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045”... Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn khác cần tăng cường hơn nữa những chương trình, đề án, đề tài khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn, về bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để cùng với khoa học lý luận chính trị tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản, các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam; chỉ ra những vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu và hoàn thiện những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với bối cảnh mới; đồng thời, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, để mọi người hiểu rõ và nâng cao trách nhiệm trong bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyên gia nghiên cứu lý luận chính trị, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của quốc gia - lực lượng nòng cốt tham gia bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng, bởi nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn vậy, cần phát hiện, tập hợp, huy động, bồi dưỡng, phát huy tính tích cực của đội ngũ cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học, các nhà văn hóa, cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, những người có am hiểu sâu sắc về lý luận và thực tiễn, có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, chính trực khoa học, tư duy phản biện, kỹ năng phát hiện, giải quyết vấn đề chặt chẽ, sắc bén, có tính chiến đấu cao...; xây dựng thành lực lượng chuyên trách, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho các cán bộ nòng cốt, các nhà khoa học, nhất là nhận diện những âm mưu, phương thức, thủ đoạn, luận điệu chống phá mới của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị; kỹ năng nhận diện, xây dựng luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác; kỹ năng chuyển tải các sản phẩm nghiên cứu khoa học thành sản phẩm tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội.

Tích cực tham gia cuộc thi viết chính luận (được tổ chức hằng năm từ năm 2021 trở đi) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức chính là cơ hội tốt để nâng cao nhận thức, trách nhiệm và rèn luyện năng lực tư duy lý luận, năng lực nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn học - nghệ thuật và trên không gian mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Thứ năm, đổi mới, đa dạng hóa các phương thức, hình thức nhằm tăng cường sự phối hợp giữa khoa học lý luận chính trị và khoa học xã hội - nhân văn, báo chí tuyên truyền... trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về khoa học - công nghệ và báo chí, truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mạng internet, ngăn ngừa các trang mạng, các thông tin độc hại. Ngăn chặn tận gốc những nguồn tuyên truyền, phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời xử lý, khống chế có hiệu quả các trang mạng có nội dung phản động; phối hợp với các cơ quan tuyên truyền từng bước làm chủ thế trận về tư tưởng lý luận trên internet. Đẩy mạnh việc công bố, xuất bản các công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học xã hội và nhân văn, về khoa học lý luận chính trị, về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong các ấn phẩm trong nước và quốc tế. Đổi mới nội dung và hình thức trình bày trên các trang mạng, báo chí, ấn phẩm văn hóa, văn nghệ có nội dung đấu tranh tư tưởng lý luận. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và kiên định nguyên tắc, tính chiến đấu đồng thời mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn, có lý, có tình, biết người biết ta... Chủ động phê phán, đấu tranh trực diện nhằm bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; thực hiện đối thoại thẳng thắn với những cá nhân có quan điểm khác, quan điểm sai trái, thù địch trên tinh thần khoa học, dân chủ, xây dựng, bảo đảm tính thuyết phục, không quy chụp vô căn cứ.

Đẩy mạnh tuyên truyền những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, những tấm gương người tốt, việc tốt, những tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.

Thứ sáu, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu lý luận chính trị, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, coi đây là hướng đầu tư cần được ưu tiên

Đổi mới căn bản cơ chế quản lý ngân sách nhà nước chi cho khoa học, công nghệ. Thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng nghiên cứu các đề tài khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn theo hướng lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mục tiêu, nhất là các đề tài giải quyết các vấn đề thực tiễn mới và khó, còn thiếu cơ sở lý luận và có nhiều ý kiến khác nhau, các đề tài, đề án về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Tăng cường đầu tư cho những công trình khoa học có tầm cỡ để “nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội­ ở Việt Nam... Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu các vấn đề lý luận khó, phức tạp phát sinh từ thực tiễn hoặc tồn tại trong thời gian dài; những vấn đề chưa rõ về cơ sở lý luận, còn có nhiều ý kiến khác nhau”(14). Đồng thời, bố trí nguồn lực cần thiết để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị để khắc phục tình trạng hẫng hụt đội ngũ, suy giảm các chuyên gia đầu ngành hiện nay, góp phần vào bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                                                            Nguồn: PGS, TS NGUYỄN DUY BẮC

Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 Học viện Kỹ thuật quân sự tập trung xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh

Thực hiện mục tiêu phát triển Học viện Kỹ thuật quân sự thành trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh, uy tín của Quân đội và Nhà nước, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh1 là vấn đề có tính đột phá, nhằm tạo ra sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị khoa học và thực tiễn cao, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Là trường đại học kỹ thuật đa ngành hàng đầu của Quân đội và đất nước, Học viện Kỹ thuật quân sự có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển, sản xuất chế thử, chuyển giao công nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, góp phần đắc lực vào phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nhóm nghiên cứu với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, Học viện xác định: xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh là giải pháp cơ bản, quan trọng thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, tăng cường hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, phát triển Học viện thành trường đại học nghiên cứu thuộc nhóm đầu của đất nước. Thực hiện chủ trương đó, những năm qua, Học viện luôn chú trọng xây dựng, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động các nhóm nghiên cứu; ban hành quy định về tổ chức, quản lý và hỗ trợ đầu tư phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, bước đầu hình thành được một số nhóm nghiên cứu có tính liên ngành. Trong đó, đã xét duyệt, công nhận 18 nhóm nghiên cứu mạnh và đánh giá, lựa chọn 05 nhóm trong số đó để xây dựng, phát triển thành nhóm nghiên cứu đạt trình độ quốc gia và khu vực. Quá trình hoạt động, các nhóm nghiên cứu mạnh đã có hướng và sản phẩm nghiên cứu cơ bản, bám sát định hướng công nghệ ưu tiên của Nhà nước, Quân đội, cùng các công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đạt được nhiều kết quả tích cực2.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, phát triển còn có những tồn tại, như: một số cấp ủy, chỉ huy đơn vị chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh; huy động nguồn vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu còn hạn chế; công tác quản lý còn nặng về hành chính, hiệu quả hoạt động của một số nhóm chưa cao, v.v. Trước thực tế đó, để thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu mạnh, hướng tới xây dựng đạt trình độ quốc gia và khu vực, Học viện tiếp tục triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp sau.

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, mang tính nguyên tắc, bảo đảm phát huy trí tuệ, tính tiên phong trong phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh đúng hướng, chất lượng. Để thực hiện tốt nội dung quan trọng này, Học viện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, khoa, viện tiếp tục quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hoạt động khoa học, công nghệ; triển khai quyết liệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đề án Quy hoạch phát triển Học viện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trên cơ sở đó, tập trung cụ thể hóa thành kế hoạch phát triển, quản lý, đánh giá chất lượng hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh, cùng hệ thống các quy chế, quy định phù hợp với thực tiễn của Học viện và triển khai đồng bộ, thống nhất. Để đạt hiệu quả cao, cùng với quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động, định hướng phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh hiện có; rà soát những nhóm hoạt động không hiệu quả để kịp thời chấn chỉnh, tổ chức hoạt động đúng quy định, Học viện triển khai quyết liệt kế hoạch phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh theo định hướng khoa học, công nghệ chủ chốt của Nhà nước và các lĩnh vực đặc thù của Quân đội3, nhất là các nhóm được xác định phát triển thành nhóm nghiên cứu mạnh đạt trình độ quốc gia, khu vực. Đồng thời, định kỳ tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh kế hoạch phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh phù hợp với từng giai đoạn, gắn trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh của đơn vị.

Nhóm nghiên cứu mạnh Kỹ thuật quang học, quang điện tử và laser tiến hành nghiên cứu, chế tạo sản phẩm

Hai làtiếp tục quy hoạch, phát triển gắn với tăng cường quản lý, đánh giá chất lượng hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là giải pháp căn bản, tạo cơ sở để Học viện có định hướng tổng thể về xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh; đồng thời, là căn cứ để Học viện tập trung nguồn lực xây dựng các nhóm này đạt trình độ quốc gia và khu vực. Bám sát mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu đề ra, Học viện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Phòng Khoa học quân sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, khoa, viện rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu mạnh theo đúng tiêu chí, phương pháp và quy trình theo thông lệ đánh giá quốc gia, quốc tế. Trong đó, thực hiện nghiêm việc đánh giá kết quả hoạt động trong 03 năm gần đây và kế hoạch 05 năm tiếp theo của các nhóm nghiên cứu nhằm xác định mức độ thành công, điểm mạnh, điểm yếu trong thời gian hoạt động và chỉ ra mức độ phù hợp của kế hoạch phát triển thời gian tới, v.v. Trên cơ sở đó, Học viện tiếp tục rà soát, quy hoạch, định hướng sự phát triển của các nhóm có trọng tâm, trọng điểm và theo lộ trình trong từng giai đoạn, năm; phấn đấu đến năm 2030, có 25 nhóm nghiên cứu mạnh; trong đó, có 06 - 08 nhóm đạt trình độ quốc gia, 03 - 04 nhóm đạt trình độ khu vực, tạo cơ sở, nền tảng để Học viện xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc.

Cùng với đó, Học viện tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các hình thức quản trị tiên tiến trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, quản lý hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh nói riêng. Thường xuyên làm tốt công tác quản lý tiềm lực khoa học, công nghệ, cập nhật kết quả nghiên cứu của các tập thể, cá nhân bằng phần mềm quản lý khoa học, công nghệ, cơ sở dữ liệu chuyên gia dùng chung; thực hiện nghiêm việc xây dựng kế hoạch hoạt động, chế độ báo cáo, công khai kết quả hoạt động của nhóm nghiên cứu mạnh trên mạng nội bộ.

Ba làtập trung xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh. Học viện tập trung xây dựng và quy hoạch, phát triển đội ngũ chủ nhiệm bộ môn, trưởng nhóm môn học, trưởng phòng thí nghiệm trọng điểm, các chuyên gia, nhà khoa học gắn với xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Để huy động tối đa nguồn nhân lực chất lượng cao vào xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, Học viện mạnh dạn từng bước đưa đội ngũ cán bộ, giảng viên trẻ có trình độ tiến sĩ tham gia vào các nhóm nghiên cứu; phó giáo sư trẻ chủ trì hoặc tham gia nhóm nghiên cứu mạnh. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất cấp trên các phương án vận dụng kéo dài thời gian công tác đối với cán bộ khoa học đầu ngành, trưởng nhóm nghiên cứu mạnh, cán bộ khoa học có trình độ cao, có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học và có chính sách đãi ngộ, khuyến khích, huy động sự tham gia của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Cùng với đó, Học viện chủ động tham gia hiệu quả vào Đề án 2395 của Chính phủ về “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước”; Kế hoạch số 1844/KH-BQP, ngày 27/5/2020 của Bộ Quốc phòng về thực hiện Đề án “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019 - 2030” trong Quân đội. Ưu tiên cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng, thực tập sinh, thỉnh giảng ở trong và ngoài nước, nhất là những cán bộ thuộc quy hoạch hoặc đang là thành viên nhóm nghiên cứu mạnh. Có chính sách riêng về đào tạo, bồi dưỡng đối với trưởng nhóm nghiên cứu mạnh cấp Học viện, hoặc trong quy hoạch phát triển thành trưởng nhóm nghiên cứu mạnh, nhà khoa học đầu ngành.

Bốn làphát huy sức mạnh tổng hợp, khai thác hiệu quả các nguồn lực trong xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh. Thực hiện nội dung này, Học viện tích cực huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí từ các cấp, các ngành, đơn vị và mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ gắn liền với phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Trong đó, chú trọng khuyến khích, hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh tìm kiếm, kết nối, hợp tác, khai thác nguồn kinh phí nghiên cứu từ các quỹ, đơn vị, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước; mở mới các đề tài, dự án theo nghị định thư với các đối tác nước ngoài, đưa hoạt động nghiên cứu khoa học trở thành hoạt động chủ đạo trong hoạt động hợp tác quốc tế, nâng cao uy tín, vị thế của Học viện. Cùng với đó, tập trung nguồn lực đầu tư đồng bộ, hiện đại cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm sát với nội dung, định hướng nghiên cứu đã được phê duyệt; ưu tiên đầu tư phòng thí nghiệm, trang thiết bị thí nghiệm đối với các hướng nghiên cứu thuộc các lĩnh vực liên ngành, thế mạnh của Học viện, phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phù hợp với quy hoạch của Bộ Quốc phòng.

Tiến hành đồng bộ, hiệu quả các giải pháp trên sẽ trực tiếp góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục đầu tư, xây dựng phát triển thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Học viện Kỹ thuật quân sự trở thành trường đại học nghiên cứu.

Trung tướng, GS, TSKH, NGND. NGUYỄN CÔNG ĐỊNH, Giám đốc Học viện
___________________

1 - Tập thể các nhà khoa học do một nhà khoa học uy tín đứng đầu, có hướng nghiên cứu chung trong lĩnh vực mới, có tính đột phá về khoa học - công nghệ và có mục tiêu, kế hoạch nghiên cứu trong từng giai đoạn cụ thể để tạo ra các sản phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn cao gắn với đào tạo sau đại học; định hướng và dẫn dắt các hướng nghiên cứu tiên tiến hiện đại,… và có thể đầu tư phát triển thành trung tâm nghiên cứu xuất sắc.

2 - Trong 05 năm (2017 - 2021), các nhóm nghiên cứu mạnh đã chủ trì và hoàn thành 16 đề tài cấp Quốc gia, 20 đề tài Nafosted và 24 đề tài cấp Bộ, tỉnh trở lên; có 354 công bố quốc tế thuộc danh mục ISI/Scopus; hướng dẫn thành công 62 nghiên cứu sinh, v.v.

3 - Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh về các lĩnh vực hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật của một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại và một số công nghệ mới, như: thiết kế, chế tạo khí tài quan sát, ngắm bắn sử dụng công nghệ ảnh nhiệt; vật liệu mới; bảo quản, cất giữ vũ khí, trang bị kỹ thuật trong điều kiện khắc nghiệt; thiết kế, thi công các công trình quân sự có độ kháng lực cao; viễn thám, trinh sát vũ trụ, v.v.

                                                                                                                    Nguồn: TCQPTD