Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

KHẲNG ĐỊNH NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM...

 

Chúng tôi không chọn phe, chúng tôi chọn lẽ phải! Đó là một khẳng định nhất quán của lãnh đạo đất nước tôi!
Và các bạn thấy rồi đấy, để hiện thực hóa chủ trương đó, lãnh đạo đất nước chúng tôi đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia trên thế giới.
Lãnh đạo chúng tôi cũng đã dành nghi thức rất trọng thị khi tiếp các quốc gia diện tích rất nhỏ, dân số dưới 100,000 người đến thăm đất nước tôi, ví dụ Nauru( 12,000 người), Palau( 19,000 người), như khi tiếp các cường quốc Trung Quốc, Mỹ, Nga...
Trong các buổi họp báo thường kỳ của bộ ngoại giao, khi các bạn hỏi Việt Nam về các vấn đề quốc tế, các cuộc xung đột hay chiến tranh... Chúng tôi vẫn trước sau như một với quan điểm:" Việt Nam kêu gọi các bên liên quan nối loại đối thoại, giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia."
Điều này được hiểu theo ý nào là tùy vào các bạn, hoặc là các bạn cố chấp không thèm hiểu mà cứ lặp đi lặp lại câu hỏi đó cũng là tùy vào các bạn. Còn chúng tôi luôn khẳng định:" Là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam sẵn sàng đóng góp vào quá trình đối thoại, tìm kiểm giải pháp để sớm ổn định tình hình, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới".
Có thể các bạn sẽ bảo chúng tôi là" nhạc nào cũng nhảy", ấy cũng là quyền của các bạn. Dân tộc chúng tôi đã trải qua quá nhiều mất mát đau thương do chiến tranh. Đất nước chúng tôi đã phải tan hoang vì bom đạn của Mỹ của Pháp và cả của Trung Quốc đem đến. Và giờ đây cái người dân nước tôi cần là hòa bình, là độc lập, chứ không phải dăm ba cái" dân chủ, nhân quyền" theo tiêu chuẩn của các bạn!
Chúng tôi sẽ không chọn phe, chúng tôi chọn lẽ phải. Hãy quan sát các chuyến đi của lãnh đạo nước tôi, bạn sẽ thấy rõ điều này!
ST

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 27/10


“Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”.
Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 10/1950 tại Lam Sơm, tỉnh Cao Bằng.
Kỷ luật là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm cho quân đội luôn có sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh đã khẳng định:“quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên là biểu hiện tập trung cao nhất của việc chấp hành nghiêm kỷ luật. Do vậy, Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương…
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, lời huấn thị: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng, trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân đã góp phần xây dựng Quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

NĂM 2050, VIỆT NAM SẼ THÀNH NƯỚC PHÁT TRIỂN, THU NHẬP CAO

 

Phó thủ tướng Lê Văn Thành vừa ký Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 25.10 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả nước bình quân đạt khoảng 7%/năm giai đoạn 2021 - 2030, trong đó vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng tăng khoảng 8 - 8,5%/năm. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD.
Hình thành hai vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với hai cực tăng trưởng là thủ đô Hà Nội và TP.HCM, hành lang kinh tế Bắc - Nam, các hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Mộc Bài - TP.HCM - Vũng Tàu với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn vào phát triển chung của đất nước...
Quy mô dân số đến năm 2030 đạt khoảng 105 triệu người. Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt tối thiểu 32 m2... Tầm nhìn đến năm 2050 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Các vùng phát triển hài hòa, bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh. Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5 - 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2050 đạt khoảng 27.000 - 32.000 USD. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2050 đạt 70 - 75%.
Nghị quyết cho biết sẽ tổ chức không gian phát triển theo 6 vùng, gồm vùng trung du và miền núi phía bắc gồm 14 tỉnh (chia 2 tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc), vùng đồng bằng sông Hồng, gồm 11 tỉnh, thành vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, gồm 14 tỉnh, thành (chia 2 tiểu vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ), vùng Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh, vùng Đông Nam Bộ, gồm 6 tỉnh, thành, vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh, thành.
Thanh Niên
Có thể là hình ảnh về nhà chọc trời

LẠI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Trên trang facebook: Đài Á Châu tự do, bút danh RFA đăng bài “Hội nghị 6 Ban chấp hành trung ương Đảng nhóm họp trong tâm lý bất an”; với mưu đồ công kích, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài viết Y đã lộng ngôn cho rằng Đảng ta đã “Tước quyền dân chủ trong đảng” và “công tác cán bộ đều do Đảng nắm hết” nhằm tạo sự hoài nghi, tâm lý hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

TÔI HIỂU RA RỒI!

Thấy ông Tính bước vào sân, ông Tùng nói vọng ra:

- Ông còn đến nhà tôi làm gì nữa? Ông phê bình, phản biện, làm tôi mất mặt trước chi bộ chưa đủ à?

- Ông bình tĩnh đã nào! Chính vì sợ ý kiến của tôi tại buổi sinh hoạt chi bộ không đồng ý đưa cậu Huy vào diện xét kết nạp Đảng ngay trong năm nay khiến ông hiểu sai, làm mất tình cảm anh em của chúng ta, nên tôi mới đến gặp ông để nói lại cho rõ.

KIÊN ĐỊNH

Đại hội XIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh sự kiên định vững vàng đối với mục tiêu, con đường chúng ta đã chọn, đó là: Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng...

TÁC HẠI KHÔN LƯỜNG

Cần thấy rằng, mục tiêu và những nội dung các thế lực thù địch áp dụng để chống phá cách mạng Việt Nam, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” là không thay đổi.

THỦ ĐOẠN "TÁN DƯƠNG" ĐỂ "DÌM HÀNG"

Để ca ngợi một ai đó, người ta lại đi “vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết” của người bên cạnh có chung quyền lợi, nhằm “dìm hàng”, triệt hạ đối thủ. Trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị, hành vi này là biểu hiện cá nhân chủ nghĩa của những thành phần “lươn, chạch”, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, cần phải đấu tranh bài trừ. Trên mặt trận tư tưởng chính trị, chúng ta cần tỉnh táo, sáng suốt nhận diện những biểu hiện này để có giải pháp đấu tranh, phản bác, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bác bỏ những luận điệu phản động!

 

(TG) - Nhân kỷ niệm 105 năm Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, trên các trang mạng xã hội của nhóm những người nhân danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam và các facebook cá nhân của những người “theo đóm”, “theo bả” của các thế lực thù địch đã đăng tải một số bài viết, với những luận điệu phản động, xuyên tạc sự thật. Trong đó, họ không chỉ phủ nhận ý nghĩa và giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà còn bẻ cong sự thật khi xuyên tạc việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản là sai lầm; cho rằng Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dẫn đến đất nước mất “bao năm nội chiến” và “chậm phát triển như ngày nay”. ..


Trước những thông tin sai lệch, dối trá, bôi đen sự thật nhằm xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống phá Đảng và chế độ này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA MỞ ĐẦU MỘT THỜI ĐẠI MỚI TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Càng có đội lùi của thời gian, chúng ta càng khẳng định rằng: Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười vẫn vẹn nguyên, trường tồn. 105 năm đã trôi qua (1917-2022), song sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc, làm rung chuyển cả thế giới cũng như việc cuộc cách mạng vĩ đại ấy đã mở ra con đường đưa các dân tộc thuộc địa, bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc; trong đó có Việt Nam ở Đông Nam châu Á là không thể phủ nhận! Đó chính là một cuộc Cách mạng mở đường, đúng như V.I Lênin đã khẳng định: “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu xây dựng nhà nước Xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1).

Với Việt Nam, vào thập niên 1920, khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đang bôn ba trên hành trình tìm đường cứu nước, trải nghiệm và khảo sát các chế độ chính trị xã hội ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục, thì Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công. Không lâu sau, Quốc tế thứ III - Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin sáng lập ngày 2/3/1919 tại Mátxcơva (Liên Xô) đã “bắt đầu thực hiện khẩu hiệu vĩ đại nhất của Mác, khẩu hiệu tổng kết thực tiễn trong một thế kỷ của chủ nghĩa xã hội và của phong trào công nhân, khẩu hiệu biểu hiện bằng khái niệm: chuyên chính của giai cấp vô sản” . Ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga và “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đã giúp Người tìm thấy con đường để giải phóng dân tộc mình, nhân dân mình khỏi kiếp lầm than. Và thế là, như một sự lựa chọn của lịch sử, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ lựa chọn, bỏ phiếu cho Quốc tế thứ III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên - một trong những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, mà còn đồng thời lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.

Một hành trình hoạt động cách mạng về lý luận và thực tiễn, hình thành con đường cách mạng Việt Nam bắt đầu. Và cũng từ sự lựa chọn có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng này, sau đó, trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(2); “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(3) và “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4)

Khi những điều kiện cần và đủ đã chín muồi, Người đã không chỉ vận dụng những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để sáng lập một Đảng Mácxít - Lêninnít cách mạng chân chính; đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; cổ vũ, động viên và quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng; xây dựng căn cứ địa cách mạng… mà còn lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng, đón và chớp đúng thời cơ  để vùng lên giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị của Nhật, Pháp và giành chính quyền về tay nhân dân. Với Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM DO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG TA VÀ NHÂN DÂN LỰA CHỌN LÀ ĐÚNG ĐẮN

Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam những năm cuối thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít - Lêninnít để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa tên đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, của quyền con người mà trước đó “họ chưa bao giờ có được”…

Thực tế cho thấy rằng, một ngày sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời chủ trì cuộc họp để giải quyết những công việc cấp bách. Giữa bộn bề công việc và ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, 6 nhiệm vụ cấp bách mà Người cùng Chính phủ quyết liệt triển khai thực hiện đều không ngoài những quyết sách nhằm chống thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được và bắt đầu kiến thiết đất nước. Trong những ngày tháng cam go đó, không thể không nhắc đến những nhiệm vụ chính trị quan trọng được triển khai thành công như: Xúc tiến tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, bỏ phiếu kín; soạn thảo và sớm thông qua tại Quốc hội khóa I để Việt Nam có một bản Hiến pháp dân chủ, công bình của các giai cấp - Hiến pháp 1946; thực hiện công cuộc xóa nạn mù chữ; tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để từng bước xóa nạn đói; tiến hành các hoạt động ngoại giao mềm dẻo, hòa hoãn với kẻ thù, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ”, thôn tính đất nước của quân Tưởng và Pháp (hòa với Tưởng để tập trung đánh Pháp; hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng về nước)…

Trong điều kiện vừa giành được độc lập, phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức, những quyết sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng (đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11/1945) và Chính phủ không chỉ mang lại cho người dân Việt Nam những lợi ích thiết thực của độc lập, tự do, mà còn góp phần củng cố, nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Vì thế, không có việc chế độ dân chủ cộng hòa ở Việt Nam khi đó là “phi dân chủ”, là thực hiện chuyên chính vô sản nên “đã tàn sát” những người yêu nước trong các đảng phái khác, “gây đổ vỡ lớn trong dân tộc” như sự bịa đặt của Tâp hợp dân chủ đa nguyên. Thực tế, những công việc mà chính quyền cách mạng triển khai đều không ngoài thực thi nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của người dân cả nước. Nếu Việt Nam thực sự “phi dân chủ”, thì chắc chắn không thể có cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Hơn nữa, nếu không có dân chủ, nếu Đảng thực sự “độc tài và chuyên quyền” như các thế lực thù địch vu khống, thì cũng không thể có khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng, củng cố trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức cùng các tầng lớp lao động khác trở thành động lực chủ yếu của cách mạng được tập hợp trong các hình thức Mặt trận từ năm 1930 đến nay (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) được.

Có một sự thật cũng cần phải khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam chắc chắn không phải là “cuộc nội chiến Bắc - Nam” và cuộc trường chinh kháng chiến đó cũng không phải là sự áp đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng như các luận điệu phản động, xuyên tạc tung lên mạng xã hội. Mà chỉ có một sự thật- đó là một cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cho khát vọng “thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”, cho niềm tin tưởng “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” và “đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(5)… dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việc quy chụp cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “nội chiến” chính là một trong những chiêu trò đổi trắng thay đen của các nhà “rân chủ”, ngáo “dân chủ tư sản”.  Luận điệu xuyên tạc này không phải là sự thật, mà sự thật là nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, sau 21 năm kiên cường kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ, miền Nam đã được giải phóng, cả nước đã thống nhất vào mùa Xuân năm 1975. Như vậy là, nhân dân Việt Nam yêu nước đã đồng tâm, hợp lực và đoàn kết để chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc mình; cho phẩm giá làm người của chính mình như mình lựa chọn, chứ không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam “sai lầm từ đầu”, “mê muội rập khuôn theo Liên Xô”, “đi theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ”, đã “áp đặt cuộc nội chiến” như sự quy chụp và vu khống của các thế lực thù địch.

SỰ THẬT LÀ MINH CHỨNG SINH ĐỘNG NHẤT

Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước (1945-1975). Ước mơ về một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, "non sông liền một dải" cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực. Những hồi ức "ngày Bắc đêm Nam", "kẻ Bắc người Nam" khi đất nước bị chia đôi đã trở thành quá khứ. Đi cùng đó, chế độ “Việt Nam cộng hòa” thân Mỹ cũng không còn hiện diện. Sự thật là, sau khi cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, thì hòa bình, độc lập, tự do và một đất nước Việt Nam khởi sắc, ngày một phát triển sau những năm dài chiến tranh tàn khốc đã mang lại cho mỗi người dân trên mọi miền của Tổ quốc một đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn; năm sau tốt hơn năm trước. Đặc biệt, sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đồng thời, cũng chứng minh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, liên minh chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của mình, quyết tâm đi tới một tương lai hạnh phúc tươi đẹp, đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa”(6) là hoàn toàn đúng đắn!

Cùng với đó, cũng cần phải khẳng định rằng, với thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc “đem người nô lệ thành người tự do” vào mùa Thu năm 1945 cách đây 77 năm, dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng, nhân dân Việt Nam đã khẳng định được nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; đồng thời, cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khác vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình, mở đầu cho những thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh sau đó. Đặc biệt, một sự thật cũng không thể phủ nhận nữa là, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội hơn 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng và phát triển; không chỉ vững vàng, bản lĩnh, kiên định trước những biến động của tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, mà còn và luôn xứng đáng là Đảng cầm quyền, độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam - lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 2013 đã hiến định.

Trân trọng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - những cuộc cách mạng không chỉ ghi dấu mốc trong lịch sử của mỗi dân tộc mà còn là một mốc son trong lịch sử thế giới đương đại là không thể cãi bàn. Bởi rằng, trân trọng những hy sinh và cả những thành tưu của quá khứ cũng chính là trân trọng nguồn sức mạnh nội lực của chính mình, dân tộc mình trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng. Nên là, những luận điệu phản động cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga “đã sụp đổ tại chính quê hương của nó”,  đã “chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng” và Việt Nam đi theo “vết xe đổ đó là sai lầm” thật thiển cận.  Không phải Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là chủ nghĩa Mác - Lênin đã “hết thời”, mà đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực vì những do chủ quan và khách quan của nó. Đồng thời, cũng không phải vì những khó khăn, thách thức đang tiếp tục phải đối diện trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà có thể quy chụp rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đưa đất nước đến nghèo đói, đưa đất nước “đi vào ngõ cụt”.



Một Việt Nam "chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" là minh chứng khách quan sinh động nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc! Vì thế, dù nhân danh ai và tổ chức nào, thì khách quan cũng không thể xuyên tạc, bẻ cong được giá trị thời đại, có tính định hướng lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũng như sự lựa chọn con đường cứu nước duy nhất đúng, phù hợp xu thế thời đại, phù hợp điều kiện, vị thế địa chính trị Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tế, việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam là sự thật và sự thật đó cho thấy các nhà “rân chủ” vừa hay xuyên tạc vừa hay mơ hão! Chắc chắn, ở Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng đối lập; không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và thực thi nền dân chủ tư sản, nên giấc mơ “Việt Nam dân chủ, tự do tư sản” của các nhà “rân chủ” chỉ còn là ảo vọng!

TS. Văn Thị Thanh Mai

--------

(1) V.I Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.44, tr.184-185

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.304

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.304

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.289

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.280

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.181

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.


Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng.

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…

Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.

Hay như ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!

Mới đây, sau khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực, được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh.

Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.

Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.