Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 

         

          Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… Trong đó, đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là bước chuyển trực tiếp đến “diễn biến hòa bình”, làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh, cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

           Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tự soi, tự sửa và giám sát người khác; qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chung chung. Thực trạng “vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời đã ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là điểm cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. 

           Để đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu và ban hành, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, như tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 9-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29-9-2018, “Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””

             Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng triển khai xây dựng các đề án, đề tài, hội thảo khoa học để nghiên cứu những giá trị văn hóa tốt đẹp cần phát huy và những hủ tục, những biểu hiện văn hóa lai căng, không phù hợp cần được loại bỏ nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam, như các đề án, đề tài về tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam; vai trò của hương ước, quy ước đối với xây dựng đạo đức lối sống hiện nay; bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng mô hình cưới văn minh tiết kiệm, phù hợp với phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong lễ hội…

             Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể triển khai nhiều hoạt động thực tiễn; phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức các đợt phát động sáng tác tranh cổ động, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị được giao; tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần xây dựng con người Việt Nam yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, viên chức, lao động... Phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng chương trình đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nam, nữ thanh niên về trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm cho thanh, thiếu niên về giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình no ấm; xây dựng con người tiến bộ, hạnh phúc, có lòng yêu nước, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... triển khai các chương trình phối hợp trong xây dựng đạo đức, lối sống trong các lĩnh vực, địa bàn công tác có liên quan; phát huy hiệu quả phối hợp giáo dục của 3 môi trường “gia đình - nhà trường - xã hội”; nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng như hiệu quả công tác quản lý và tổ chức lễ hội…

   Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng lồng ghép, triển khai các nội dung tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong việc việc cưới, việc tang và lễ hội với các phong trào khác, như phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng gia đình nông dân sản xuất giỏi, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; đồng thời tổ chức thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của phương tiện truyền thông mới” gồm 8 đề tài; thực hiện đề tài khoa học cấp quốc gia “Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Phát huy vai trò của hương ước, quy ước trong xây dựng đạo đức, lối sống trong giai đoạn hiện nay”; triển khai thực hiện Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình gắn với chủ đề “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”.

             Nhìn chung, các văn bản, chỉ thị về văn hóa được ban hành kịp thời, phát huy được những hiệu quả, hiệu lực quản lý nhất định, góp phần đề cao vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành hiện thực trong đời sống, trở thành nền nếp, tạo ra những giá trị mới phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đồng thời, góp phần thúc đẩy, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong tình hình mới, đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng “hệ giá trị văn hóa tư sản”. Nền văn hóa truyền thống, cách mạng giữ gìn được bản sắc dân tộc, phát huy được giá trị tinh hoa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Với các chủ trương, đường lối kịp thời của Đảng và Chính phủ, đời sống mọi mặt của đất nước ổn định, phát triển bền vững, mối đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên lĩnh vực văn hóa. công tác xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam còn có hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, những tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi các giá trị xã hội, định hướng chuẩn mực đạo đức trong mỗi con người. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tốt đẹp của dân tộc bị biến đổi, mai một, thậm chí bị lấn át bởi quan hệ kinh tế, lợi nhuận. Hệ giá trị mới với các chuẩn mực cụ thể về đạo đức, lối sống chưa được tập trung xây dựng; những giá trị mới hình thành chưa bền vững nên chưa có tác động tích cực đối với định hướng giá trị nhân cách con người. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức và pháp luật chưa tốt; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tham gia xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam chưa được phát huy. Tình trạng lai căng sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội và sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, đang làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là giới trẻ hiện nay. Hoạt động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật có lúc còn thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục và tính chiến đấu. Việc ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa thực sự hiệu quả, kịp thời.

       T3.

 

 

 

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa


“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

            T3.

Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội

 


Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội là một phương thức quan trọng nhằm làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” và thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” (“DBHB”) tiến công vào Quân đội ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TT,VH). Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là mạng in-tơ-nét, các website, blog, tạp chí, tập san, báo, đài phát thanh,… để tán phát các tin, bài, tài liệu có nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Quân đội ta.

Chúng đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội phi giai cấp”, lực lượng vũ trang “… chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”. Cùng với đó, chúng đòi giải tán hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị, chính ủy (chính trị viên) trong Quân đội, hòng chuyển hóa Quân đội ta thành “đội quân chuyên nghiệp, phi đảng phái”,… Trước thực tế quan hệ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế ngày càng phát triển, các thế lực thù địch lại tung ra luận điệu cho rằng: hiện nay Việt Nam không còn kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam không còn đối tượng tác chiến nữa…, hòng tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội. Lợi dụng bầu không khí dân chủ của xã hội, khi Đảng và Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng xuyên tạc: “Quân đội luôn được coi là công cụ trọng yếu “trước hết” bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước “sau đó” mới bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân”, hoặc kích động rằng: “Bản Hiến pháp mới sẽ trói tay lực lượng vũ trang, kích hoạt những mầm mống nội chiến và tiếp tay cho kẻ thù thực hiện âm mưu xâm lược”,… Đáng chú ý là, chúng đẩy mạnh sử dụng các trang mạng xã hội để truyền tải các thông tin sai lệch, kêu gọi, tập hợp ý kiến, quan điểm “trái chiều”, “phản biện” các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta; đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Chúng còn ra sức bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín của Quân đội; chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa Quân đội với nhân dân. Lợi dụng vụ cưỡng chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, chúng tung tin vu cáo Quân đội trấn áp nhân dân. Sau các vụ tàu Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp trên vùng Biển của ta, cắt cáp tàu Bình Minh 02 và tàu Vi-king 2, xua đuổi, truy bắt tàu đánh cá của ngư dân ta, chúng vu khống Quân đội không thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc,… Gần đây, Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập quân sự, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, chúng tung tin vu khống Quân đội diễn tập để cướp đất của dân, đàn áp nhân dân, làm mất quyền tự do dân chủ của nhân dân,... Chúng còn kêu gọi Quân đội phải “nhận thức đúng đắn” về mục tiêu hành động là: vì nhân dân, vì dân tộc, chứ “không vì bảo vệ lợi ích của một đảng độc quyền”(?) Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên trong Quân đội có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội…, chúng tìm cách nói xấu, hòng gây chia rẽ nội bộ, làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Có thể khẳng định rằng, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch nhằm vào Quân đội là rất thâm độc, xảo quyệt, được tiến hành với tần suất ngày càng tăng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, lái Việt Nam đi sang con đường lệ thuộc vào mục đích của chúng. Với tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa đấu tranh với nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng về chính trị, Quân đội đã chủ động, tích cực tiến công và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội được giữ vững, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, gắn bó máu thịt với nhân dân, kiên định với đường lối đổi mới của Đảng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Quân đội là một lực lượng nòng cốt, đi đầu cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực, chủ động đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Tuy vậy, trong Quân đội vẫn còn một số CB,CS có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, như: chưa nắm vững thực chất tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; còn băn khoăn, lo lắng, thiếu niềm tin vào hiệu quả của việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; còn có thái độ thờ ơ, vô cảm trước những hành vi vi phạm pháp luật, suy đồi về đạo đức, lối sống. Những biểu hiện trên, nếu không được khắc phục, sẽ là mảnh đất tốt để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH nhằm vào Quân đội ta.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, Quân đội phải không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, làm cơ sở để xây dựng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm được điều đó, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp; trong đó, đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH là vấn đề cơ bản, cấp bách nhất.

Trước hết, phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. 

Nhiệm vụ này là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người chỉ huy, nhất là cấp cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH là trách nhiệm của Trung ương, của các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí...; do đó, chưa thật sự coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phòng, chống “DBHB”. Có nơi, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH còn mang tính hình thức, thậm chí giao khoán cho cơ quan chính trị. Để khắc phục tình trạng đó, cấp ủy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH”; đồng thời, rà soát, kiện toàn, xây dựng quy chế, quy định và duy trì có nền nếp chế độ hoạt động của Ban Chỉ đạo. Theo đó, các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo của cấp ủy, Trưởng Ban là đồng chí Bí thư Đảng ủy; các cấp ủy còn lại, đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo. Hằng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động; cấp ủy xây dựng kế hoạch đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH ở cấp mình, đề ra những chủ trương, biện pháp sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh, mang lại hiệu quả thiết thực. Mặt khác, phải tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các đơn vị.

Hai là, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội. Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.

Ba là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, là biện pháp cơ bản để Quân đội đấu tranh có hiệu quả chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, các cấp cần phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; đồng thời, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Với phương châm gắn chặt giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo xây dựng nội bộ từng đơn vị vững mạnh về mọi mặt; trong đó, chú trọng gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, tạo nền tảng vững chắc trong đấu tranh phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH. Cùng với đó, các đơn vị cần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, cửa quyền…, tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng trong cơ quan, đơn vị bị kẻ địch lôi kéo, móc nối; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những quan điểm, tư tưởng sai trái thẩm lậu vào đơn vị. Một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là, cấp ủy các cấp cần gắn giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức cách mạng với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm là khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, công tác cán bộ. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định về quản lý nội bộ, quản lý tài liệu và bảo vệ chính trị nội bộ; không để các ấn phẩm văn hoá độc hại, tài liệu phản động thẩm lậu vào đơn vị; quản lý chặt chẽ thông tin qua mạng in-tơ-nét, điện thoại di động, không để CB,CS bị tác động bởi những diễn đàn xấu độc.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, lực lượng đấu tranh chuyên sâu và hệ thống thiết chế văn hóa. Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, các cơ quan chức năng, đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội cần triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội,... Thường xuyên bám sát đời sống mọi mặt tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, chủ động dự báo sự vận động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, những khuynh hướng, tình huống có thể xảy ra đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, dự báo nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ là việc làm rất quan trọng. Việc nghiên cứu, dự báo cần được thực hiện ở các quy mô khác nhau, ở nhiều loại hình cơ quan, đơn vị; qua đó, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp phòng, chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Các đơn vị cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, phương tiện truyền thông, các đơn vị nghệ thuật Quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang,... có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Toàn quân cần tiếp tục củng cố và nhân rộng lực lượng đấu tranh trên mạng; coi trọng những người có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có khả năng diễn đạt và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, cần thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự của các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu và các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí quân đội. Đồng thời, quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, có cơ chế, chính sách bảo vệ, khen thưởng phù hợp đối với những lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, tạo sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả; khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc phối hợp, hiệp đồng mang tính “thời vụ”. Các đơn vị phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CB,CS; phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, tạo môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị.

Thực hiện tốt các giải pháp trên đây là bảo đảm quan trọng để đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực TT,VH, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

          T3.

 

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, lực lượng đấu tranh chuyên sâu và hệ thống thiết chế văn hóa.

 


Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, các cơ quan chức năng, đội ngũ các nhà khoa học trong Quân đội cần triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội,... Thường xuyên bám sát đời sống mọi mặt tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, chủ động dự báo sự vận động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, những khuynh hướng, tình huống có thể xảy ra đối với sự phát triển của đất nước. Trong đó, dự báo nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ là việc làm rất quan trọng. Việc nghiên cứu, dự báo cần được thực hiện ở các quy mô khác nhau, ở nhiều loại hình cơ quan, đơn vị; qua đó, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp phòng, chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Các đơn vị cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản, phương tiện truyền thông, các đơn vị nghệ thuật Quân đội trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang,... có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Toàn quân cần tiếp tục củng cố và nhân rộng lực lượng đấu tranh trên mạng; coi trọng những người có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có khả năng diễn đạt và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bên cạnh đó, cần thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự của các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu và các phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí quân đội. Đồng thời, quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, có cơ chế, chính sách bảo vệ, khen thưởng phù hợp đối với những lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, tạo sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả; khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm” hoặc phối hợp, hiệp đồng mang tính “thời vụ”. Các đơn vị phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CB,CS; phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, tạo môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh trong từng cơ quan, đơn vị.

          T3.

 

Làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội.

 


Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.

          T3.

 

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH.

 


Nhiệm vụ này là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là của cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người chỉ huy, nhất là cấp cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, cho rằng đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH là trách nhiệm của Trung ương, của các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu, cơ quan báo chí...; do đó, chưa thật sự coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức phòng, chống “DBHB”. Có nơi, hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH còn mang tính hình thức, thậm chí giao khoán cho cơ quan chính trị. Để khắc phục tình trạng đó, cấp ủy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH”; đồng thời, rà soát, kiện toàn, xây dựng quy chế, quy định và duy trì có nền nếp chế độ hoạt động của Ban Chỉ đạo. Theo đó, các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo của cấp ủy, Trưởng Ban là đồng chí Bí thư Đảng ủy; các cấp ủy còn lại, đồng chí Bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo. Hằng năm, Ban Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động; cấp ủy xây dựng kế hoạch đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH ở cấp mình, đề ra những chủ trương, biện pháp sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh, mang lại hiệu quả thiết thực. Mặt khác, phải tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các đơn vị.

          T3.

 

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tiếp thu ý kiến phản biện của nhân dân

 


Gần đây trên trang mạng xã hội có bài viết với tiêu đề hết sức mỉa mai “Xin chúc mừng vì sự thành công!” của Đoàn Bảo Châu trên baotiengdan. Thực chất bài viết của y là lợi dụng một số phần tử do đã có những hành vi vi phạm pháp luật và phát ngôn không đúng sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã bị xử lý để tuyên truyền cho cái gọi là “đàn áp các ý kiến phản biện”. Lố bịch hơn, y còn đổ lỗi cho nhà cầm quyền Việt Nam không biết lắng nghe “tư tưởng, ý kiến trái chiều để học hỏi và phát triển”.

Vậy sự thật có đúng như lời vu khống của Đoàn Bảo Châu hay không. Hiển nhiên một điều chắc chắn rằng mọi người dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài đều nhận thức rất rõ:

1. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, coi trọng, tiếp thu các ý kiến phản biện, hiến kế xây dựng chủ trương, đường lối lãnh đạo

Không như lời vu khống, xuyên tạc của Đoàn Bảo Châu, Đảng ta nhất quán chủ trương tạo môi trường cho ý kiến, phản biện của nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội, đóng góp, phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh, mở rộng dân chủ và tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội. Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn coi trọng ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối, chính sách. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”.

Mọi ý kiến, phản biện của nhân dân với Đảng, Nhà nước đều được ghi nhận thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc luôn đối thoại, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân để phản ánh với các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương cũng như các địa phương. Tuy nhiên, những ý kiến phản biện đi ngược lại đường lối của Đảng, lợi ích dân tộc và nhân dân, núp bóng “dân chủ@ để “ký sinh” tư tưởng chống đối, sẽ bị loại bỏ.

Đoàn Bảo Châu rất lươn lẹo khi dựa vào một số phần tử xã hội vi phạm pháp luật để xuyên tạc và vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam đàn áp ý kiến phản biện. Y đã không biết rằng, để tôn trọng và thực hiện quyền góp ý, phản biện của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về lấy ý kiến phản biện. Điển hình như Quyết định số 217 về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quyết định 218 quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…

2. Đảng và Nhà nước luôn tạo môi trường thuận lợi cho sự tham gia ý kiến và phản biện của nhân dân

Trên thực tế, từ Trung ương đến địa phương đã tạo môi trường dân chủ trong tiếp thu ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đóng góp ý kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh…

Để tiếp nhận ý kiến phản biện của nhân dân nhanh chóng và kịp thời, các ban ngành ở Trung ương, địa phương đã mở các Fanpage “Cổng tiếp nhận ý kiến nhân dân” trên mạng xã hội Facebook và tài khoản “Cổng tiếp nhận ý kiến nhân dân” trên mạng xã hội VCNET… Ngoài ra, việc tiếp thu các ý kiến phản biện từ người dân và các tầng lớp xã hội còn được thực hiện thông qua nhiều kênh tiếp xúc, trao đổi, giải quyết đơn thư, hội nghị lấy ý kiến cử tri, các phương tiện truyền thông, thăm dò dư luận xã hội, các diễn đàn đối thoại…

Những chủ trương và hành động cụ thể của Đảng, Nhà nước ta về tiếp thu ý kiến phản biện từ nhân dân là minh chứng để chúng ta phản bác lại những luận điệu vu khống, xuyên tạc của Đoàn Bảo Châu. Chúng ta cần cảnh giác và lên án mạnh mẽ những lời vu cáo vô căn cứ trên, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta./.

T3.

 

Chủ động phòng ngừa, không để các thế lực thù địch âm mưu “diễn biến hòa bình”

 


Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để tuyên truyền những thông tin không đúng sự thật nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Âm mưu của chúng không mới, nhưng những phương thức, thủ đoạn thì ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, chủ động phòng ngừa, đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta luôn là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta.

Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ... để làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém, nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt, đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta.

Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, Nhà nước ta. Nhất là vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện, ngày lễ lớn, chiêu trò này được chúng sử dụng càng nhiều. Đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, mặc dù kết quả chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng, nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận đối ngoại cũng bị chúng xuyên tạc hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Có thể thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó, tính chủ động cần được đặt lên hàng đầu.

Tính chủ động trước hết phải xuất phát từ trong nhận thức. Hiện nay, một số lượng rất lớn các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch.

Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết, nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi, đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

          T3.

Xuyên tạc chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại - điều không thể chấp nhận

 


Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại là nội dung quan trọng, tiếp theo trong chiến lược xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Điều này được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng, trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc,... được thể chế hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước và được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực thực hiện. Hiện nay, trước sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo trên tất cả các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thì vấn đề xây dựng Quân đội hiện đại càng trở nên quan trọng và bức thiết, mang tính chiến lược cơ bản, lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, …. tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”1.

Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp và cần thiết, phản ánh sâu sắc tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân đội. Nhưng với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn ấy bằng các luận điệu: “muốn hiện đại hóa quân đội, thì trước hết phải đổi mới xây dựng quân đội”; rằng, phải nghiên cứu, thực hiện xây dựng theo “mô hình quân đội của phương Tây”. Họ còn “khuyên nhủ”, để hiện đại hóa quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại và đang “mong muốn giúp đỡ” Việt Nam. Thâm hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng quân đội hiện đại là “cuốn theo cuộc chạy đua vũ trang”, là “khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực” và để “chống lại một nước thứ ba”; xuyên tạc rằng “Việt Nam đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới”, làm cho tình hình khu vực và Biển Đông trở nên phức tạp và “nóng” hơn, nhằm phá hoại mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực. Để chống phá, các thế lực thù địch tấn công trực diện, công khai, liên tục với cường độ mạnh bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; họ triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội để phát tán những thông tin, tài liệu, luận điệu xuyên tạc, công kích trắng trợn và kêu gọi, lôi kéo sự phụ họa của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn tham gia chống phá chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại của Đảng, Nhà nước ta.

Những thủ đoạn đó đặc biệt nguy hiểm, tác động tiêu cực đến quá trình hiện đại hóa và sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới. Bởi, nó gây nhiễu, kìm hãm và cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tạo bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và đối ngoại quân sự, quốc phòng, nhất là với các nước lớn, các nước trong khu vực, cũng như bảo đảm hòa bình cho ổn định và phát triển đất nước. Họ cũng toan tính rằng, nếu chưa thể làm chệch hướng quá trình hiện đại hóa Quân đội Việt Nam, thì thủ đoạn đó cũng dễ tạo nên mối nghi ngờ, tâm lý hoang mang nhất định, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội hiện đại của Đảng, Nhà nước ta; từ đó tin và mong muốn xây dựng quân đội theo mô hình phương Tây; khơi dậy sự “mong ngóng” trong xã hội về sự liên kết, hỗ trợ, “giúp đỡ” của cường quốc để hiện đại hóa quân đội.

Chúng ta đều biết, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội vững mạnh là đòi hỏi tất yếu đối với mỗi quốc gia; việc hiện đại hóa cũng là yêu cầu cần thiết đối với bất cứ lực lượng vũ trang, quân đội của quốc gia nào. Đó là sự thật hiển nhiên mà không có tổ chức và quốc gia nào phủ nhận. Theo đó, mỗi nước, căn cứ vào đặc điểm, tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể; tính chất, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nước mình mà thực hiện hiện đại hóa, trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật cho phù hợp với khả năng của mình. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, lãnh thổ, chủ quyền biển đảo,… diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp, thì vấn đề xây dựng và hiện đại hóa quân đội để tự vệ chính nghĩa, bảo vệ hòa bình lại càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn bao giờ hết. Như vậy, việc Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, ưu tiên một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại là tất yếu. Chủ trương này tuyệt nhiên không phải là “chưa cần thiết”, “không phù hợp”, ảnh hưởng tiêu cực đến “đời sống của nhân dân” như sự công kích của các thế lực thù địch. Thậm chí, đây còn là chủ trương cho thấy rõ tầm quan trọng mang tính chiến lược của việc xây dựng Quân đội hiện đại trong bối cảnh mới; đồng thời, khẳng định Việt Nam đã có đủ điều kiện, khả năng và sự đồng thuận, sự mong muốn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong xây dựng Quân đội hiện đại.

Mặt khác, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, v.v. Những vấn đề đó đòi hỏi chúng ta phải đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa Quân đội, tập trung xây dựng một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”. Đây là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta xác định là một nội dung quan trọng trong phương hướng xây dựng Quân đội. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, cùng những kết quả bước đầu đạt được từ quá trình hiện đại hóa Quân đội thời gian qua bảo đảm cho chúng ta những điều kiện cần và đủ để xây dựng Quân đội hiện đại như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chủ trương đó cũng chỉ rõ, bên cạnh việc phát huy, nâng cao hiệu quả vũ khí, trang bị hiện có, cần phải có vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước.

Bên cạnh đó, tăng cường sức mạnh quốc phòng, hiện đại hóa Quân đội là nhằm chủ động giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn ngừa mọi nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để đất nước xảy ra chiến tranh. Đồng thời, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Đó là mục đích tự vệ, thể hiện tính chất hòa bình, chính nghĩa, độc lập, tự chủ, không liên kết trong chủ trương xây dựng Quân đội hiện đại, không phải là “khơi mào” cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, để “chống lại một nước thứ ba” nào đó, làm cho tình hình trở nên phức tạp và “nóng” hơn như sự xuyên tạc xảo trá theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người” của các thế lực thù địch.

Hiện nay, không ít phần tử tuy bày tỏ sự “ủng hộ” chủ trương hiện đại hóa quân đội của Đảng và Nhà nước ta, song lại hướng lái quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc, không chịu sự lãnh đạo của Đảng; rằng, chỉ cần trang bị vũ khí hiện đại thì quân đội ắt sẽ mạnh lên, khiến các nước khác phải e dè, v.v. Đây là thủ đoạn rất tinh vi, nham hiểm, hòng che đậy mưu đồ “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu để dễ bề thao túng. Ở đây, cần phải khẳng định rằng, cùng với các nội dung xây dựng khác, việc xây dựng Quân đội hiện đại, tinh, gọn, mạnh còn nhằm không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta hiện nay, làm cho Quân đội ta thực sự là của dân, do dân và vì dân; là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, Nhân dân và đủ sức hoàn thành phận sự trung thành ấy, chứ không phải theo mô hình “quân đội nhà nghề” phương Tây như sự hướng lái của các thế lực thù địch. Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ta luôn nêu cao ý chí, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để xây dựng quân đội hiện đại. Vì vậy, không thể từ bỏ chính sách quốc phòng “4 không” như sự “khuyên nhủ” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”2

Cùng với đó, cần nhận thức đúng: chúng ta xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ khí trang bị, mà hiện đại trên tất cả các nội dung cấu thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó còn là sự quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Nếu xa rời những nguyên tắc, yêu cầu trên, thì xây dựng Quân đội hiện đại sẽ mất phương hướng, không những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân của Quân đội, mà có thể dẫn đến những nguy hại khôn lường.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại là tạo nên một cốt lõi vững chắc trong các “trụ cột” của sức mạnh tổng hợp: “kinh tế vững”, “quốc phòng mạnh”, “thực lực cường”, “lòng dân yên”, “chính trị - xã hội ổn định”, “cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất” như Đảng ta xác định trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc. Đó là chủ trương đúng đắn, phù hợp của Đảng, Nhà nước ta và là nguyện vọng, mong muốn xây dựng Quân đội nhân dân thực sự hùng mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          T3.

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG QUAN TÂM BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

 Dù thời cuộc có nhiều biến động và thế giới có nhiều đổi thay, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Những luận điệu xuyên tạc ác ý, thâm độc
Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược, Đảng ta xác định mục tiêu cao nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, thống nhất đất nước là lợi ích tối cao của toàn dân tộc. Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc được thể hiện bao trùm ở phương hướng-mục tiêu “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” gắn liền với thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy vậy, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trên mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam đã xuất hiện những luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”. Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, “nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào”. Ác ý và thâm độc hơn, có ý kiến đổ tội cho “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu” (?!).
Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất; thì cũng là cái nhìn thiếu khách quan, toàn diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, thậm chí lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Lợi ích của Đảng luôn thống nhất với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc Đảng ta luôn trung thành và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bởi trước hết, Đảng ta là con nòi của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hơn 90 năm qua đã khẳng định, ở Việt Nam, không lực lượng chính trị nào có đủ uy tín, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi ở nước ta từng xuất hiện một số tổ chức đảng khác nhưng vì không đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, thậm chí có tổ chức đảng còn phản bội, đi ngược lại lợi ích của dân tộc nên tự đào thải và bị lịch sử loại bỏ.
Nhờ lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 3 thập niên đổi mới mà Đảng ta đã chứng minh được vị thế, năng lực cầm quyền của mình, từ đó thuyết phục được nhân dân, lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc, của nhân dân, của quốc gia-đó là bằng chứng sinh động thể hiện “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đó cũng là lý do căn cốt, là điểm tựa niềm tin lớn nhất mà nhân dân trao quyền, ủy quyền lãnh đạo của mình cho Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nói về vai trò của Đảng trong bảo vệ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc không thể không nhắc đến những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước. Với mức tăng GDP hằng năm trung bình khoảng 7% trong hơn 35 năm qua, hiện nay Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI). Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội.
Vì là một đảng “tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” nên trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để ngang tầm với sứ mệnh mà nhân dân giao phó. Sai đâu sửa đấy, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, thừa nhận khuyết điểm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa khuyết điểm không chỉ là dũng khí, bản lĩnh của một đảng mác xít chân chính mà còn thể hiện tinh thần cầu thị của Đảng để không phụ lòng tin của nhân dân và dân tộc. Việc Đảng ta kịp thời sửa sai trong chủ trương thực hiện cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước; kiên quyết từ bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước và những năm gần đây thực hiện quyết liệt việc thanh lọc, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm để làm trong sạch Đảng cũng không ngoài mục đích bảo vệ những lợi ích chính đáng của đại đa số nhân dân, bảo vệ sự liêm chính của quốc gia, bảo vệ những thành quả cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam đã chung tay góp sức giành được trong gần 80 năm qua.
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính
Từ bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn đổi mới mạnh mẽ được Đảng ta khởi xướng từ năm 1986, với sự nỗ lực bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đến nay, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và diễn biến khó lường hiện nay, Đảng ta vẫn kiên định với phương châm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc ở Việt Nam không phải là lợi ích quốc gia, dân tộc hẹp hòi, cực đoan như có kẻ từng rêu rao, xuyên tạc. Bởi lẽ, những năm qua, Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối và Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Mặt khác, trong quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Phương châm này thể hiện nhận thức nhất quán của Đảng là giải quyết hài hòa giữa lợi ích của dân tộc và lợi ích chung của nhân loại, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính của giai cấp công nhân.
Những năm gần đây, uy tín của Việt Nam không ngừng được củng cố, tăng cường trên trường quốc tế khi được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng kinh tế-xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam đồng thời đảm nhiệm 3 trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Từ một nước gần như bị bế quan tỏa cảng, sau gần 4 thập niên, đến nay, Việt Nam đã có thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 quốc gia, trong đó thiết lập quan hệ ổn định lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện. Đặc biệt, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đã tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình (PKO) đạt nhiều kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Như vậy, từ những cơ sở, thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN, đồng thời đó cũng là bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.
ST