Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ


Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý không chỉ có ý nghĩa đối với sự vận hành của tổ chức và mỗi cá nhân trong tổ chức ấy mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý góp phần định hình và dẫn dắt văn hóa, kiến tạo bản sắc của cơ quan, tổ chức.
Văn hóa trong lãnh đạo, quản lý từng bước được xây dựng, góp phần quan trọng vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, góp phần tạo nên thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua.
Nhiệm vụ quan trọng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định "Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý" là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý là việc xác lập và thực hành các giá trị, chuẩn mực trong bộ máy tổ chức và trong hoạt động lãnh đạo, quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Nếu văn hóa là các giá trị chân, thiện, mỹ thì xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý là phải làm cho cái đúng, cái tốt, cái đẹp ấy thẩm thấu và hiện diện trong tư duy, thái độ, hành vi của mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiện diện trong tất cả các hoạt động của Đảng, của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội.
Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý góp phần gạn đục, khơi trong, dung dưỡng và phát huy những giá trị tốt đẹp, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, bảo thủ, lạc hậu, để Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là trí tuệ, là lương tri của dân tộc và thời đại; để Nhà nước là của dân, do dân, vì dân. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý cũng là cách thức hữu hiệu để củng cố niềm tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Văn hóa trong lãnh đạo, quản lý khi đã được hình thành, duy trì sẽ lan tỏa các giá trị của mình trong tổ chức, trong mỗi cá nhân của tổ chức ấy và cũng là góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Để triển khai tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để Đảng ta và hệ thống chính trị của nước ta thật sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tri và phẩm giá con người Việt Nam. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Những giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học được thấm nhuần trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền. Việc xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã được triển khai gắn với phong trào đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định, quy chế, chỉ thị của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; về phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Trung ương đã ban hành nhiều văn bản góp phần cụ thể hóa chủ trương xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chính phủ chủ động hơn trong xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ nhân dân. Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ, quy chế văn hóa công sở, cải cách thủ tục hành chính, đề án văn hóa công vụ, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước... chính là những khía cạnh cụ thể của xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý.
Cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu... có chuyển biến tích cực. Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên. Chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý từng bước được hình thành.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý cũng còn không ít hạn chế, bất cập. Văn hóa chưa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh trong phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa được xác định đúng tầm; chưa phát huy được hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, nói không đi đôi với làm, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Việc xác định hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam, trong đó có chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý chưa thống nhất.
Công việc vừa cấp thiết vừa lâu dài
Đứng trước yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn có nhiều dấu mốc lịch sử trọng đại, giai đoạn cả nước tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với nhiều quan điểm, chủ trương lớn, mang tính đột phá để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi nhanh, phức tạp, vừa mang đến những thời cơ nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều thách thức, vấn đề xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý càng trở nên cấp thiết. Để gia tăng hiệu quả xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, thiết nghĩ cần chú ý những vấn đề sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý góp phần xây dựng, hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, năng lực của các chủ thể lãnh đạo, quản lý, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu. Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý sẽ tạo dựng môi trường lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức.
Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý là cách tiếp cận chiến lược và bền vững để đạt được mục tiêu đề ra. Do đó, cần đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên đều ý thức được sự cần thiết của nhiệm vụ này đồng thời lan tỏa, nhân rộng những tấm gương tiêu biểu, những cách làm hay, hiệu quả trong xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý.
Hai là, trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược, cần có các chuyên đề hoặc ít nhất cũng phải tích hợp được nội dung xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý vào các chuyên đề của chương trình. Học phải đi đôi với hành. Mỗi cán bộ, đảng viên cần được trang bị cả tri thức và phương pháp, kỹ năng để thực hành xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý tại chính vị trí công tác của mình.
Ba là, xây dựng cơ chế chuyển hóa giá trị văn hóa vào trong hoạt động lãnh đạo, quản lý. Trong các quy định của Đảng, Chính phủ về đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần nghiên cứu bổ sung những quy định về chuẩn mực văn hóa. Khi những giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành những tiêu chí để đánh giá, bổ nhiệm cán bộ sẽ tạo nên xung lực mạnh mẽ để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, thực hành văn hóa trong lãnh đạo, quản lý.
Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng văn hóa ứng xử trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây vừa là điều kiện, là tiền đề để xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, đồng thời cũng là kết quả của việc xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Một môi trường làm việc lành mạnh sẽ góp phần phát huy tính sáng tạo, chủ động, tích cực của mỗi thành viên, trong đó có đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Ngược lại, nếu cán bộ lãnh đạo, quản lý được dẫn dắt bởi những chuẩn mực văn hóa thì sẽ chăm lo tới việc tạo dựng một môi trường làm việc nhân văn, văn minh và hiệu quả.
Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý là một công việc vừa cấp thiết vừa lâu dài. Đây cũng là cách thức để khắc phục, để đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống. Trong quá trình xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, cần chú ý tới mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, giữa cá nhân và tổ chức, giữa tri thức và kỹ năng, phương pháp, giữa đạo lý và pháp lý. Có như vậy mới phát huy được sức mạnh mềm của văn hóa trong chính trị nói riêng, trong phát triển đất nước nhanh và bền vững nói chung./.
Theo Báo Nhân dân.
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang ngồi và mọi người đang đứng

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT CỦA PHẠM NHẬT BÌNH

 


Trên trang Bureau CTM Media – Á Châu Phạm Nhật Bình đăng tải bài viết với tựa đề: “Báo CAND: Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng”. Theo đó, y cho rằng từ khi có sự xuất hiện nhà nước cộng sản, hai chữ dân chủ trở thành món hàng trang trí, … nguyên nhân là do một đất nước độc đảng, đây là quan điểm hoàn toàn xuyên tạc, bịa đặt của Phạm Nhật Bình về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân loại đang hướng đến xây dựng. Bởi vì:

Thứ nhất, dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại.

Dân chủ đã xuất hiện từ thời cổ xưa. Dân chủ là khát vọng của con người. Xuất phát từ một từ Hy Lạp cổ đại demokratia, dân chủ có nghĩa là quyền lực nhân dân, quyền lực của nhân dân, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.

Dân chủ là một phạm trù lịch sử. Theo C. Mác và Ph.Ăng-ghen, dân chủ là phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện đầy đủ. Đặc trưng cơ bản của dân chủ là, tất cả các công dân đều có quyền tham dự vào đời sống chính trị, quyền lực cao nhất của đất nước thuộc về đại diện của nhân dân; mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật.

Dưới chế độ nô lệ và phong kiến, tư tưởng thần quyền và phân biệt đẳng cấp hà khắc đã tước bỏ tự do, dân chủ của nhân dân. Giai cấp tư sản đã lật đổ chế độ chuyên chế quân chủ, xác lập chế độ nghị viện, phổ thông đầu phiếu, hai đảng (hoặc chế độ đa đảng), phân quyền, bình quyền…, đây là những nội dung chủ yếu của chế độ dân chủ tư sản. Dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở phủ định chế độ chuyên quyền phong kiến, vì thế, trong sự phát triển chung của lịch sử, nó có những đóng góp tích cực, thể hiện sự tiến bộ nhất định. Nhưng, dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ những nhà tư bản lớn mới là những người nắm giữ vai trò quyết định, điều đó có nghĩa dân chủ không bao giờ thuộc về quảng đại nhân dân. Do đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nền dân chủ ưu việt, phát triển cao hơn dân chủ tư sản.

Thứ hai, xét về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân quản lý và điều hành xã hội.

Chế độ đó do liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhân dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn dân chủ với kỷ cương, đảm bảo bằng luật pháp trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Bên cạnh đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa còn là chế độ gắn kết và đảm bảo tính dân tộc kết hợp với tính nhân loại sâu sắc, đảm bảo mọi quyền lợi thực tiễn của mọi cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội.

Mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn chế độ dân chủ phù hợp, không nhất thiết mô phỏng chế độ dân chủ của quốc gia khác. Chế độ dân chủ của một quốc gia phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị, kinh tế… của từng nước. Thực tiễn chứng minh, chế độ chính trị phương Tây cũng đầy rẫy những bất công và tình trạng vi phạm dân chủ, không “hoàn hảo”, khác với nhiều người vẫn ra sức tán dương, ca tụng, chỉ nhìn bề ngoài mặt nạ (?!). Trái lại, một số quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc bê nguyên xi mô hình dân chủ phương Tây, dẫn tới những bất ổn, thậm chí rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng và nội chiến kéo dài.

Thứ ba, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng

Lịch sử hiện đại đã chứng minh, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Chẳng hạn Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có khoảng 25 đảng, Na Uy có 23 đảng… nhưng không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 nước theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Arâp Xêút, Baren, Bênanh, Bôxnia, Bốtxoana, CuBa, Cômô, Fiji, Gămbia, Gana, Ghinê, Bítxao, Haiti, Hônđurat, Bờ Biển Ngà, Giamaica, Lào, Libi, Cộng Hoà Dân Chủ nhân dân Triều Tiên, Mônacô, Namibia, Ruanđa, Xômali, Tátgikixtan, Tôgô và Việt Nam… Trong các nước trên, chỉ có ba nước Triều Tiên, Lào, Việt Nam là do Đảng Cộng sản giữ vai trò cầm quyền. Điều đó nói lên: Thứ nhất, Chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thứ hai, không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn đảm bảo dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Như cuối những năm 1980, Xingapo, Hàn Quốc, Đài Loan… Vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, nhưng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Ngược lại, ở các nước đa đảng, dân chủ cũng không được thực hiện tốt.

Như vậy chúng ta thấy rằng, toàn bộ nội dung trong bài viết của Phạm Nhật Bình rõ ràng là sự vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc 100%, xét về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Bài viết của y, hòng lừa bịp, đánh tráo quan niệm và gây tâm lý hoang mang, phá hoại niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn./.

T3.

 

“NHÓM BÁO SẠCH” VÀ NHỮNG MIẾNG BÁNH VẼ

 


Với mong muốn tiếp tục “sự nghiệp” còn dang dở của Phạm Chí Dũng và đồng bọn của y đang phải trả giá vì tội chống phá Đảng, Nhà nước, Phạm Lê Đoan trong bài viết “Doanh nghiệp xã hội về lãnh vực báo chí” đăng trên Vietnamthoibao đã vọng tưởng về tương lai của “Hội nhà báo độc lập” – một tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” vốn dĩ không có tư cách pháp nhân và không được pháp luật Việt Nam thừa nhận, trở thành “doanh nghiệp xã hội”, để rồi lên tiếng về “tự do tôn giáo”, “giáo dục đạo đức cho giới trẻ”, “hỗ trợ người dân yếu thế”…

Có thể thấy “miếng bánh vẽ” do Đoan vẽ ra hết sức thâm độc, đây thực chất là thủ đoạn của những kẻ lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” chống phá Đảng, Nhà nước ta, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng Nhà nước và chế độ.

Trên thực tiễn, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” như Hiến pháp 2013 và Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016, góp phần bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được thực thi trong thực tế đời sống, xã hội. Những số liệu ở Việt Nam cho thấy có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí; 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Cũng theo số liệu thống kê của NapoleonCat tính tới tháng 6 – 2021, tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam là gần 76 triệu người, chiếm hơn 70% dân số toàn quốc. Những minh chứng trên cho thấy, người dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, việc thực thi dân chủ ở Việt Nam còn tốt hơn nhiều nước “dân chủ” khác, đâu cần mấy “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra.

Hơn nữa, “nhóm báo sạch”  luôn rêu rao “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” nhưng thực sự đã giúp ích được gì cho dân, cho nước hay chỉ tung tin giả mạo, bôi nhọ, nói xấu chính quyền, kích động, gây hoang mang trong quần chúng. Đơn cử, trong khi Nhà nước đang nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, thì bọn chúng lại dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử vong và loan tin tốc độ lây lan dịch bệnh lớn hơn nhiều lần con số do Chính phủ công bố, tạo tâm lý sợ hãi cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội. Bản thân trong nội bộ nhóm báo sạch cũng tự phân hóa, rã đám khi phát hiện sự không “sạch” như tiêu chí họ đề ra. Những hành vi của “nhóm báo sạch” và một số kẻ khởi xướng thành lập “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” đã phải trả giá bằng hình phạt nghiêm minh của pháp luật. Từ đó, có thể khẳng định những vọng tưởng mà “nhóm báo sạch” đưa ra là không thực tế, “miếng bánh vẽ đó” rốt cuộc chỉ là âm mưu thâm độc hại nước, hại dân mà thôi.

          Từ tình hình trên cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang tập trung tiến hành hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Đáng chú ý, là vấn đề nhân quyền, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Do vậy, mỗi người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác và năng lực tự sàng lọc thông tin trước tin đồn phát tán trên không gian mạng. Mỗi cơ quan chức năng cần làm tốt công tác quản lý, kịp thời, nhận diện, đấu tranh bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội; chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn từ nước ngoài, như Facebook, Google, Twitter, Youtube để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn xã hội, an ninh quốc gia./.

T3.

 

Quyền Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc cho phi công Trần Ngọc Duy

 Cùng ngày 1-2, Bộ Quốc phòng truy thăng quân hàm trước niên hạn từ cấp đại úy lên thiếu tá; Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh truy tặng Huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" cho phi công Trần Ngọc Duy.

Trước đó, như Báo Người Lao Động đã thông tin, vào 12 giờ 9 phút ngày 31-1, máy bay quân sự Su-22, số hiệu 5873 của Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân do đại úy Trần Ngọc Duy điều khiển đã cất cánh chuyến bay thứ nhất, bài bay huấn luyện số 206. Lúc 12 giờ 27 phút, trong lúc hạ cánh, máy bay đã gặp nạn, phi công được lệnh nhảy dù nhưng cố cứu máy bay. Tuy nhiên, sau đó máy bay bị rơi, phi công Trần Ngọc Duy đã hi sinh.

Lễ viếng thiếu tá, phi công Trần Ngọc Duy được tổ chức từ 8 giờ 30 phút đến 12 giờ 30 phút ngày 1-2, tại Nhà tang lễ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái (TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn vũ TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; an táng tại Nghĩa trang Dốc Lim, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Thiếu tá, phi công Trần Ngọc Duy sinh năm 1992; nguyên quán: Xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; trú quán: Tổ 8, phường Quang Trung, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Đồng Phú, phường Nam Cường, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Anh nhập ngũ tháng 9-2010, đã được đào tạo sĩ quan lái máy bay quân sự tại Trường Sĩ quan Không quân và đã từng trải qua các nhiệm vụ, chức vụ: Phi công, Phi đội 2, Trung đoàn 937, Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân; Phi công, Phó phi đội trưởng Phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371. Sau đó, anh là Phó phi đội trưởng - Tham mưu trưởng Phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 thuộc Quân chủng Phòng không - không quân.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phi công Trần Ngọc Duy đã tích lũy được tổng số giờ bay 725 giờ 25 phút.

Phi công Trần Ngọc Duy được khen thưởng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở năm 2020; được phong quân hàm thiếu úy năm 2014, trung úy năm 2016, thượng úy năm 2019, thăng quân hàm trước niên hạn lên đại úy năm 2021; được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.

 

Thiếu tá, phi công Trần Ngọc Duy

 

KẺ XUYÊN TẠC, VU CÁO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


Vừa qua, trên trang Danlambao, Nguyễn Dân có bài viết với tựa đề: “Niềm tin và gian dối”. Theo đó, y cho rằng: Tám mươi năm vẫn với luận điệu tuyên truyền: do dân, vì dân phục vụ dân là dối gian, tráo trở, là gian manh lừa mị, Với giọng điệu này, Nguyễn Dân hoàn toàn phủ nhận, xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Bởi vì:

Thứ nhất, Đảng ra đời, đấu tranh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân và Đảng thuộc về Nhân dân.

Đảng ra đời và phát triển không vì mục đích tự thân, mà vì mục đích đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và của Nhân dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đảm nhận trọng trách lớn lao mà Tổ quốc và Nhân dân giao phó, đó là lãnh đạo Nhân dân tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại, Đảng đã không chỉ hấp dẫn, quy tụ mà còn lãnh đạo nhân dân Việt Nam, những người đang bị đọa đày trong đêm trường nô lệ kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do vào mùa Thu năm 1945; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội 1945-1975; tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng 1986 đến nay.

Thứ hai, thực tiễn đã minh chứng không thể phủ nhận được vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng.

Hơn 91 năm với 13 kỳ Đại hội, có thể khẳng định rằng, nội dung các văn kiện của 13 kỳ Đại hội và các nghị quyết chuyên đề của Đảng đều khẳng định rõ; Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân. Tinh thần, hành động của mỗi cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều nhằm mục tiêu phục vụ Nhân dân, lấy sự hài lòng, niềm tin tưởng của người dân làm thước đo hiệu quả công tác lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là sự thật, chứ không phải: Sự lãnh đạo của Đảng là “dối gian tráo trở”, “là gian manh lừa mị”, “dân tộc chưa bao giờ hết khổ”; “đất nước trở nên tụt hậu nghèo nàn chỉ vì người cs cầm quyền… , toàn dân không có được ấm no hạnh phúc” như Nguyễn Dân vu cáo, bịa đặt một cách thô thiển. Thực tiễn hơn 91 năm qua đã kiểm chứng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho Nhân dân trở thành chân lý không ai có thể chối cãi được.

Thứ ba, trên thực tế Nhân dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhân dân đi theo Đảng, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trước hết vì những mục tiêu rất thực tế, để đáp ứng những nhu cầu thiết thân hằng ngày và nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, cả về vật chất và tinh thần. Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội lạc hậu, trình độ thấp. Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Với những kết quả đó, “Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển”.

Về kinh tế, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,58%. Trong bối cảnh dịch COVID-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đây là một thành công lớn của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch bệnh, duy trì sản xuất kinh doanh. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục hồi khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư của Việt Nam. CPI bình quân tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng bình quân năm thấp nhất kể từ năm 2016. Xuất nhập khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng cao khi đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ, trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN.

Như vậy, chúng ta thấy rằng toàn bộ nội dung trong bài viết của Nguyễn Dân là vu cáo, bịa đặt một cách trắng trợn, lời lẽ hằn học, thù hận hòng lừa bịp và gây tâm lý hoang mang, chia rẽ Đảng với Nhân dân, phá hoại niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu các thế lực thù địch./.

T3.

 

LẠI THÊM LUẬN ĐIỆU CỐ NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ

 


Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Từ bỏ nguyên tắc này là từ bỏ Đảng về bản chất. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào, luôn tìm cách chống phá, đòi ĐCSVN phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng xóa bỏ bản chất và vai trò lãnh đạo của Đảng. Gần đây, trên trang Thongluan-rdp, Lê Hữu Khóa lại có bài viết “Đừng trông chờ độc đảng toàn trị tổ chức và hòa giải dân tộc” gây bức xúc dư luận xã hội.

Với những lời lẽ xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Lê Hữu Khóa cho rằng “Đảng CSVN là độc tài, độc đoán, chuyên quyền, độc trị, là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, tụt hậu… và kêu gọi phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “hòa hợp dân tộc”, để “đất nước được phát triển”. Vậy ở Việt Nam có cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” không?

1. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 

Như chúng ta đã biết, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện nhưng tất cả đều bị thất bại và bị dìm trong biển máu bởi thiếu đường lối cách mạng đúng đắn. Trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thành lập ra ĐCSVN – Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là một thực tiễn không thể bàn cãi.

2. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử và sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam

Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tự cho mình quyền độc tôn lãnh đạo. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, tại Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản còn xuất hiện hai đảng khác là đảng Việt Quốc và đảng Việt Cách. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng Giới Thạch” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản cũng tồn tại hai đảng khác: là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sau đó tuyên bố tự giải thể. Sự xuất hiện và rút lui của đảng Việt Cách, Việt Quốc hay tự giải thể của Đảng dân chủ và đảng xã hội đã cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân hoặc đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ định chế độ đó.

3. Hãy thử hỏi rằng, nếu hiện nay Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đất nước sẽ ra sao? 

Câu trả lời đã có sẵn đáp án từ thực tiễn Liên bang Xô viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất ổn định chính trị do sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái. Thực tiễn, nhiều nước trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với sự bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh tranh quyền lực giữa các đảng phái, từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những quan điểm đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là quan điểm sai trái, phản động hòng muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chứng minh rất rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này.

4. Một Đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài, mất dân chủ. 

Dân chủ và phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển. Một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, mất dân chủ. Và không nhất thiết cứ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới có dân chủ và phát triển. Thực tiễn hiện nay đã cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, chính trị ổn định, kinh tế phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Từ thực tế trên cho thấy, những luận điệu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như Lê Hữu Khóa thực chất là tư tưởng “ngược dòng lịch sử”, phản động, hại nước, hại dân. Mọi người hãy hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để ĐCSVN “mãi mãi là mùa xuân của dân tộc”./.

T3.

 

Những sứ giả hòa bình tại Cộng hòa Nam Xu-đăng

Trở thành những chiến sĩ Công an Việt Nam đầu tiên đặt chân lên vùng đất Trung Phi thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình (GGHB) của Liên hiệp quốc, Đại tá Lê Quốc Huy, Trung tá Vũ Việt Hùng và Trung tá Lương Thị Trà Vinh đã có nhiều trải nghiệm sau 3 tháng thực hiện nhiệm vụ tại Cộng hòa Nam Xu-đăng. Đây là năm đầu tiên họ ăn Tết xa nhà, giữa muôn vàn khó khăn tại nơi tiếng súng đạn có thể vang lên bất kể lúc nào, giữa cái nắng cháy da mùa khô xứ Trung Phi. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện thân tình với những người chiến sỹ mũ nồi xanh này để thêm phần thấu hiểu và cảm phục họ. PV: Đã 3 tháng có mặt ở vùng đất này (tức là gần 1/3 nhiệm kỳ), tổ công tác có cảm nhận như thế nào về “địa bàn” mới của mình? - Nam Xu-đăng là đất nước vẫn còn nhiều bất ổn, đang trong quá trình tìm kiếm và xây dựng hòa bình lâu dài. Trước khi lên đường nhận nhiệm vụ GGHB tại đây, chúng tôi đã được cung cấp các thông tin về tình hình địa bàn. Vì thế, khi đặt chân đến vùng đất này, chúng tôi không quá ngạc nhiên về tình hình ở đất nước xa xôi này, cũng như điều kiện sinh hoạt, làm việc tại Phái bộ. Tuy nhiên, có nhiều thứ không như hình dung của chúng tôi trước khi lên đường. Với sự háo hức, mong chờ khoảng thời gian một năm thực hiện nhiệm vụ tại nơi đây, khi máy bay hạ cánh, một cảm giác lạ lẫm là điều chúng tôi cùng cảm nhận. Sân bay khá cũ và sơ sài. Khi xong thủ tục nhập cảnh, bước ra ngoài sảnh sân bay, cảnh tượng giống như ở một bến xe khách ở Việt Nam cách đây vài chục năm trước: đông đúc, chật chội, lộn xộn…! Rõ ràng là nhiều khó khăn đang chờ đợi trước mắt chúng tôi. Thủ đô Giu-ba của Nam Xu-đăng là thành phố phát triển nhất nước nhưng hiếm khi nhìn thấy một ngôi nhà xây bằng gạch. Những người dân có nhà ở thì chủ yếu là nhà vách đất hoặc nhà dựng bằng các tấm tôn. Còn lại phần lớn người dân phải sống trong những túp lều dựng bằng cây, que, dùng bạt để che mưa, nắng. Cuộc sống người dân còn nhiều vất vả, tỉ lệ thất nghiệp rất cao. Hình ảnh cuộc sống tại đây có phần giống như khi Việt Nam vừa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế thời kỳ bao cấp, bắt đầu mở cửa. Lương thực, thực phẩm thiếu thốn và đắt đỏ. Cảnh tượng này khiến chúng tôi vừa lạ lẫm, vừa quen thuộc. PV: Chỉ trong thời gian ngắn nhưng qua câu chuyện của Tổ công tác, chúng tôi có cảm nhận, các đồng chí đã thực sự chia sẻ và thấu hiểu với những khó khăn ở đất nước này và chắc chắn sẽ mang tinh thần ấy vào thực thi nhiệm vụ thúc đẩy tiến trình thực hiện thỏa thuận hòa bình? - Quá trình làm việc đến nay, cho chúng tôi cảm nhận người dân Nam Xu-đăng rất cam chịu. Mặc dù rất khó khăn, vất vả nhưng họ không kêu ca, than vãn nhiều. Tuy nhiên, hi vọng về một tương lai tốt đẹp, một nền hòa bình lâu dài tại đất nước này còn rất mong manh. Trong khi đó, xung đột giữa các phe phái tại Nam Xu-đăng tiếp tục diễn biến phức tạp giữa nhóm vũ trang của người Shilluk và người Nuer, đặc biệt là tại các bang Upper Nile và Jonglei cũng như khu vực xung quanh Abyei. Trong tháng 12 vừa qua, đã xảy ra 4 cuộc xung đột tại Bang Thượng Sông Nile làm 166 người chết và 237 người bị thương. Các cuộc xung đột vẫn tiếp tục diễn và đang có chiều hướng lan sang các vùng lân cận giáp danh với Jonglei và Unity. Hơn 20.000 người đã phải rời bỏ nhà cửa và đi ẩn náu khắp nơi. Chính quyền địa phương cũng như phái bộ đang ra sức để ngăn chặn tình trạng bạo lực leo thang và yêu cầu các nhóm vũ trang không tấn công và giết hại dân thường. Các sĩ quan Công an Việt Nam đang tích cực đóng góp công sức của mình vào sứ mệnh cao cả này. Chúng tôi cảm nhận được đây là công việc rất khó khăn, vất vả, đòi hỏi sự kiên trì và tình thần hi sinh, cống hiến không mệt mỏi. PV: Được biết, trước khi lên đường làm nhiệm vụ GGHB, Tổ công tác đã phải trải qua khóa huấn luyện kỹ càng, nghiêm ngặt, nhưng khi sang thực địa, sẽ có những vấn đề, tình huống phát sinh mà các đồng chí phải đối mặt? - Một trong những nhiệm vụ chính của Cảnh sát LHQ là hỗ trợ Cảnh sát Nam Xu-đăng thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Vì vậy, chúng tôi phải thường xuyên làm việc trực tiếp với các đơn vị Cảnh sát Nam Xu-đăng, đặc biệt là các đồn cảnh sát phụ trách các địa bàn phức tạp, có trại lánh nạn. Quá trình làm việc không phải lúc nào cũng suôn sẻ, vì cảnh sát địa phương không nhiệt tình hợp tác. Một lần, Trung tá Hùng cùng đội đến làm việc với Đồn Cảnh sát Yei phụ trách địa bàn 2 trại lánh nạn gần căn cứ LHQ tại Juba. Tuy nhiên, Chỉ huy Đồn Cảnh sát và sỹ quan trực hôm đó không chịu hợp tác, tỏ thái độ bất cần. Họ chất vấn chúng tôi: Tại sao Cảnh sát LHQ nắm tình hình, thu thập thông tin từ Cảnh sát địa phương nhưng không giúp được gì cụ thể cho họ; Cảnh sát LHQ đã có mặt tại Nam Sudan hàng chục năm nhưng tình hình không được cải thiện; điều họ cần là những hỗ trợ cụ thể như: tiền, lương thực, nước uống, phương tiện làm việc…, chứ không phải là những hỗ trợ mang tính “trừu tượng” như nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nhận thức về pháp luật… Viên Chỉ huy tỏ thái độ gay gắt và phản ứng khi Cảnh sát LHQ chỉ thu thập thông tin nhưng không giúp gì được cho họ cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt. Trung tá Hùng và đồng nghiệp đã kiên nhẫn, làm dịu cơn giận dữ của Viên Chỉ huy, bình tĩnh giải thích về nhiệm vụ và vai trò của Cảnh sát LHQ; nhấn mạnh về những lợi ích và kết quả mà Cảnh sát LHQ đã mang lại cho Cảnh sát Nam Xu-đăng khẳng định Cảnh sát LHQ luôn mong muốn hỗ trợ hết sức cho Cảnh sát Nam Xu-đăng. Muốn vậy, hai bên cần có sự trao đổi, chia sẻ thông tin và hợp tác chặt chẽ với nhau. Nhờ kỹ năng đàm phán tốt và những phân tích hợp tình, hợp lý, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ, Trung tá Hùng và đồng nghiệp đã thay đổi được thái độ và nhận được sự hợp tác từ Viên Chỉ huy. Trong quá trình tuần tra, làm việc trong trại lánh nạn, Cảnh sát LHQ cần tiếp xúc, trao đổi với người dân để nắm tình hình an ninh, trật tự, xây dựng lòng tin của người dân vào lực lượng thực thi pháp luật. Quá trình này, chúng tôi phải ghi lại hình ảnh (chụp ảnh, quay phim) để làm tư liệu báo cáo. Tuy nhiên, tình hình an ninh trong các trại lánh nạn rất phức tạp, thường xuyên xảy ra cướp bóc, trấn lột, gây rối… Mặc dù có đội cảnh sát đặc nhiệm đi theo bảo vệ nhưng những sĩ quan như chúng tôi nhiều khi vẫn gặp rủi ro. Một lần, một đồng nghiệp của chúng tôi đã bị giật điện thoại di động khi chuẩn bị chụp ảnh. Nghi phạm đã chạy trốn rất nhanh và đến nay vẫn không thể xác định được. PV: Như vậy, việc thực hiện nhiệm vụ của những người lính mũ nồi xanh ở Cộng hòa Nam Xu-đăng của Tổ Công tác quả là một nhiệm kỳ đầy thách thức? - Đến Nam Xu-đăng thực hiện nhiệm vụ, không chỉ là những rủi ro về an ninh, an toàn đối với nhân viên LHQ nói chung và Cảnh sát LHQ nói riêng mà còn một thứ rủi ro không kém là điều kiện thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Bạn thử tưởng tượng, ban ngày trời nắng gắt, rát bỏng da, việc phải đi tuần tra dưới cái nắng gắt hàng ngày là cả một sự nỗ lực, đòi hỏi sức khỏe, nền tảng thể lực dẻo dai và cả tinh thần vượt khó. Điều đáng mừng là chúng tôi đều thích nghi được và đã vượt qua. LHQ cũng rất quan tâm đến bảo đảm sức khỏe về thể chất và tinh thần cho nhân viên, đặc biệt là những người lính mũ nồi xanh thuộc lực lượng quân đội và cảnh sát, những người luôn phải làm việc trực tiếp tại địa bàn khó khăn, vất vả, căng thẳng, đối mặt với nhiều rủi ro đối với sức khỏe. Do đó, trong căn cứ của LHQ luôn có phòng tập gym cho nhân viên và có các khu vực để tổ chức sự kiện giao lưu giải tỏa căng thẳng sau giờ làm việc. PV: Nhiệm vụ của những tháng tiếp theo tại phái bộ Nam Xu-đăng của Tổ Công tác là gì? - Lực lượng cảnh sát LHQ đóng vai trò quan trọng trong thực hiện sứ mệnh của Phái bộ GGHB, bao gồm: bảo vệ dân thường; hỗ trợ, tạo môi trường để thực hiện các hoạt động cứu trợ nhân đạo; điều tra, giám sát các vụ việc vi phạm nhân quyền, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em; thúc đẩy tiến trình chính trị, thực thi thỏa thuận hòa bình để tiến tới tạo lập nền hòa bình lâu dài tại nước sở tại. Ngay từ khi sang Nam Xu-đăng, chúng tôi nhanh chóng được tập huấn về vai trò, nhiệm vụ của Cảnh sát LHQ. Sau đó được phân công về các bộ phận, địa bàn trên khắp cả nước Nam Xu-đăng. Công tác tại Văn phòng thực địa Juba, nhiệm vụ đầu tiên là tuần tra, nắm tình hình an ninh, trật tự. Hàng ngày, chúng tôi thực hiện các chuyến tuần tra xung quanh và trong các trại lánh nạn, xung quanh thủ đô Juba. Trong quá trình tuần tra luôn có hoạt động tiếp xúc, trao đổi với người dân, cảnh sát, chính quyền nước sở tại để nắm thông tin, tình hình; xây dựng lòng tin, củng cố hình ảnh của lực lượng thực thi pháp luật. Việc tuần tra cũng còn nhằm thể hiện sự hiện diện và sức mạnh của lực lượng cảnh sát LHQ, răn đe, phòng ngừa tội phạm, tạo môi trường an ninh, an toàn cho người dân. Nhiệm vụ này đối với chúng tôi rất thú vị. Nó tạo cơ hội tiếp xúc với người dân, qua đó hiểu và cảm nhận được cuộc sống, văn hóa, con người nơi đây. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi đã gặp gỡ rất nhiều người, trao đổi và lắng nghe chia sẻ về cuộc sống, về tình hình của người dân, tìm hiểu văn hóa. Khi làm việc tại địa bàn, tiếp xúc với trẻ em nơi đây, chúng tôi cảm nhận được sự thiếu thốn, khó khăn, vất vả không làm mất đi sự hồn nhiên và niềm vui khi nhìn thấy lực lượng GGHB LHQ. Chúng tôi gần gũi, trao đổi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ, động viên, khuyến khích họ khắc phục khó khăn, tạo sự tin tưởng. Vừa qua, đồng chí Lê Quốc Huy đã đăng ký và trúng tuyển vị trí Sĩ quan đánh giá nội bộ thuộc Sở Chỉ huy lực lượng cảnh sát Phái bộ. Đây là vị trí khá quan trọng, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của tất cả các bộ phận chức năng của lực lượng cảnh sát trên toàn Phái bộ để báo cáo cho Tư lệnh Cảnh sát. Trung tá Vũ Việt Hùng trúng tuyển vị trí Sỹ quan nâng cao năng lực. Hằng ngày, anh đến làm việc với các đồn cảnh sát trong thành phố, nắm tình hình an ninh trật tự trong vòng 24 giờ, hỗ trợ kịp thời và trao đổi, hướng dẫn các đồn cảnh sát đánh giá tình hình an ninh trong địa bàn; tham gia tổ chức lớp tập huấn đào tạo cho cảnh sát địa phương, tập huấn cho người dân, nhân viên công tác xã hội về pháp luật, kỹ năng bảo đảm an ninh, an toàn; nâng cao nhận thức về nhân quyền. Trung tá Lương Thị Trà Vinh trúng tuyển vị trí Sỹ quan tham mưu nghiệp vụ, có nhiệm vụ lập kế hoạch công tác hàng tuần, tháng, qu‎ý cho Văn phòng địa bàn Juba. PV: Quả là một tin vui trong những ngày đầu năm mới, phần thưởng xứng đáng cho nỗ lực rèn luyện và tính thích nghi cao của đại diện Công an Việt Nam tại phái bộ Nam Xu-đăng. Theo các đồng chí để thực hiện tốt nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Công an cần có những phẩm chất, năng lực đặc biệt nào? - Để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, đòi hỏi chúng tôi phải có những kiến thức, kỹ năng phù hợp. Ngoài việc thành thạo tiếng Anh, sỹ quan Cảnh sát LHQ phải có năng lực nghề nghiệp, có các phẩm chất bắt buộc của nhân viên LHQ: tính chính trực, tính chuyên nghiệp, tôn trọng sự đa dạng, có kỹ năng làm việc nhóm, truyền thông, giao tiếp, đàm phán… Chúng tôi phải có nhận thức toàn diện về nhiệm vụ, vai trò của Cảnh sát LHQ, hiểu biết về bối cảnh, môi trường công tác và đặc thù của lực lượng cảnh sát nước sở tại. Đặc biệt, để làm việc có hiệu quả, sỹ quan Cảnh sát LHQ phải có năng lực hành động độc lập, khả năng phân tích, đánh giá tình hình và đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác. Đây là những phẩm chất, kỹ năng phải trải qua quá trình rèn luyện và tích lũy mới có thể đạt được. Việc trúng tuyển vào các vị trí trên cho thấy sự cố gắng, nỗ lực học hỏi, chứng minh năng lực của các sỹ quan Cảnh sát Việt Nam hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu công tác của Phái bộ. Căn cứ vào hồ sơ cán bộ, kinh nghiệm công tác và kết quả phỏng vấn, ba sĩ quan công an Việt Nam đều được phân công công tác tại thủ đô Juba. Đây là điều đặc biệt bởi tất cả các đoàn đều chỉ được giữ lại 20% quân số công tác tại Thủ đô, còn lại đi các phân khu tại các địa phương. PV: Xin được chia sẻ thật lòng, có khi nào các đồng chí cảm giác sợ hãi không (dù thoáng qua trong một vài tình huống nguy hiểm thực tế đã gặp) và điều gì khiến các đồng chí vượt lên nỗi sợ và thực tế là có cả sự cô đơn, nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ con - những điều giản dị của cuộc sống thanh bình ở Việt Nam? - Phải nói rằng lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ cảnh sát GGHB LHQ, chúng tôi có nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù được tập huấn và chuẩn bị kỹ càng nhưng cũng có những tình huống, những công việc gặp khó khăn, lúng túng, lo lắng. Chẳng hạn như, khi đi tuần tra trong trại tị nạn gặp những nhóm thanh niên quá khích, không thân thiện; hoặc khi cảnh sát địa phương không hợp tác; khi tình hình an ninh tại Nam Xu-đăng nói chung và Juba nói riêng diễn biến phức tạp, tiềm ẩn rủi ro với sỹ quan LHQ khi di chuyển trên đường. Trong thời gian chúng tôi đến đây từ tháng 10-2022 đã xảy ra một số vụ nổ súng vào dân thường, vào xe khách ngày trong thành phố Juba làm nhiều người chết, gây ra tình trạng hết sức căng thẳng; rồi nạn cướp bóc, giết người, tội phạm bang nhóm rất phức tạp. Phái bộ UNMISS phải quy định giờ giới nghiêm đối với nhân viên là từ 19h00 đến 5h00 sáng, trong thời gian này toàn bộ nhân viên LHQ phải ở trong căn cứ, không được ra ngoài để đảm bảo an toàn. Những khi có tình hình xấu và phức tạp, chúng tôi cũng không tránh khỏi lo lắng khi thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, những tình huống đó chúng tôi đều đã được thông tin và chuẩn bị kỹ càng, chúng tôi có những phương tiện bảo đảm an toàn cá nhân như áo giáp, mũ sắt chống đạn, bộ đàm liên lạc khẩn cấp cũng như được tập huấn, rèn luyện về tính kỷ luật, sự chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm… Công tác tại đất nước xa xôi, những buổi tối, sau một ngày làm việc, trở về phòng nghỉ có những lúc cảm thấy cô đơn, mong được ở bên gia đình, mong được có những ngày làm việc thanh bình ở Việt Nam. Chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng, sự tự hào khi được giao nhiệm vụ GGHB tại Phái bộ của LHQ. Do đó, chúng tôi nhanh chóng vượt qua những sợ hãi, lo lắng, sự cô đơn, nỗi nhớ quê hương, gia đình để thực hiện nhiệm vụ, cả nhiệm vụ của LHQ và nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an giao.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHẢN ĐỘNG

 


Lợi dụng vấn đề “tự do ngôn luận”, các thế lực thù địch tăng cường sử dụng những phần tử bất mãn, phản động ở trong nước và nước ngoài để hòng chống phá cách mạng nước ta từ bên trong.

Trên trang Baoquocdan, bút danh Điệp Mỹ Linh đã tải bài viết “Cộng sản Việt Nam, chờ đó!”. Sự thật cho thấy, Điệp Mỹ Linh là một nghệ sĩ cùng chồng là sĩ quan Thủy quân Lục chiến Ngụy Sài Gòn; là những kẻ phản bội hèn mạt ôm mối thù hận chạy trốn trước sự tiến công như vũ bão trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta.

Trong bài viết lợi dụng sự kiện “Hội nghị thượng đỉnh dân chủ” do Mỹ đơn phương phát động và tổ chức trực tuyến, Điệp Mỹ Linh cho rằng: Việt Nam là một trong những nước không được mời tham dự là “bẽ bàng”; “quê xệ nặng nề”, để nhằm kích động, xuyên tạc, bôi nhọ nói xấu đất nước.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Ngay cả các nước phát triển như nước Nga, Trung Quốc và các nước khác cũng không được mời đã chỉ trích ý tưởng Mỹ tổ chức hội nghị thượng đỉnh dân chủ này trong bối cảnh tình trạng dân chủ và nhân quyền ở Mỹ và ở phương Tây đang đối mặt với nhiều vấn đề. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ, đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi, khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova gọi nỗ lực của Washington nhằm xác định ai là quốc gia dân chủ và ai không phải là quốc gia dân chủ, là ý tưởng đáng thương và đáng ngờ; Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng hội nghị thượng đỉnh do Mỹ tổ chức gây ra sự chia rẽ và đối đầu trên thế giới; Bộ trưởng Ngoại giao Hungary, là nước cũng không được mời tham dự sự kiện đã lưu ý rằng Budapest không cần “thẩm phán” để đánh giá trạng thái dân chủ. Nhưng với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, để tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Đối với Việt Nam, đến nay là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015. Những đóng góp tích cực, hiệu quả của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục…

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong khu vực, Việt Nam là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân. Chúng ta hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những tư tưởng như Điệp Mỹ Linh./.

T3.

 

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay

 


Những năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường thuận lợi để tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Tuy nhiên, trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, còn biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác về âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, nội dung, biện pháp đấu tranh chưa toàn diện trên các lĩnh vực, còn lúng túng, thiếu nhạy bén trong công tác tuyên truyền, định hướng cũng như cách thức tổ chức sử dụng lực lượng và các hình thức đấu tranh nên tính hiệu quả chưa cao.

Những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, sẽ có những diễn biến rất phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới đối với nước ta. Đặc biệt là, khi chúng ta đang tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII,… lợi dụng những vấn đề này, các thế lực thù địch sẽ quyết liệt đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn, hình thức, phương tiện tinh vi, xảo quyệt để chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Do vậy, thời gian tới để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể về “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Cần làm cho quần chúng nhân dân nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Vì vậy, cuộc đấu tranh này dành được thắng lợi hay không phụ thuộc vào lực lượng cách mạng có nhận thức đúng và đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình hay không. Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, trên cơ sở nền tri thức được giáo dục, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm cao và niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc, làm cho họ không bị thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Đồng thời, mỗi người sẽ tự chủ động đoàn kết chặt chẽ trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.

Hai là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Trước hết, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng cần phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình trong thực hiện các nhiệm vụ được giao và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, cần phát huy tốt vai trò của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách được giao nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Duy trì thường xuyên hoạt động của ban chỉ đạo các cấp; củng cố, kiện toàn và nâng cao trách nhiệm của thành viên các ban chỉ đạo, nhất là Ban chỉ đạo Đề án 609 của Trung ương. Làm tốt công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong đề ra các chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể.

Ba là, tăng cường phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Các tổ chức, các lực lượng có sự chỉ đạo chung thống nhất sẽ tạo nên sự thống nhất trong hành động, tạo nên sức mạnh của một khối thống nhất đủ sức để đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Do đó, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cần phải được tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt công tác và phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phân công trách nhiệm hợp lý, bảo đảm sự phối hợp giữa các lực lượng một cách hợp lý nhất. Có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các Ban Chỉ đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các bộ phận trong từng ban chỉ đạo được đồng bộ, nhịp nhàng. Cần có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những sự bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo, quản lý.

Bốn là, kết hợp giữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần giữ vững an ninh quốc gia, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN cần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với ngăn chặn có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo thường xuyên, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội. Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05/CT-TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thường xuyên đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Có chủ trương đúng trong việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Mặt khác, những người tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng cần được quan tâm thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đập tan các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Có chế độ thù lao tương xứng cho những công trình, chuyên đề chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” để thu hút những người tâm huyết tham gia viết bài đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay./.

T3.

 

Một số giải pháp thời gian tới đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 

         

        Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

             Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

              Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

              Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

             Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

            T3.