Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT CỦA PHẠM NHẬT BÌNH
Trên trang
Bureau CTM Media – Á Châu Phạm Nhật Bình đăng tải bài viết với tựa đề: “Báo
CAND: Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng”. Theo đó, y cho
rằng từ khi có sự xuất hiện nhà nước cộng sản, hai chữ dân chủ trở
thành món hàng trang trí, … nguyên nhân là do một đất nước độc đảng, đây là quan
điểm hoàn toàn xuyên tạc, bịa đặt của Phạm Nhật Bình về nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa mà nhân loại đang hướng đến xây dựng. Bởi vì:
Thứ nhất, dân chủ
là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại.
Dân chủ đã
xuất hiện từ thời cổ xưa. Dân chủ là khát vọng của con người. Xuất phát từ một
từ Hy Lạp cổ đại demokratia, dân chủ có nghĩa là quyền lực nhân dân, quyền lực
của nhân dân, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
Dân chủ là một phạm trù lịch sử. Theo C. Mác và Ph.Ăng-ghen, dân chủ là
phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng
lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện đầy
đủ. Đặc trưng cơ bản của dân chủ là, tất cả các công dân đều có quyền tham
dự vào đời sống chính trị, quyền lực cao nhất của đất nước thuộc về đại diện
của nhân dân; mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật.
Dưới chế độ nô lệ và phong kiến, tư tưởng thần quyền và phân biệt đẳng
cấp hà khắc đã tước bỏ tự do, dân chủ của nhân dân. Giai cấp tư sản đã lật đổ
chế độ chuyên chế quân chủ, xác lập chế độ nghị viện, phổ thông đầu phiếu, hai
đảng (hoặc chế độ đa đảng), phân quyền, bình quyền…, đây là những nội dung chủ
yếu của chế độ dân chủ tư sản. Dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở phủ định
chế độ chuyên quyền phong kiến, vì thế, trong sự phát triển chung của lịch sử,
nó có những đóng góp tích cực, thể hiện sự tiến bộ nhất định. Nhưng, dân chủ tư
sản được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ những
nhà tư bản lớn mới là những người nắm giữ vai trò quyết định, điều đó có nghĩa
dân chủ không bao giờ thuộc về quảng đại nhân dân. Do đó, dân chủ xã hội chủ
nghĩa mới thực sự là nền dân chủ ưu việt, phát triển cao hơn dân chủ tư sản.
Thứ hai, xét
về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ quyền lực thuộc về nhân dân, do
nhân dân quản lý và điều hành xã hội.
Chế độ đó do liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng
cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhân dân làm chủ trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua nguyên tắc
tập trung dân chủ, gắn dân chủ với kỷ cương, đảm bảo bằng luật pháp trên nguyên
tắc thượng tôn pháp luật. Bên cạnh đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa còn là chế độ
gắn kết và đảm bảo tính dân tộc kết hợp với tính nhân loại sâu sắc, đảm bảo mọi
quyền lợi thực tiễn của mọi cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá
nhân đối với cộng đồng xã hội.
Mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn chế độ dân chủ phù hợp, không nhất
thiết mô phỏng chế độ dân chủ của quốc gia khác. Chế độ dân chủ của một quốc
gia phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị, kinh tế… của từng
nước. Thực tiễn chứng minh, chế độ chính trị phương Tây cũng đầy rẫy những bất
công và tình trạng vi phạm dân chủ, không “hoàn hảo”, khác với nhiều người vẫn
ra sức tán dương, ca tụng, chỉ nhìn bề ngoài mặt nạ (?!). Trái lại, một số quốc
gia đã phải trả giá đắt cho việc bê nguyên xi mô hình dân chủ phương Tây, dẫn
tới những bất ổn, thậm chí rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng và nội chiến kéo
dài.
Thứ ba, dân chủ
không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng
Lịch sử hiện đại đã chứng minh, trình độ dân chủ
không tỷ lệ thuận với với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Chẳng hạn
Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có khoảng 25 đảng, Na Uy có 23 đảng… nhưng
không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới
có khoảng hơn 30 nước theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Arâp Xêút, Baren,
Bênanh, Bôxnia, Bốtxoana, CuBa, Cômô, Fiji, Gămbia, Gana, Ghinê, Bítxao, Haiti,
Hônđurat, Bờ Biển Ngà, Giamaica, Lào, Libi, Cộng Hoà Dân Chủ nhân dân Triều
Tiên, Mônacô, Namibia, Ruanđa, Xômali, Tátgikixtan, Tôgô và Việt Nam… Trong các
nước trên, chỉ có ba nước Triều Tiên, Lào, Việt Nam là do Đảng Cộng sản giữ vai
trò cầm quyền. Điều đó nói lên: Thứ nhất, Chế
độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã
hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thứ hai, không phải
các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.
Ngay trong
chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ
một đảng duy nhất cầm quyền vẫn đảm bảo dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Như cuối
những năm 1980, Xingapo, Hàn Quốc, Đài Loan… Vẫn theo chế độ một đảng duy nhất
cầm quyền, nhưng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Ngược lại, ở các nước đa đảng,
dân chủ cũng không được thực hiện tốt.
Như vậy chúng ta thấy rằng, toàn bộ nội dung trong bài viết của Phạm
Nhật Bình rõ ràng là sự vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc 100%, xét về cả phương diện
lý luận và thực tiễn. Bài viết của y, hòng lừa bịp, đánh tráo quan niệm và gây
tâm lý hoang mang, phá hoại niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách
mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân
ta đã lựa chọn./.
T3.
“NHÓM BÁO SẠCH” VÀ NHỮNG MIẾNG BÁNH VẼ
Với mong
muốn tiếp tục “sự nghiệp” còn dang dở của Phạm Chí Dũng và đồng bọn của y đang
phải trả giá vì tội chống phá Đảng, Nhà nước, Phạm Lê Đoan trong
bài viết “Doanh nghiệp xã hội về lãnh vực báo chí” đăng trên Vietnamthoibao đã vọng tưởng về tương lai của “Hội
nhà báo độc lập” – một tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” vốn dĩ không có tư cách
pháp nhân và không được pháp luật Việt Nam thừa nhận, trở thành “doanh nghiệp
xã hội”, để rồi lên tiếng về “tự do tôn giáo”, “giáo dục đạo đức cho giới trẻ”,
“hỗ trợ người dân yếu thế”…
Có thể thấy “miếng bánh vẽ” do Đoan vẽ ra hết sức thâm độc, đây thực
chất là thủ đoạn của những kẻ lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” chống
phá Đảng, Nhà nước ta, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xói mòn niềm
tin của quần chúng nhân dân với Đảng Nhà nước và chế độ.
Trên thực tiễn, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các
quyền con người, trong đó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, việc thực hiện các quyền này
do pháp luật quy định” như Hiến pháp 2013 và Luật Tiếp cận thông tin và Luật
Báo chí sửa đổi năm 2016, góp phần bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí
được thực thi trong thực tế đời sống, xã hội. Những số liệu ở Việt Nam cho thấy
có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí; 779 cơ
quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình; ngoài
ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng
Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Cũng theo số liệu thống kê của
NapoleonCat tính tới tháng 6 – 2021, tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam
là gần 76 triệu người, chiếm hơn 70% dân số toàn quốc. Những minh chứng trên
cho thấy, người dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, việc thực thi dân
chủ ở Việt Nam còn tốt hơn nhiều nước “dân chủ” khác, đâu cần mấy “doanh nghiệp
xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng
ra.
Hơn nữa, “nhóm báo sạch” luôn rêu rao “tự do báo chí”, “tự do ngôn
luận” nhưng thực sự đã giúp ích được gì cho dân, cho nước hay chỉ tung tin giả
mạo, bôi nhọ, nói xấu chính quyền, kích động, gây hoang mang trong quần chúng.
Đơn cử, trong khi Nhà nước đang nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch
bệnh Covid-19, thì bọn chúng lại dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử
vong và loan tin tốc độ lây lan dịch bệnh lớn hơn nhiều lần con số do Chính phủ
công bố, tạo tâm lý sợ hãi cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội. Bản
thân trong nội bộ nhóm báo sạch cũng tự phân hóa, rã đám khi phát hiện sự không
“sạch” như tiêu chí họ đề ra. Những hành vi của “nhóm báo sạch” và một số kẻ
khởi xướng thành lập “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” đã phải trả giá bằng hình
phạt nghiêm minh của pháp luật. Từ đó, có thể khẳng định những vọng tưởng mà
“nhóm báo sạch” đưa ra là không thực tế, “miếng bánh vẽ đó” rốt cuộc chỉ là âm
mưu thâm độc hại nước, hại dân mà thôi.
Từ tình hình trên cho thấy, các thế lực
thù địch đã và đang tập trung tiến hành hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên
không gian mạng. Đáng chú ý, là vấn đề nhân quyền, trong đó có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí. Do vậy, mỗi người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm,
tinh thần cảnh giác và năng lực tự sàng lọc thông tin trước tin đồn phát tán
trên không gian mạng. Mỗi cơ quan chức năng cần làm tốt công tác quản lý, kịp
thời, nhận diện, đấu tranh bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản
động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai
trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội; chủ động phối hợp với các
nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn từ nước ngoài, như Facebook, Google,
Twitter, Youtube để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ ảnh hưởng
đến an toàn xã hội, an ninh quốc gia./.
T3.
Quyền Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc cho phi công Trần Ngọc Duy
Cùng ngày 1-2, Bộ Quốc phòng truy thăng quân hàm trước niên hạn từ cấp đại úy lên thiếu tá; Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh truy tặng Huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" cho phi công Trần Ngọc Duy.
Trước đó, như Báo Người Lao Động đã thông tin, vào 12 giờ 9 phút ngày 31-1, máy bay quân sự Su-22, số hiệu 5873 của Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân do đại úy Trần Ngọc Duy điều khiển đã cất cánh chuyến bay thứ nhất, bài bay huấn luyện số 206. Lúc 12 giờ 27 phút, trong lúc hạ cánh, máy bay đã gặp nạn, phi công được lệnh nhảy dù nhưng cố cứu máy bay. Tuy nhiên, sau đó máy bay bị rơi, phi công Trần Ngọc Duy đã hi sinh.
Lễ viếng thiếu tá, phi công Trần Ngọc Duy được tổ chức từ 8 giờ 30 phút đến 12 giờ 30 phút ngày 1-2, tại Nhà tang lễ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái (TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn vũ TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; an táng tại Nghĩa trang Dốc Lim, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Thiếu tá, phi công Trần Ngọc Duy sinh năm 1992; nguyên quán: Xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; trú quán: Tổ 8, phường Quang Trung, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Đồng Phú, phường Nam Cường, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Anh nhập ngũ tháng 9-2010, đã được đào tạo sĩ quan lái máy bay quân sự tại Trường Sĩ quan Không quân và đã từng trải qua các nhiệm vụ, chức vụ: Phi công, Phi đội 2, Trung đoàn 937, Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân; Phi công, Phó phi đội trưởng Phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371. Sau đó, anh là Phó phi đội trưởng - Tham mưu trưởng Phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 thuộc Quân chủng Phòng không - không quân.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phi công Trần Ngọc Duy đã tích lũy được tổng số giờ bay 725 giờ 25 phút.
Phi công Trần Ngọc Duy được khen thưởng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở năm 2020; được phong quân hàm thiếu úy năm 2014, trung úy năm 2016, thượng úy năm 2019, thăng quân hàm trước niên hạn lên đại úy năm 2021; được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.
KẺ XUYÊN TẠC, VU CÁO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Vừa qua,
trên trang Danlambao, Nguyễn Dân có bài viết
với tựa đề: “Niềm tin và gian dối”. Theo đó, y cho rằng: Tám mươi năm vẫn với luận điệu tuyên truyền: do dân, vì dân phục vụ
dân là dối gian, tráo trở, là gian manh lừa mị,
Với giọng điệu này, Nguyễn Dân hoàn toàn phủ nhận, xuyên tạc, bịa đặt trắng
trợn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng
của Nhân dân ta. Bởi vì:
Thứ nhất, Đảng ra
đời, đấu tranh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân và Đảng thuộc về Nhân dân.
Đảng ra đời và phát triển không vì mục đích tự thân, mà vì mục đích đấu
tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Đảng Cộng sản
Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và của
Nhân dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đảm nhận trọng trách
lớn lao mà Tổ quốc và Nhân dân giao phó, đó là lãnh đạo Nhân dân tiến hành cách
mạng giải phóng dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam
và xu thế của thời đại, Đảng đã không chỉ hấp dẫn, quy tụ mà còn lãnh đạo nhân
dân Việt Nam, những người đang bị đọa đày trong đêm trường nô lệ kiên cường vượt
mọi khó khăn, thử thách tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc,
giành lại độc lập, tự do vào mùa Thu năm 1945; tiến hành thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội 1945-1975; tiến hành công cuộc
đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng 1986 đến nay.
Thứ hai, thực tiễn
đã minh chứng không thể phủ nhận được vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với sự nghiệp cách mạng.
Hơn 91 năm với 13 kỳ Đại hội, có thể khẳng định rằng, nội dung các văn
kiện của 13 kỳ Đại hội và các nghị quyết chuyên đề của Đảng đều khẳng định rõ;
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân. Tinh thần, hành động của mỗi
cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều nhằm mục tiêu phục vụ Nhân
dân, lấy sự hài lòng, niềm tin tưởng của người dân làm thước đo hiệu quả công
tác lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đó là sự thật, chứ không phải: Sự lãnh đạo của Đảng là “dối gian tráo
trở”, “là gian manh lừa mị”, “dân tộc chưa bao giờ hết khổ”; “đất nước trở nên
tụt hậu nghèo nàn chỉ vì người cs cầm quyền… , toàn dân không có được ấm no
hạnh phúc” như Nguyễn Dân vu cáo, bịa đặt một cách thô thiển. Thực tiễn hơn 91
năm qua đã kiểm chứng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đem lại cuộc
sống ấm no, tự do hạnh phúc cho Nhân dân trở thành chân lý không ai có thể chối
cãi được.
Thứ ba, trên thực
tế Nhân dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Nhân dân đi theo Đảng, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo
của Đảng trước hết vì những mục tiêu rất thực tế, để đáp ứng những nhu cầu
thiết thân hằng ngày và nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, cả về
vật chất và tinh thần. Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ
một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế –
xã hội lạc hậu, trình độ thấp. Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước
đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển,
đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng
Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc
không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc
lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng
cao trên trường quốc tế. Với những kết quả đó, “Liên hợp quốc đã công nhận Việt
Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên
niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức
0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng
trình độ phát triển”.
Về kinh tế, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,58%.
Trong bối cảnh dịch COVID-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền
kinh tế, đây là một thành công lớn của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch
bệnh, duy trì sản xuất kinh doanh. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) phục hồi khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu
tư của Việt Nam. CPI bình quân tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng bình quân
năm thấp nhất kể từ năm 2016. Xuất nhập khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng cao khi
đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần
so với đầu nhiệm kỳ, trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN.
Như vậy, chúng ta thấy rằng toàn bộ nội dung trong bài viết của Nguyễn
Dân là vu cáo, bịa đặt một cách trắng trợn, lời lẽ hằn học, thù hận hòng lừa
bịp và gây tâm lý hoang mang, chia rẽ Đảng với Nhân dân, phá hoại niềm tin của
quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Vì vậy, mỗi
chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu các thế lực thù địch./.
T3.
LẠI THÊM LUẬN ĐIỆU CỐ NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ
Tập trung
dân chủ là nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN). Từ bỏ nguyên tắc này là từ bỏ Đảng về bản chất. Chính vì vậy, các thế
lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào, luôn tìm cách
chống phá, đòi ĐCSVN phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng
xóa bỏ bản chất và vai trò lãnh đạo của Đảng. Gần đây, trên trang Thongluan-rdp, Lê Hữu Khóa lại có bài viết “Đừng trông
chờ độc đảng toàn trị tổ chức và hòa giải dân tộc” gây bức xúc dư luận xã hội.
Với những
lời lẽ xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Lê Hữu Khóa cho rằng
“Đảng CSVN là độc tài, độc đoán, chuyên quyền, độc trị, là nguyên nhân dẫn đến
đói nghèo, tụt hậu… và kêu gọi phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để
“hòa hợp dân tộc”, để “đất nước được phát triển”. Vậy ở Việt Nam có cần thiết
phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” không?
1. Đảng Cộng sản
Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Như chúng ta
đã biết, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm
trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện
nhưng tất cả đều bị thất bại và bị dìm trong biển máu bởi thiếu đường lối cách
mạng đúng đắn. Trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước,
tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, cùng với phong trào
công nhân và phong trào yêu nước, thành lập ra ĐCSVN – Đảng duy nhất lãnh đạo
cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là một thực tiễn không thể
bàn cãi.
2. Sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử và sự lựa chọn của nhân dân
Việt Nam
Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tự cho mình quyền
độc tôn lãnh đạo. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, tại Việt Nam, ngoài
Đảng Cộng sản còn xuất hiện hai đảng khác là đảng Việt Quốc và đảng Việt Cách.
Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản,
còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng Giới Thạch” không hề đứng
về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng
ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản cũng tồn tại hai đảng
khác: là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng
này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sau đó tuyên bố tự giải
thể. Sự xuất hiện và rút lui của đảng Việt Cách, Việt Quốc hay tự giải thể của
Đảng dân chủ và đảng xã hội đã cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân
và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân hoặc
đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ
đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ định chế độ đó.
3. Hãy thử hỏi
rằng, nếu hiện nay Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đất nước sẽ ra sao?
Câu trả lời
đã có sẵn đáp án từ thực tiễn Liên bang Xô viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu. Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất ổn định chính trị do sự
tranh giành quyền lực giữa các đảng phái. Thực tiễn, nhiều nước trên thế giới
hiện nay đang phải đối mặt với sự bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh
tranh quyền lực giữa các đảng phái, từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống
nhân dân cực kỳ khó khăn. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những quan điểm đòi “đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là quan điểm sai trái, phản động
hòng muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay đổi chế độ chính trị
tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp
pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cạnh
tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo
của Đảng. Thực tiễn tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chứng
minh rất rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này.
4. Một Đảng lãnh
đạo không đồng nhất với độc tài, mất dân chủ.
Dân chủ và
phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực hiện đa nguyên, đa
đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển. Một đảng lãnh đạo không
đồng nhất với độc tài lãnh đạo, mất dân chủ. Và không nhất thiết cứ “đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập” mới có dân chủ và phát triển. Thực tiễn hiện nay đã
cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ,
chính trị ổn định, kinh tế phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời
sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta
vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế
và uy tín quốc tế như ngày nay.
Từ thực tế trên cho thấy, những luận điệu đòi đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập như Lê Hữu Khóa thực chất là tư tưởng “ngược dòng lịch sử”, phản
động, hại nước, hại dân. Mọi người hãy hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu
tranh làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để ĐCSVN
“mãi mãi là mùa xuân của dân tộc”./.
T3.
Những sứ giả hòa bình tại Cộng hòa Nam Xu-đăng
CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHẢN ĐỘNG
Lợi dụng vấn đề “tự do ngôn luận”, các thế lực thù địch tăng cường sử
dụng những phần tử bất mãn, phản động ở trong nước và nước ngoài để hòng chống
phá cách mạng nước ta từ bên trong.
Trên
trang Baoquocdan, bút danh Điệp Mỹ Linh đã
tải bài viết “Cộng sản Việt Nam, chờ đó!”. Sự
thật cho thấy, Điệp Mỹ Linh là một nghệ sĩ
cùng chồng là sĩ quan Thủy quân Lục chiến Ngụy Sài Gòn; là những kẻ phản bội
hèn mạt ôm mối thù hận chạy trốn trước sự tiến công như vũ bão trong cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta.
Trong bài viết lợi dụng sự kiện “Hội nghị thượng đỉnh dân chủ” do Mỹ đơn
phương phát động và tổ chức trực tuyến, Điệp Mỹ Linh cho rằng: Việt Nam là một
trong những nước không được mời tham dự là “bẽ bàng”; “quê xệ nặng nề”, để nhằm
kích động, xuyên tạc, bôi nhọ nói xấu đất nước.
Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên
đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay
thước đo gì về dân chủ với các nước. Ngay cả các nước phát triển như nước Nga,
Trung Quốc và các nước khác cũng không được mời đã chỉ trích ý tưởng Mỹ tổ chức
hội nghị thượng đỉnh dân chủ này trong bối cảnh tình trạng dân chủ và nhân
quyền ở Mỹ và ở phương Tây đang đối mặt với nhiều vấn đề. Những hành
động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp
trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh
nghĩa bảo vệ dân chủ, đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các
nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi, khi những khẩu hiệu dân chủ
rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq,
Afghanistan, Lybia… Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova gọi nỗ
lực của Washington nhằm xác định ai là quốc gia dân chủ và ai không phải là
quốc gia dân chủ, là ý tưởng đáng thương và đáng ngờ; Bộ Ngoại giao Trung Quốc
cho rằng hội nghị thượng đỉnh do Mỹ tổ chức gây ra sự chia rẽ và đối đầu trên
thế giới; Bộ trưởng Ngoại giao Hungary, là nước cũng không được mời tham dự sự
kiện đã lưu ý rằng Budapest không cần “thẩm phán” để đánh giá trạng thái dân
chủ. Nhưng với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ
để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, để tìm kiếm sự tài trợ, hậu
thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.
Đối với Việt Nam, đến nay là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp
quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời
hạn năm 2015. Những đóng góp tích cực, hiệu quả của Việt Nam là thúc đẩy và bảo
vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân
quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các
quyền của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống chính sách,
pháp luật liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt:
Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an
sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục…
Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm rất cao khi gia nhập Hội
đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 và Ủy viên không thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong khu vực, Việt Nam là Chủ tịch Ủy ban
liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của
AICHR cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam đã dẫn dắt
hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch
COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước
đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan
trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Với những nỗ lực chung trong thúc
đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các
nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại
diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ
2023-2025.
Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời
sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng đời sống
người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế
ghi nhận. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó như Hội nghị thượng đỉnh về
dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một
quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những
quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do
quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do
như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm
bảo cho nhân dân. Chúng ta hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ
những tư tưởng như Điệp Mỹ Linh./.
T3.
Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay
Những năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn đề cao cảnh
giác, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường thuận lợi
để tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng XHCN. Tuy nhiên, trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”,
vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, còn biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác về âm mưu,
thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, nội dung, biện pháp đấu tranh
chưa toàn diện trên các lĩnh vực, còn lúng túng, thiếu nhạy bén trong công tác
tuyên truyền, định hướng cũng như cách thức tổ chức sử dụng lực lượng và các
hình thức đấu tranh nên tính hiệu quả chưa cao.
Những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những
thuận lợi là cơ bản, sẽ có những diễn biến rất phức tạp, khó lường với những
khó khăn, thách thức mới đối với nước ta. Đặc biệt là, khi chúng ta đang tổ
chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII,… lợi dụng những vấn đề này, các thế lực thù
địch sẽ quyết liệt đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu,
thủ đoạn, hình thức, phương tiện tinh vi, xảo quyệt để chống phá nước ta
trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Do vậy, thời gian tới để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn
biến hòa bình”, cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp sau đây:
Một là, nâng
cao nhận thức của các chủ thể về “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hòa bình”. Cần làm cho quần chúng nhân dân nhận thức rõ,
đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu
tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Vì vậy, cuộc đấu
tranh này dành được thắng lợi hay không phụ thuộc vào lực lượng cách mạng có
nhận thức đúng và đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình hay không.
Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, trên
cơ sở nền tri thức được giáo dục, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm cao và
niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, có
sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc, làm cho họ không bị thẩm thấu,
xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Đồng thời, mỗi người sẽ tự chủ
động đoàn kết chặt chẽ trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
Hai là, phát huy
sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến
hòa bình”. Trước hết, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là trách
nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng cần phát
huy tốt vai trò lãnh đạo của mình trong thực hiện các nhiệm vụ được giao và đấu
tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, tư tưởng cơ hội, thực
dụng, chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm
chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, cần phát
huy tốt vai trò của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách được giao
nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Duy trì thường xuyên hoạt động của
ban chỉ đạo các cấp; củng cố, kiện toàn và nâng cao trách nhiệm của thành viên
các ban chỉ đạo, nhất là Ban chỉ đạo Đề án 609 của Trung ương. Làm tốt công tác
kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hòa bình”; đồng thời, phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong đề
ra các chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ
thể.
Ba là, tăng cường
phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hòa bình”. Các tổ chức, các lực lượng có sự chỉ đạo chung
thống nhất sẽ tạo nên sự thống nhất trong hành động, tạo nên sức mạnh của một
khối thống nhất đủ sức để đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc.
Do đó, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cần phải được tiến hành đồng
bộ trên tất cả các mặt công tác và phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị, phân công trách nhiệm hợp lý, bảo đảm sự phối hợp giữa các lực
lượng một cách hợp lý nhất. Có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các Ban Chỉ
đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên
các lĩnh vực, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các bộ
phận trong từng ban chỉ đạo được đồng bộ, nhịp nhàng. Cần có cơ chế phối hợp
giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những sự bất cập, chồng chéo trong
công tác lãnh đạo, quản lý.
Bốn là, kết hợp
giữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần giữ vững an ninh quốc gia, giữ vững và
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN cần đấu tranh làm thất bại
chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với ngăn chặn có hiệu quả “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta dưới sự lãnh đạo thường xuyên, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội. Đẩy mạnh việc thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số
05/CT-TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về học tập, làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ.
Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho
hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thường xuyên
đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến
hòa bình”. Có chủ trương đúng trong việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ
mới, nhất là công nghệ thông tin trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa
bình”. Mặt khác, những người tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng cần
được quan tâm thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có thể hoàn thành
thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đập tan các luận
điệu xuyên tạc của kẻ thù. Có chế độ thù lao tương xứng cho những công trình,
chuyên đề chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” để thu hút
những người tâm huyết tham gia viết bài đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý
luận, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay./.
T3.
Một số giải pháp thời gian tới đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay
|
|
|
Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới,
khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và
ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”
trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất
là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó,
việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là
trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự
thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược,
lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén,
góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống
phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và
mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện
đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám
sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm
mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên
lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương
4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương
trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn
biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.
Hai là,
công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”
trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn.
Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu
cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh
đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối
thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt
ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với
các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ
trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của
công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.
Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương
của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của
cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải
pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt,
việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự
có hiệu quả.
Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ,
ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung
ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong
phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây
dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.
T3. |
