Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

Phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay

 TCCS - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, soi đường cho mọi công việc nói chung, trong đó có công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để Đảng càng văn minh, nhân văn, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc giá trị đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân làng Kon Rờ Bàng, xã Vinh Quang (thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum)_Nguồn: baokontum.com.vn

1- Từ lâu văn hóa đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi quốc gia - dân tộc, mỗi con người. Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị chân, thiện, mỹ có giá trị soi đường cho các hoạt động, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng,... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1). Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, theo đó văn hóa cũng là nền tảng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi(2). Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”.

Sức mạnh điều tiết của văn hóa không chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức, ứng xử trong quan hệ cộng đồng, quan hệ con người với con người, hay trong bản thân mỗi con người, không chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự hài hòa cụ thể, mà cao hơn, văn hóa còn phát huy tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ lớn, tạo nên sự phát triển cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa các lĩnh vực quan trọng của đời sống, của mỗi quốc gia - dân tộc. 

Thực chất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hệ giá trị văn hóa điều tiết, tác động tích cực đến sự chính danh, trong sạch, vững mạnh của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Văn hóa thẩm thấu, chi phối công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hệ giá trị của văn hóa là tổ hợp của yếu tố truyền thống, kết hợp với yếu tố hiện đại và sự kết tinh tinh hoa văn hóa thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc nên càng phải tạo lập hệ giá trị văn hóa trong Đảng để xây dựng, củng cố, nâng cao bản lĩnh, tầm trí tuệ, sức mạnh nội sinh, khả năng tự đề kháng, kiến tạo xây dựng mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay.

Hệ giá trị văn hóa trong Đảng thể hiện ở một số nội dung, như: 1- Bản lĩnh vững vàng của Đảng trước những khó khăn, thử thách; 2- Xác định đúng quyết sách chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững; 3- Mục tiêu, lý tưởng của Đảng luôn hướng đến chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác; 4- Đạo đức của Đảng, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên luôn là “công bộc” tận tụy phục vụ nhân dân; 5- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Do đó, các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên phải nắm vững nội dung của hệ giá trị văn hóa trong Đảng để phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nêu cao tính đảng, trách nhiệm trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện, phát huy vai trò hạt nhân chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đạt tới tầm cao của văn hóa, của đạo đức, văn minh,... thì Đảng cầm quyền sẽ hiệu quả, trường tồn, phát huy tốt vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh(3). Đây được coi là mẫu số chung, giá trị phổ quát đặt ra cho các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nỗ lực phấn đấu để Đảng ta luôn biểu trưng cho đạo đức, văn hóa, lương tâm, danh dự của cả dân tộc. Đó là cơ sở để nhân dân tin yêu Đảng, ủy thác vai trò lãnh đạo chính trị cho Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay.

2- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong Đảng - yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của Đảng. Đầu tư cho xây dựng văn hóa trong Đảng thực chất là đầu tư cho công tác xây dựng Đảng, nâng tầm văn hóa, đạo đức của Đảng. Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tác động tích cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với đất nước, dân tộc, phát triển đúng định hướng.

Công tác xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết được Đảng ta quan tâm xây dựng, phát huy tính dân chủ, dựa trên những căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cuộc sống, thuận lòng dân. Cấp ủy các cấp đã coi trọng khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức phối hợp hành động chặt chẽ nên chủ trương, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xác định rõ quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải pháp sát hợp với tình hình thực tiễn. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26-6-1992, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999, của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII đã ban hành các nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” (Kết luận số 21-KL/TW). Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định Đảng ta luôn kiên định, kiên quyết, kiên trì và tập trung trí tuệ, tâm sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được những kết quả tích cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững phẩm chất, tư cách của người đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được khắc phục thì sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc(4)...

Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa thành các tiêu chí phù hợp với thực tiễn của từng đảng bộ để giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5).

Các tổ chức đảng đã quan tâm xây dựng văn hóa, từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác; xây dựng đoàn kết, thống nhất, phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả,... đến hành vi ứng xử có văn hóa với nhân dân trong thực thi công vụ của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng quán triệt, tổ chức thực hiện. Các quy định về công tác cán bộ ngày càng đồng bộ, chặt chẽ hơn, làm cơ sở để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã bổ sung những nội dung mới, chỉ ra tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Công tác kiểm tra, giám sát đã có những đổi mới về nội dung, phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; kiên quyết kiểm tra, kết luận, thi hành kỷ luật một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thực tế, giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ một số hạn chế sau:

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng. Do đó, khâu chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số tổ chức đảng thiếu quyết liệt, biểu hiện chùng xuống, chất lượng, hiệu quả thấp. “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(7).

Thực tiễn cho thấy, “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8).

Một số tổ chức đảng chưa chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức nên chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm, bổn phận, lòng tự trọng, ý thức, tinh thần phục vụ nhân dân, sự miễn dịch với tham nhũng, tiêu cực. Một số tổ chức đảng xem nhẹ công tác tự phê bình và phê bình, tiến hành một cách hình thức, chưa quyết liệt, hiệu quả thấp; chưa chú trọng xây dựng văn hóa phê bình. Một số cấp ủy có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ địa phương trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mặc dù việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy có chuyển biến tích cực, nhưng “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(9).

Trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn có tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội(10). Đây là phản văn hóa, cần nhận diện, khắc phục, đẩy lùi trong thời gian tới, góp phần làm lành mạnh, nâng cao chất lượng công tác cán bộ.

Những hạn chế trên có nguyên nhân, như một số tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đúng vai trò, tính cấp thiết của xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; một số cấp ủy năng lực tổ chức, kiến tạo, tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng còn hạn chế, thiếu chủ động, thiếu những cách làm sáng tạo; một số cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm yếu, chưa thực sự tiên phong, gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức, văn hóa.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Pa Chải (tỉnh Điện Biên) giúp đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới, củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó quân dân_Ảnh: TTXVN

3- Để phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên về xây dựng văn hóa trong Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(11). Cần nhận thức rằng, xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng tác động biện chứng, làm tiền đề cho nhau; xây dựng Đảng là cơ sở, điều kiện của chỉnh đốn Đảng, ngược lại chỉnh đốn Đảng góp phần làm cho công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả hơn. Văn hóa thẩm thấu tác động đến năm mặt của công tác xây dựng Đảng, từ việc xác định đúng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; xây dựng đạo đức của Đảng - đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, yếu tố văn hóa góp phần giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được hệ giá trị chân - thiện - mỹ, thức tỉnh lương tâm, phân biệt được đúng, sai để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và hoàn thiện nhân cách. Coi nhẹ yếu tố văn hóa sẽ làm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dễ lệch chuẩn, sai phạm ở một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên.

Công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, thực chất là tác động văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân để phấn đấu, rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết và yêu cầu, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”(12). Giáo dục, rèn luyện phải thông qua giao nhiệm vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ để từng đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn, nhiệm vụ được giao để phấn đấu, rèn luyện; đồng thời, các tổ chức đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp nhau phát huy ưu điểm, khắc phục những nhận thức, hành vi chưa đúng, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(13). Từ chiều sâu bản chất của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, phải hướng vào phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người còn căn dặn: “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(14). Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải đối chiếu, “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện nhân cách, tiến bộ trưởng thành. Tự soi, tự sửa chính là bản lĩnh văn hóa của người cộng sản, dám nhận diện “thứ giặc trong lòng” để đấu tranh loại bỏ. Đây là cuộc chiến cam go, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, dũng cảm mới có thể chiến thắng, vượt qua.

Giáo dục, tác động từ góc độ văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên thấu cảm, lan tỏa tình yêu thương đồng chí. Tinh thần nhân đạo, nhân văn là bản chất của Đảng ta; là mạch nguồn xuyên suốt của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở lô-gíc nội tại để Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(15). Do đó, mọi sự kèn cựa, đố kỵ, ganh tỵ ở một số cán bộ, đảng viên sẽ được nhường chỗ cho tình thương và lòng nhân ái. Tiếp tục tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ những điều nhỏ nhất, bình dị nhất. Đây cũng là kênh để cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phấn đấu, rèn luyện, không chủ quan, tự mãn, bằng lòng với kiến thức, kết quả phấn đấu của mình.

Song hành với coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cần gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, “thứ giặc trong lòng không mang gươm, mang súng”, dễ dàng làm tha hóa nhân cách, đưa người ta đi xuống dốc. Từ thực tiễn lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có khát vọng cống hiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(17). Hiệu quả văn hóa thẩm thấu đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy. Trước bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ phải tích cực học tập nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, trình độ kiến thức các mặt, xây dựng tầm nhìn biện chứng để đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; đủ sức kiến tạo tổ chức thực tiễn có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ phải thâu thái được yếu tố văn hóa, bởi đó là hệ điều tiết để nâng cao nhận thức, hành vi, năng lực tổ chức hành động luôn vì lợi ích của Đảng, của tập thể và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, trong sạch về nhân cách, nói không với tiêu cực, tham nhũng, luôn lắng nghe, học hỏi, gần gũi với nhân dân. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Gương mẫu là tiêu chí, thước đo văn hóa của người cán bộ. Thực tế cho thấy, khi cán bộ đã “nhúng chàm”, mất uy tín thì chất lượng lãnh đạo, quản lý hạn chế, thậm chí bất lực. Bởi vậy, cần “coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hóa không chạy chức, chạy quyền”(18). Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần coi trọng xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, rèn luyện, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”(19). Trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ cần thực hiện tốt “6 dám” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,... Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã đề cập đến văn hóa từ chức, do đó, đã đến lúc cán bộ có sai phạm, khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao phải có bản lĩnh xin từ chức - đó là dũng khí, lòng tự trọng của cán bộ. Đây là vấn đề bình thường trong công tác cán bộ. Qua đó, kịp thời bổ sung những cán bộ có phẩm chất, tài năng đảm nhận các công việc của tổ chức phân công, không để khoảng trống quyền lực trong lãnh đạo, quản lý. Để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, nâng cao tính chuyên nghiệp, đủ khả năng làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế, từng cán bộ phải nỗ lực, phấn đấu; đổi mới mạnh mẽ các khâu của công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý.

Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát quyền lực.

Đây là giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Các tổ chức đảng cần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng (cấp ủy, ban thường vụ, sinh hoạt đảng bộ, sinh hoạt chi bộ) nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Sinh hoạt đảng phải đi vào thực chất, bài bản, bảo đảm nguyên tắc, phong phú về nội dung, hình thức sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy phải nâng cao tính đảng, tính chuyên nghiệp trong điều hành sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong tranh luận, thảo luận, gắn với kỷ luật, kỷ cương. Có phát huy dân chủ mới giúp cho cấp ủy có thêm thông tin, tri thức, kinh nghiệm để đưa ra các quyết định chính xác, hợp lòng dân. Cần tạo ra không gian văn hóa trong tổ chức đảng để đảng viên hiến kế, chia sẻ, đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng tổ chức đảng.

Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng ta khẳng định, không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(20). Công tác kiểm tra, giám sát là công cụ hữu hiệu để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; qua đó, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, phòng tránh các khuyết điểm, sai phạm. Ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhằm kịp thời giáo dục, ngăn chặn các khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, không để các dấu hiệu vi phạm từ chưa nghiêm trọng đến nghiêm trọng, từ một người liên quan đến nhiều người. Ủy ban kiểm tra cần hướng vào kiểm tra những điểm nóng, người đứng đầu, những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhằm giáo dục, cảnh báo cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, như tham nhũng, tiêu cực, thao túng quyền lực... Xây dựng văn hóa kiểm tra công tâm, khách quan, minh bạch, giáo dục, răn đe, đúng người, đúng việc, không gây oan sai, thể hiện thấu tình đạt lý, tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, coi trọng việc giám sát, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm. Quyền lực phải được “nhốt trong lồng” thể chế, cơ chế. Đây là biện pháp mạnh cần được tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”(21)

Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhân dân là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(22). Do đó, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của nhân dân. Đây là vấn đề mang tính quy luật, sống còn của Đảng. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(23). Yếu tố văn hóa chính là sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tôn trọng, cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, khắc phục, sửa chữa những góp ý đúng đắn của nhân dân. Bởi, tầm trí tuệ, tai mắt của nhân dân rất tinh tường, nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đảng viên khá chính xác; ai có trách nhiệm, làm việc có hiệu quả, ai làm tắc trách, quan liêu, nhũng nhiễu dân đều được nhân dân đánh giá. Vì vậy, xác lập cơ chế để thu thập, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức cần thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần kết hợp các kênh góp ý, như nhân dân trực tiếp góp ý, phản ánh, thông qua hội nghị góp ý phê bình cho cán bộ, đảng viên thông qua hòm thư góp ý hoặc thông qua tổ chức đại diện, như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng... Đây là cơ sở để tổ chức đảng có thêm thông tin, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, xây dựng tổ chức đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiệu quả, nhất là trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động hiện nay.

Cần khẳng định, sự hiện diện của văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, nội tại, mang tính quy luật, do đó đặt ra cho toàn Đảng, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tính đảng, lương tâm, danh dự, trách nhiệm của người cộng sản để phấn đấu, rèn luyện. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(24); để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc./.

----------------------

Đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể gắn với phát huy đầy đủ vai trò của người đứng đầu trong các tổ chức đảng hiện nay

 TCCS - Đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể gắn với phát huy đầy đủ vai trò của người đứng đầu có ý nghĩa rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm, chúc tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Những hạn chế, thách thức trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể và phát huy vai trò của người đứng đầu

Phương thức lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ ở vai trò, mối quan hệ lãnh đạo của tập thể và cá nhân người đứng đầu. Tập thể lãnh đạo là cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn (gọi chung là cấp ủy), là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, do đại hội bầu ra hoặc do cấp trên chỉ định; là tổ chức đảng (chi bộ, đảng bộ). Cấp ủy lãnh đạo toàn bộ hoạt động của tổ chức đảng: lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị và các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng là bí thư cấp ủy, bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư chi bộ. Người đứng đầu là người chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp ủy, cùng cấp ủy chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và nhân dân về những công việc được phân công. Người đứng đầu có vai trò là người lãnh đạo, chủ trì, phối hợp mọi mặt công tác của cấp ủy, tổ chức đảng, đồng thời là người chịu trách nhiệm cao nhất trong tập thể và tổ chức đảng đối với thành công và hạn chế về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương. Do đó, người đứng đầu phải có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ và các tố chất cá nhân: phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, là hạt nhân quy tụ đoàn kết, biết khơi dậy tiềm năng trí tuệ, ý chí quyết tâm của tập thể. Vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu được xác định rõ ràng trong quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Vị trí, vai trò, mối quan hệ của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu được Đảng ta quan tâm lãnh đạo, đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”(1). Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu làm tốt vai trò lãnh đạo, chủ động, quyết liệt trong công tác, cải tiến lề lối làm việc, phong cách công tác, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, uy tín của các tổ chức đảng.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, việc thực hiện các phương thức lãnh đạo, nhằm bảo đảm vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu các cấp vẫn còn bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm, phát sinh nhiều tình huống khó khăn, thách thức:

Thứ nhất, về bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể và phát huy đầy đủ vai trò của người đứng đầu cấp ủy trong xây dựng, tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số chủ trương, nghị quyết có nơi, có lúc chưa quyết liệt, còn yếu kém, chậm trễ nhưng chưa xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu”(2). Những hạn chế, khuyết điểm trên có liên quan đến việc bảo đảm vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng và vai trò của người đứng đầu, qua một số biểu hiện sau:

Một là, một số cấp ủy, tổ chức đảng buông lỏng vai trò lãnh đạo, chưa thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm trong việc ban hành các quyết định, quy định, thiếu sâu sát trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, để cho cá nhân, người đứng đầu thao túng, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để đưa ra những quyết định, quy định trái với đường lối, chủ trương, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngược lại, một số cấp ủy, tổ chức đảng mất đoàn kết, thiếu thống nhất, chia rẽ nội bộ, cản trở người đứng đầu thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của mình; hoặc do nhận thức chưa đúng thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, nên can thiệp quá sâu, quá cụ thể vào thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, làm cho họ mất chủ động, không dám đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động, rốt cuộc là cả tập thể lãnh đạo và người đứng đầu đều suy giảm vai trò lãnh đạo, tính chiến đấu.

Hai là, một số người đứng đầu năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, không đủ uy tín để quy tụ, dẫn dắt tập thể; thiếu bản lĩnh, thiếu quyết đoán, quyết liệt, dựa dẫm tập thể trong thực hiện chức trách; lúng túng trong xử lý tình huống phức tạp, để công việc trì trệ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị; quan liêu, thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Một số người đứng đầu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, lạm quyền, lộng quyền, độc đoán trong thực hiện chức trách theo quy định; lợi dụng chức quyền để thao túng tổ chức, tạo vây cánh để trục lợi chính sách, thu vén cho lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; “tranh công”, “đổ tội” khi xảy ra sai phạm, không gương mẫu nhận trách nhiệm, đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan, cho cơ chế, cho tập thể và cấp dưới.

Ba là, một số tập thể chưa thể hiện đầy đủ vai trò lãnh đạo, tính chiến đấu, do bệnh nể nang, cơ hội, dĩ hòa vi quý, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong ban hành, tổ chức thực hiện các quyết sách vẫn là khâu yếu, chậm khắc phục, như ban hành nghị quyết nhiều, nhưng hiệu lực, hiệu quả chưa cao; năng lực vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của cấp trên chưa sát hợp với tình hình thực tiễn cơ quan, địa phương, đơn vị...

Thứ hai, về bảo đảm vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu trong công tác tư tưởng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục, thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là phương thức nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Tuy nhiên, công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt tư tưởng, sinh hoạt lãnh đạo của một số cấp ủy, tổ chức đảng hiện nay còn một số khuyết điểm, hạn chế. Một số cấp ủy thực hiện không nghiêm, thực hiện một cách hình thức quy định về tự phê bình và phê bình trong kiểm điểm, đánh giá cán bộ; không ít cán bộ, đảng viên còn né tránh, không dám vạch ra khuyết điểm của người đứng đầu, thậm chí còn bao che cán bộ mắc khuyết điểm, làm suy thoái tập thể lãnh đạo, tổ chức đảng.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hiện tượng bè phái, chia rẽ, mất đoàn kết, để một số cá nhân lợi dụng tự phê bình và phê bình để đấu đá, làm rối loạn tổ chức, cản trở quyết định đúng đắn của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu. Ngược lại, một số cấp ủy, tổ chức đảng đoàn kết, thống nhất theo kiểu “xuôi chiều”, dễ dãi khi thảo luận, thông qua các quyết định, nên vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của tập thể lãnh đạo vì thế bị lu mờ.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chú trọng công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động lãnh đạo; chưa thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thiếu quản lý cán bộ, đảng viên, để một bộ phận cán bộ, đảng viên hư hỏng, suy thoái, biến chất. Cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong tổ chức đảng hạn chế về năng lực, thiếu phương pháp khoa học, phong cách lãnh đạo, văn hóa ứng xử trong tuyên truyền, vận động, thuyết phục, làm ảnh hưởng đến vai trò, chất lượng lãnh đạo của tập thể cấp ủy và tổ chức đảng. 

Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng buông lỏng công tác tư tưởng, chưa chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; chưa phát huy dân chủ trong thảo luận, tranh luận, đối thoại, tranh thủ trí tuệ tập thể, không chịu lắng nghe ý kiến của đảng viên và nhân dân. Một số cán bộ, đảng viên, người đứng đầu chưa gương mẫu trong công tác, chưa nêu gương về đạo đức, lối sống, để người nhà, người thân lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, vi phạm đạo đức xã hội và pháp luật của Nhà nước, làm mất niềm tin của nhân dân đối với tổ chức đảng.

Công tác tư tưởng, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu đang đặt ra những khó khăn, thách thức: 1- Trong sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình ở không ít cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hình thức, chất lượng thấp; chủ nghĩa “duy tình”, chủ nghĩa cơ hội chi phối, nên cán bộ, đảng viên không dám nói thẳng, nói thật, nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý, làm cho tổ chức đảng giảm sút tính tiên phong, tính chiến đấu, tính lãnh đạo; 2- Không ít cán bộ lãnh đạo lạm dụng, lợi dụng quyền uy, chức trách để độc đoán, áp đặt ý chí chủ quan, thay vì dùng uy tín, phẩm chất, đạo đức, phong cách công tác, trách nhiệm nêu gương để gây ảnh hưởng đến tổ chức trong lãnh đạo, điều hành; 3- Việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hình thức, hiệu quả chưa cao; một số cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thực hiện chưa nghiêm túc, thiếu trung thực, chưa gương mẫu trong khắc phục sai lầm, sửa chữa khuyết điểm.

Thứ ba, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ.

Đảng ta luôn xác định, công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng, khâu “then chốt của then chốt”, rất hệ trọng. Trong thời gian qua, Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, quy chế, quy định đổi mới, hoàn thiện công tác cán bộ, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực, kiểm soát quyền lực, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu vẫn còn những hạn chế nhất định. Nhiều trường hợp, cán bộ được quy hoạch, đề bạt, luân chuyển, thay đổi vị trí công tác, nhưng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, thậm chí vi phạm khuyết điểm, suy thoái, tham nhũng, gây dư luận không tốt trong Đảng và nhân dân; có trường hợp thực hiện đúng quy trình, quy định, phiếu tín nhiệm cao, nhưng quá trình công tác bộc lộ nhiều yếu kém về phẩm chất và năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng buông lỏng lãnh đạo, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ, ban hành những quyết định thiếu chính xác, sai phạm. Ban hành quy chế, quy định về công tác cán bộ, chế độ làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa quán triệt đầy đủ, chưa cụ thể hóa sát với yêu cầu, tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương, thiếu chặt chẽ, khi tổ chức thực hiện dễ bị vi phạm.

Một số cán bộ, người đứng đầu lợi dụng quyền hạn của mình để gây ảnh hưởng, chi phối người khác; trao đổi, thỏa hiệp ngầm hoặc công khai gợi ý, định hướng để tập thể thuận theo ý định chủ quan của mình. Một số trường hợp cán bộ chủ chốt, người đứng đầu lợi dụng hạn chế, thiếu sót hoặc cố tình vận dụng sai nghị quyết, quy chế, quy định để hợp thức hóa ý đồ cá nhân của mình, đưa vào quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển người thân, phe cánh vào những vị trí “đắc địa”. Thậm chí một số trường hợp, người đứng đầu cấp ủy có biểu hiện suy thoái nghiêm trọng, dựa vào quyền thế để dung túng cho cán bộ cấp dưới làm sai, gây bè phái, làm mất đoàn kết nội bộ; tạo điều kiện cho các phần tử cơ hội chạy “quan hệ”, “chạy chức”, “chạy quyền” để thăng tiến, tìm mọi cách “chạy tội”, “chạy án” khi bị phát hiện sai phạm. Đây là biểu hiện hết sức nguy hiểm làm suy thoái cán bộ, suy thoái tổ chức đảng và hệ thống chính trị, gây mất niềm tin trong nhân dân đối với Đảng.

Dù thực hiện đúng quy định, quy chế, quy trình song vẫn để lọt những người không đủ tiêu chuẩn, thậm chí đã mắc khuyết điểm, sai phạm vào trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị; quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ chưa được thực hiện nghiêm túc, nên vẫn còn cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu lợi dụng chức quyền gây ảnh hưởng tiêu cực đến công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ.

Thứ tư, bảo đảm vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát là nội dung rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng, phương thức lãnh đạo, nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng ở các cấp, các ngành trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, rõ nét và đạt những kết quả quan trọng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, biến chất, đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực còn không ít hạn chế.

Một là, một số cấp ủy, tổ chức đảng buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát; chưa chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, để sai phạm, khuyết điểm kéo dài, chậm phát hiện, chậm xử lý. Một số vụ, việc vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhưng không phát hiện kịp thời, chỉ khi dư luận của nhân dân, báo chí và cấp trên phát hiện, chỉ ra, mới bị động xử lý, làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng. Một số cấp ủy, tổ chức đảng trong thi hành kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn có biểu hiện bao che, né tránh, không dám thẳng thắn chỉ rõ bản chất, tính chất, mức độ nguy hại trong những vi phạm, thậm chí còn nương nhẹ hình thức kỷ luật.

Hai là, chưa thực hiện đầy đủ vai trò, thẩm quyền, chức trách của mình trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực, để một số cán bộ chủ chốt, người đứng đầu vi phạm quy định, quy chế làm việc, vượt quá thẩm quyền, lạm quyền, độc đoán trong chỉ đạo, điều hành, ban hành các quyết định vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng, trái với pháp luật của Nhà nước.

Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu có biểu hiện buông lỏng, xem nhẹ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; chưa chủ động, tích cực chỉ đạo cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch đặt ra; khi tiến hành kiểm tra, giám sát thì làm qua loa, chiếu lệ, chủ yếu tìm ưu điểm để tuyên dương, khen thưởng; khi kiểm tra dấu hiệu vi phạm, thi hành kỷ luật thì nể nang, né tránh.

Ba là, một số cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không dám thúc đẩy quyết liệt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, e ngại người khác lôi ra sai lầm, khuyết điểm của mình. Điều đó có thể làm mất tác dụng, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra, giám sát, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Khó khăn, thách thức đối với thực hiện kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nổi lên mấy vấn đề: Nhận thức của cấp ủy, người đứng đầu chưa thấu suốt, còn xem nhẹ, chưa chủ động phòng, chống từ sớm, từ xa với những biểu hiện vi phạm, khuyết điểm; khi thi hành kỷ luật đảng thì hữu khuynh, nể nang, e ngại, sợ mất lòng, mất uy tín của tổ chức; vấn đề kiểm soát quyền lực đối với cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu chưa có cơ chế chặt chẽ, thực hiện chưa nghiêm, nhất là đối với người đứng đầu “nhất thể hóa” hai chức danh lãnh đạo và quản lý...

Nguyên nhân của thực trạng yếu kém, khuyết điểm trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo của tập thể và người đứng đầu trong các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp hiện nay chủ yếu là do nhận thức, tư tưởng, phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, bất cập; quy chế, quy định, cơ chế, chính sách, môi trường tổ chức, hoạt động chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện; phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa đổi mới, sáng tạo, thực hiện chưa hiệu quả...

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, vừa phát huy đầy đủ vai trò của người đứng đầu

Để khắc phục hạn chế, khuyết điểm, hóa giải khó khăn, thách thức, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, xây dựng đội ngũ người đứng đầu cấp ủy đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Tăng cường rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị kết hợp với bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống và các tố chất lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực cùng với các tố chất của người lãnh đạo, phải kết hợp đào tạo trong trường, lớp với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, phải lấy kết quả hoạt động thực tiễn để đánh giá, lựa chọn để bổ nhiệm cán bộ vào các vị trí phù hợp.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai chung vui với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Gia Lai tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở làng Wâu, xã Chư Á, tỉnh Gia Lai (tháng 11-2022)_Ảnh: TTXVN

Đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, năng lực, phương pháp công tác, phong cách lãnh đạo gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, với tự phê bình và phê bình, coi đó là phương thức quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu có phẩm chất, đạo đức cách mạng, phong cách lãnh đạo, quản lý nói đi đôi với làm, có phương pháp khoa học trong xử lý tình huống phức tạp, khó khăn.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, đồng bộ hóa hệ thống nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về tổ chức và hoạt động của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để bảo đảm vai trò lãnh đạo của cấp ủy và phát huy đầy đủ vai trò của người đứng đầu, ngăn chặn tình trạng người đứng đầu lợi dụng bất cập trong các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để trục lợi, chuyên quyền, độc đoán.

Hoàn thiện quy chế, quy định xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể lãnh đạo trong cơ quan Đảng và Nhà nước với quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu, để vừa phát huy tốt trí tuệ tập thể, vừa phát huy đầy đủ tính chủ động, đổi mới sáng tạo của người đứng đầu trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định. Phân định rõ giữa chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng với tổ chức nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng ở từng cấp, từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương. Trên cơ sở đó, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để tránh trường hợp người đứng đầu ỷ lại tập thể, đổ lỗi cho tập thể khi không làm tròn trách nhiệm, hoặc ngược lại lợi dụng tập thể làm “bình phong” để lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát để nhanh chóng khắc phục tình trạng một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa xây dựng đầy đủ hoặc chưa bám sát vào quy chế, quy định để hoạt động. Tình trạng phổ biến hiện nay ở không ít cấp ủy, tổ chức đảng là sao chép quy chế, quy định của cấp trên, không cụ thể hóa, vận dụng cho sát hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ đặc thù, nhạy cảm, phức tạp dễ lạm dụng quyền lực dẫn đến sai phạm ở mỗi cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị, như công tác cán bộ, quản lý đất đai, tài sản, tài chính công.

Hoàn thiện quy chế, quy định, chính sách, pháp luật, tạo môi trường, điều kiện cho người đứng đầu mạnh dạn đổi mới sáng tạo, nhất là trong những lĩnh vực khó, phức tạp của địa phương, cơ quan, đơn vị; khuyến khích, trọng dụng, bảo vệ những người đứng đầu dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm, hành động quyết liệt vì lợi ích của nhân dân. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cần quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì lợi ích chung, vì vậy, phải xây dựng môi trường, điều kiện thuận lợi để họ phát huy đầy đủ các tố chất đó, đồng thời tránh rủi ro không mong muốn khi thực hiện nhiệm vụ.

Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và hệ thống chính trị. Quyền lực không được kiểm soát sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực. Người đứng đầu được trao quyền càng lớn thì nguy cơ bị tha hóa càng cao; người đứng đầu không thể được giao quyền mà không chịu trách nhiệm, ngược lại, không thể đòi hỏi trách nhiệm mà không được giao quyền tương ứng. Chủ trương của Đảng là xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị(3), để tạo điều kiện cho cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu có tư duy và cách làm đổi mới, dám đột phá. Do vậy, cần phải xây dựng những quy định, quy chế để cán bộ hoạt động hiệu quả, nhưng được kiểm soát chặt chẽ.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu, nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể và cá nhân người đứng đầu.

Tập trung khắc phục những khâu yếu trong ban hành, thực hiện nghị quyết của Đảng, nhất là khâu tổ chức thực hiện kém hiệu quả. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong thực hiện quy trình ban hành, tổ chức thực hiện và đánh giá các chủ trương, nghị quyết. Xây dựng nghị quyết phải bảo đảm tính khoa học, phát huy dân chủ và năng lực trí tuệ của tập thể, đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Năng lực, phương thức lãnh đạo của người đứng đầu quyết định chất lượng, hiệu quả của nghị quyết. Trong đánh giá người đứng đầu, phải lấy chất lượng tổ chức thực hiện, hiệu quả kinh tế - xã hội của nghị quyết và vai trò, ảnh hưởng của họ trong lãnh đạo, điều hành cấp ủy, tổ chức đảng làm tiêu chí đánh giá.

Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần, thông suốt các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy, tự phê bình và phê bình. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, khắc phục những hạn chế về tính đảng, tính chiến đấu, tính lãnh đạo trong sinh hoạt đảng. Cần bổ sung, hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cấp ủy, kịp thời đưa ra khỏi cấp ủy, tổ chức đảng những cán bộ, đảng viên “hữu danh vô thực”, thiếu bản lĩnh, kém năng lực, quan liêu, không gương mẫu, nói không đi đôi với làm, ý thức xây dựng tập thể kém, bè phái, mất đoàn kết.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ, khắc phục mâu thuẫn bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển cán bộ thì đúng quy định, quy trình, nhưng lại để lọt những cán bộ phẩm chất kém, năng lực, uy tín thấp, thậm chí vi phạm khuyết điểm. Bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ; xây dựng và hoàn thiện cơ chế về kiểm soát quyền lực; tăng cường thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu; đề cao trách nhiệm đến cùng của tập thể cấp ủy và người đứng đầu trong các quyết định về công tác cán bộ; cần có quy định về trách nhiệm bày tỏ quan điểm rõ ràng của từng thành viên và người đứng đầu bằng ý kiến trực tiếp và bằng phiếu giới thiệu có ghi danh và được cơ quan có trách nhiệm bảo lưu để xử lý khi cần thiết, nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng, minh bạch trong thực hiện quy trình công tác cán bộ.

Tiếp tục đổi mới hơn công tác đánh giá cán bộ vì đây vẫn là khâu khó và yếu nhất, nhằm bảo đảm lựa chọn đúng cán bộ thực sự có phẩm chất, năng lực, uy tín để bố trí vào các vị trí chủ chốt, người đứng đầu trong các cơ quan đảng, nhà nước. Tăng cường, đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; bổ sung và hoàn thiện quy định về kiểm tra, giám sát, kiểm soát trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng do công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra đối với cấp ủy viên và người đứng đầu cùng cấp quy định chưa rõ ràng, còn bất cập. Hoàn thiện quy định này có ý nghĩa quan trọng, vì cán bộ, đảng viên của tổ chức đảng và nhân dân là những người có quan hệ trực tiếp, gần gũi, thường xuyên với cấp ủy và người đứng đầu cùng cấp, nên nếu có cơ chế giám sát, kiểm soát, hiệu quả thì những vi phạm, khuyết điểm trong tổ chức đảng mới được phát hiện và xử lý sớm, kịp thời khi chưa trở nên nghiêm trọng./.

Những “bóng hồng” giành hoa bắn giỏi

 

Sau gần 3 tuần vượt nắng, thắng mưa, say sưa luyện tập, các nữ chiến sĩ dân quân năm thứ nhất của TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) đã tham gia kiểm tra bắn đạn thật súng tiểu liên AR15 bài 1b “Bắn mục tiêu cố định ban ngày”.

Với bản lĩnh vững vàng, khả năng làm chủ vũ khí, trang bị tốt, nhiều “bóng hồng” xuất sắc giành điểm giỏi, được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tặng hoa và "thưởng nóng" ngay tại thao trường.  

Các nữ chiến sĩ dân quân năm thứ nhất Cao Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Bích Trâm, Bùi Thị Hoài Thương (Ban CHQS phường Tân Thành) bước lên tuyến bắn khi mặt trời đã dần đứng bóng, cả thao trường nóng như chảo lửa khiến các cô gái không tránh khỏi sự hồi hộp. Hiểu rõ điều này, Thiếu tá Trình Ngọc Nam, Trợ lý Tác huấn và đội ngũ cán bộ dẫn bắn của Ban Tham mưu (Ban CHQS TP Buôn Ma Thuột) thường xuyên động viên các “bóng hồng”, nhắc chị em hít sâu, thở nhẹ để bình tĩnh, tuân thủ đúng “đấu pháp” đã đề ra.

Nữ chiến sĩ dân quân trên tuyến bắn. 
Nữ chiến sĩ dân quân trên tuyến bắn. 

“Bắn!”. Sau khẩu lệnh mạch lạc, dứt khoát của người chỉ huy, trên trường bắn liên tục vang lên những tiếng súng nổ giòn. Kết thúc loạt bắn, những tràng pháo tay không dứt khi nghe tổ báo bia thông báo kết quả: “Bệ số 1: Mười! Mười! Chín!”; bệ số 2: “Chín! Chín! Chín!”; bệ số 3: “Mười! Chín! Tám!”-cả 3 bệ đều đạt giỏi. 

Kết quả tốt trong các loạt bắn đầu như tiếp thêm động lực cho những đợt bắn sau. Các nữ chiến sĩ Đặng Thị Hồng (Ban CHQS xã Hòa Phú), Nông Thị Hằng (Ban CHQS xã Ea Kao), Hoàng Mỹ Huyền Trang (Ban CHQS xã Hòa Khánh) cũng xuất sắc giành hoa bắn giỏi, khiến “cánh mày râu” phải khâm phục tài thiện xạ của chị em. Chiến sĩ Hoàng Mỹ Huyền Trang chia sẻ: “Những ngày đầu học bắn súng, do chưa quen nheo mắt nên tôi thấy rất khó. Được cán bộ huấn luyện tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, khả năng ngắm bắn của tôi đã tiến bộ rõ rệt sau từng buổi tập”.

Từ những bài tập đầu tiên về kỹ thuật lấy đường ngắm cơ bản, đường ngắm đúng đến kỹ năng kết thúc phát bắn, nữ “sao vuông” H’Wil (Ban CHQS xã Ea Kao) đã khẳng định tố chất của một xạ thủ cừ khôi. Quá trình luyện tập, chị luôn tự giác, tích cực, cẩn trọng trong từng động tác kỹ thuật. Chỗ nào chưa rõ, chưa hiểu, H’Wil đều mạnh dạn nêu câu hỏi để cấp trên, đồng đội giảng giải, phân tích thêm. Tuy đã lập gia đình, vướng bận con nhỏ, song sáng nào H’Wil cũng có mặt trên thao trường từ sớm, cùng đồng đội làm công tác chuẩn bị, trao đổi, thảo luận về nội dung huấn luyện. Trên bệ bắn số 1, với 3 phát đạn thẳng như kẻ chỉ vào mục tiêu bia số 4, ở khoảng cách 100m, chị xuất sắc giành 27 điểm. Kiểm tra nhận thức chính trị, tháo lắp súng tiểu liên AR15, ném lựu đạn xa đúng hướng, các tư thế, động tác vận động trên chiến trường... H’Wil đều đạt giỏi, là tấm gương để các chị em noi theo.

Trung tá Nguyễn Thanh Tùng, Phó chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Ban CHQS TP Buôn Ma Thuột cho biết: “Bài 1b "Bắn mục tiêu cố định ban ngày" đối với súng trường, súng tiểu liên là bài bắn cơ bản đầu tiên, nhằm rèn luyện cho người học khả năng bắn chụm, bắn trúng vào mục tiêu ở tư thế nằm bắn có tì. Đây là cơ sở giúp luyện tập các bài bắn tiếp theo đạt kết quả tốt. Qua tổng hợp sơ bộ trong kiểm tra bắn đạn thật, tỷ lệ khá, giỏi của đơn vị đạt trên 76%. Trong đó, tỷ lệ khá, giỏi của các nữ chiến sĩ đạt hơn 83%. Đây là thành tích, sự nỗ lực rất lớn của các “bóng hồng”.  

 “Nắng mưa rèn chí kiên cường. Thao trường luyện tài tuổi trẻ”, những tiếng nổ giòn, những bông hoa bắn giỏi, những nụ cười tỏa nắng và thành tích huấn luyện xuất sắc là động lực, hành trang, tiền đề vững chắc để các nữ chiến sĩ dân quân năm thứ nhất Ban CHQS TP Buôn Ma Thuột không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

Thầm lặng lính “canh bầu trời”

 

Lễ 30-4 và 1-5 sắp đến gần, đây cũng chính là cao điểm canh trực, sẵn sàng chiến đấu tại các Đài quan sát mắt phòng không thuộc Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam. Nơi đây, cán bộ, chiến sĩ vẫn ngày đêm dõi mắt trên từng khoảng không vì sự bình yên bầu trời Tổ quốc...

Đóng quân độc lập tại các điểm cao nơi núi cao, đảo xa, cán bộ, chiến sĩ ở các Đài quan sát phòng không lặng lẽ, âm thầm, bất kể mưa nắng, giông bão, luôn miệt mài với nhiệm vụ canh trực quan sát bầu trời. Ghé mắt vào kính chỉ huy thì biết, công việc của các anh là “vén mây” để phát hiện mục tiêu từ xa, kịp thời thông báo, báo động cho các lực lượng tác chiến phòng không các loại máy bay đột nhập đường không hoặc các phương tiện bay có hành động bất thường.

Với tầm nhìn xa “trên mười ki-lô-mét”, Đài còn kết hợp theo dõi mặt đất liên quan, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân. Tính chất nhiệm vụ đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao; với phương châm “Địch vào là biết, địch đến là diệt”, không để bị bất ngờ, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng không để kẻ thù xâm phạm vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc. Đặc biệt, vào các dịp lễ, Tết, các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước thì nhiệm vụ canh trực, phát hiện mục tiêu càng đòi hỏi cao hơn cả về yêu cầu, tính chất và cường độ…

Phiên trực của cán bộ, chiến sĩ Đài quan sát phòng không, Ban CHQS huyện Nam Giang. 
Phiên trực của cán bộ, chiến sĩ Đài quan sát phòng không, Ban CHQS huyện Nam Giang. 

Thiếu úy Quân nhân chuyên nghiệp Trần Ngọc Anh - Đài trưởng Đài quan sát phòng không, Ban CHQS huyện Nam Giang chia sẻ: “Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không để sót, lọt mục tiêu, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện, tích cực học tập nghiên cứu, nắm chắc các nguyên lý về địa hình, thời tiết, không gian, thời gian trong từng phiên trực. Đặc biệt, từng trinh sát viên phải nắm vững lý thuyết, sử dụng thuần thục các loại phương tiện, khí tài được trang bị, đảm bảo phát hiện mục tiêu một cách chính xác, kịp thời báo cáo về sở chỉ huy để có phương án xử trí”.

Không ồn ào, hối hả như nhịp sống nơi phố thị, ở đây có cảm giác hơi trống vắng. Ấy thế mà khi đã quen rồi, lại lưu luyến không muốn rời. Giữa không gian thoáng đãng, gió lúc nào cũng lồng lộng, hào phóng. Đứng bên đồng đội mà đôi khi với tay hứng được những sợi mây lạnh giá tuôn ngang trên đầu, Binh nhất Nguyễn Thanh Minh - Chiến sĩ Trinh sát, Đài quan sát phòng không, Tiểu đoàn HH70 cho biết: “Càng lên cao không khí càng mát mẻ, thoáng đãng. Đứng ở điểm cao này, có thể quan sát bốn phương tám hướng, nắm được “tâm trạng” của đất, trời, sông nước. Không đủ quân số chơi bóng đá, bóng chuyền; ngoài giờ huấn luyên chúng tôi quây quần bên nhau lo cơm nước, cùng hát cho nhau nghe giữa bao la đất trời; tình đồng chí, đồng đội càng thêm khăng khít”. 

Chia tay cán bộ, chiến sĩ Đài quan sát với bao lưu luyến. Với các anh, bầu trời là tình yêu, nỗi nhớ, máu thịt, ruột rà. Chúng tôi cảm nhận được sức trẻ, lòng nhiệt huyết của mỗi cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm canh canh trực vì sự bình yên của bầu trời Tổ quốc.

Đúng là tự do kiểu Mỹ

 MỸÍt nhất 4 người thiệt mạng và 20 người bị thương trong vụ xả súng xảy ra tại một bữa tiệc sinh nhật ở thị trấn Dadeville, bang Alabama.

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2023

Việt Nam không chọn bên mà chọn công lý, lẽ phải”

Sáng 15/4/2023, tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken.

Theo thông cáo được Đài truyền hình Việt Nam đăng tải, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá chuyến thăm của Ngoại trưởng Blinken cùng với những tiếp xúc, trao đổi giữa hai nước, đặc biệt là cuộc điện đàm cấp cao “rất thành công” giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden vào ngày 29/3 vừa qua, là những minh chứng sống động cho sự phát triển của quan hệ hai nước.
Thủ tướng khẳng định Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.
“Việt Nam không chọn bên mà chọn công lý, lẽ phải”, - ông Phạm Minh Chính tiếp tục nhấn mạnh với người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Nhân dịp này, Thủ tướng trân trọng gửi lời thăm hỏi đến Tổng thống Joe Biden và các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ.
 - Sputnik Việt Nam, 1920, 11.04.2023
Mỹ mong muốn nâng tầm quan hệ với Việt Nam
Nhằm làm sâu sắc và phát triển hơn nữa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên các nguyên tắc đã được lãnh đạo cấp cao hai bên nhất trí, Thủ tướng đề nghị hai bên tăng cường trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, nhân dịp hai nước kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác toàn diện.
Việt Nam và Mỹ cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, quốc phòng - an ninh, ổn định chuỗi cung ứng, phát triển hạ tầng, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân… và trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị phía Hoa Kỳ tiếp tục mở rộng thị trường, hạn chế các biện pháp áp thuế chống bán phá giá và các biện pháp không cần thiết khác đối với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam - điều tác động trực tiếp đến việc làm và sinh kế của người dân.
Ông Chính cũng đề nghị Hoa Kỳ dành thêm nguồn lực và ngân sách hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ.
     NTTst.

CHỦ TỊCH NƯỚC YÊU CẦU ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI "CẦM CÂN, NẢY MỰC"

Sáng ngày 27/3/2023 tại Hà Nội, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Tòa án Nhân dân tối cao. Tại buổi làm việc Chủ tịch nước yêu cầu mỗi phán quyết, quyết định của Tòa án liên quan đến sinh mạng chính trị, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, vì thế không được để xảy ra oan, sai; phải góp phần giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, tạo môi trường xã hội, môi trường sản xuất, kinh doanh lành mạnh, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ chế độ. Mỗi vụ án, vụ việc đưa ra xét xử không chỉ xử lý nghiêm theo đúng pháp luật mà còn phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Đảng, giá trị đạo đức nhân văn của dân tộc Việt Nam ta./. LVK ST

ĐỪNG HỎI VÌ SAO?


Đừng hỏi vì sao đất nước này

Ngày đêm khói lửa vẫn hăng say

Tóc tang lòng vẫn không cay đắng

Gánh nặng đường xa chẳng chuyển lay?

Có lẽ nghìn năm đã dạn dày

Anh hùng xưa để giống hôm nay

Khổ đau nhiều mới yêu thương lắm

Quen vượt trùng dương lái vững tay.

Thù bạn đời nay có khác xưa

Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?

Chợ trời thật giả đâu chân lý?

Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu

Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù:

“Mỹ hại trăm nhà, lo diệt trước

Rắn, mình em chịu, có sao đâu!”.

Chân lý, mặt trời soi sáng mãi

Lỗi lầm âu cũng bóng mây qua

Lương tâm đều vẫn trong như ngọc

Tình nghĩa anh em lại một nhà./.

Tác giả:  Tố Hữu, 2/1967.

Những cái nhìn sai lệch về ngày 30-4-1975

 

Cách đây 48 năm, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày 30-4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam, được đặt tên là Ngày Chiến thắng, hoặc Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Gần nửa thế kỷ qua, ngày 30-4 đã trở thành ngày hội thống nhất non sông gấm vóc, ngày tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng với các thế lực thù địch và  một số đối tượng cơ hội chính trị thì ngày 30-4 lại là ngày “hằn học”, ngày “bực tức”, ngày “thù hận”. Đã thành thông lệ từ nhiều năm nay, cứ gần đến ngày lễ Chiến thắng, một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, xuyên tạc lịch sử về ngày 30-4-1975. Họ gọi cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30-4-1975 là “Ngày quốc hận” và tháng 4-1975 là “Tháng tư đen”…

Năm nay, vẫn “trung thành” với các âm mưu thâm độc, nhưng các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội chính trị có vẻ “đổi mới” hơn về phương thức chống phá, chúng lợi dụng mạng xã hội, mạng Internet để đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc sự thật lịch sử, “vẽ” ra viễn cảnh “nếu không có ngày 30-4-1975”… Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn xúi giục những người trẻ tuổi ở Việt Nam đấu tranh “đòi tự do dân chủ” theo viễn tưởng phương Tây, từ đó làm giảm niềm tin vào chế độ, đòi “đa nguyên, đa đảng”…

Có lẽ chúng không biết hoặc cố tính không muốn biết sự thật lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5-1954),  thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genevơ. Theo nội dung Hiệp định, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy lẽ ra đã được xóa bỏ, hai miền Nam-Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau hai năm bằng một cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu vào tháng 7-1956. Thế nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá đi cơ hội thống nhất non sông lúc ấy. Chính quyền Ngô Đình Diệm-tay sai của đế quốc Mỹ biết không thể có cơ hội chiến thắng một cách đàng hoàng, hợp pháp qua cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước trước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lòng dân. Vì thế, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã giành quyền thống trị miền Nam bằng vũ lực, súng đạn, máy chém, sát hại dã man hàng vạn đồng bào, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã thi hành ở Việt Nam chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Khi nhận thấy Ngô Đình Diệm không còn phù hợp với chính sách của mình, Mỹ lập tức dàn xếp một cuộc đảo chính, tiêu diệt cả hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, dựng lên tại miền Nam Việt Nam một chính thể khác phục vụ trung thành hơn cho lợi ích của Mỹ tại Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam. Kể cả khi Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến, hay sau khi quân Mỹ phải rút phần lớn lực lượng khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris vào năm 1973 thì bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không thay đổi. Tại Việt Nam từ năm 1954 đến 1975, thực chất chỉ có một Nhà nước chính danh của dân tộc Việt Nam tồn tại, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được khai sinh ngày 2-9-1945 sau cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Bộ máy quản lý Nhà nước đó đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu chọn. Các đại biểu Quốc hội khóa I được cử tri cả nước tín nhiệm bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Còn cái gọi là “Chính phủ Việt Nam cộng hòa” không phải là một chính quyền hợp pháp, hợp đạo lý, hợp lòng dân mà chỉ là tay sai cho đế quốc Mỹ.

Đến đầu năm 1973, sau khi thua đau trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ cố vấn hùng hậu, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền “Việt Nam cộng hòa” thành con rối trong tay Mỹ. Như thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta không phải là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mà đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ và đánh đổ bè lũ tay sai của Mỹ, kết thúc thắng lợi bằng Chiến thắng 30-4-1975.

Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Nếu không có Chiến thắng 30-4-1975, chúng ta không thể có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 50 năm qua./.