Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.  Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo cua Đảng, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 35 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.

Theo quan điểm của Đảng, để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn chưa cao. Một số nguy cơ vẫn tồn tại đan xen. Xây dựng XHCN là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập, tạo ra những điều kiện, những tiền đề của CNXH, đồng thời tránh nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể. Điều này phù hợp với nhận định của C.Mác: "sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau... chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy". Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Do vậy, trong chủ nghĩa tư bản và trong CNXH đều tồn tại kinh tế thị trường, nhưng có những đặc trưng khác nhau. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, là nền kinh tế thị trường phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.

Sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay; là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu văn minh nhân loại, nhằm phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao đời sống nhân dân... Đồng thời, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường gây ra.

Nói kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế nước ta không phải là nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; cũng không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN. Bởi vì Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của CNXH, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Cần hiểu rõ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang tính chất chung của nền kinh tế thị trường, vừa có tính chất đặc thù vì nó hoạt động trong khuôn khổ của những nguyên tắc và bản chất của CNXH.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Khẳng định định hướng XHCN là một tất yếu, là sự lựa chọn phù hợp với nội dung của thời đại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Định hướng XHCN ở nước ta là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với XHCN thể hiện trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện vọng mong muốn của nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, văn hóa, xã hội. Bởi vậy, trong thời gian tới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường ở nước ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

1 - Xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là điều kiện chính trị tiên quyết bảo đảm có một Nhà nước đủ mạnh, trong sạch để quản lý toàn bộ quá trình phát triển kinh tế thực hiện theo định hướng XHCN. Vì vậy, cần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, chống lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích riêng, cục bộ. Cần xây dựng Đảng thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cần tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất. Chú trọng xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. không ngừng đào tạo, rèn luyện và kết nạp được những quần chúng ưu tú vào hàng ngũ của Đảng.

2- Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó xây dựng kinh tế nhà nước vững mạnh đủ sức nắm giữ vai trò chủ đạo, cùng với nó là kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời phát huy cao nhất sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế khác hoạt động lâu dài trong khuôn khổ của pháp luật tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

3- Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đây là yếu tố quan trọng bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế. Do vậy, Nhà nước cần tập trung làm tốt  chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường; tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống an sinh xã hội; bảo đảm tính tích cực và bền vững của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.

4- Tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân.

Đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trở thành một nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn dân ta. Do vậy, vấn đề này cần phải được nhìn nhận thẳng thắn, trực diện và thực hiện một chiến lược triệt để phòng, chống tham nhũng một cách thật sự hiệu quả với sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân và các thành phần kinh tế. Trước hết là đổi mới, hoàn thiện thể chế và chính sách, giảm bớt và loại bỏ những kẽ hở; đồng thời luôn luôn giáo dục con người ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai đối với những cán bộ, công chức tham nhũng.

5- Thực hiện sự thống nhất, gắn bó hữu cơ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển ở tất cả các giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt vấn đề phân phối, đặc biệt chú trọng quản lý thật tốt thu nhập cá nhân từ đó xây dựng cơ chế điều tiết phân phối thu nhập, hình thành nên chính sách phân phối hợp lý, bảo đảm tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội.

6 - Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh để giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội. Để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thì lực lượng quốc phòng phải đủ mạnh, phải là công cụ sắc bén để đủ sức mạnh chủ động đập tan mọi âm mưu phá hoại, xâm lược, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong bất cứ tình huống nào, tạo ra môi trường kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, thuận lợi,...cũng là giữ vững định hướng XHCN.


 

GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ ngày đầu thành lập đa xác định bản chất giai cấp công nhân là nguyên lý cơ bản nhất trong học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, là vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng. Đảng ta ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, do đó vấn đề xây dựng Đảng mang bản chất giai cấp công nhân càng trở nên quan trọng. Thực tiễn từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng xây dựng bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng vẻ vang là lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân thực sự là một bài học lớn trong công tác xây dựng Đảng của Đảng ta vẫn được Đại hội XIII tiếp tục khẳng định.

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), kết hợp mở cửa với bên ngoài, cán bộ, đảng viên của Đảng lại được phép làm kinh tế tư nhân, do đó họ hằng ngày, hằng giờ phải chịu sự tác động của những nhân tố tiêu cực, kể cả những hoạt động chống phá Đảng thì vấn đề giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng càng trở nên quan trọng và bức thiết. Đại hội XIII của Đảng xác định “Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, iên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”[1]. Theo đó, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản sau:

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam, được vung đắp và bảo vệ bằng trí tuệ và xương máu của biết bao thế hệ, đa thấm sâu vào máu thịt của những con người Việt Nam từng theo Đảng chiến đấu, hy sinh suốt gần một thế kỷ qua. Mục tiêu đó vừa thiêng liêng, vừa cao cả và không thể có sự lựa chọn nào khác. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước mà chúng ta thực hiện trong 35 năm qua không nhằm mục tiêu nào khác ngoài việc tiếp tục tiến lên theo con đường của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đa lựa chọn. Đồng thời, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là nguồn gốc của sự tồn tại và đổi mới thành công. kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì phải phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh. Bởi dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh của đất nước không thể tách rời tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không thể tách rời xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đó không chỉ là mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội mà còn là nhân tố bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc.

Hai là, kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Đó cũng chính là một nội dung chủ yếu thể hiện bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Để thực hiện điều đó, đối với toàn Đảng mà trước hết là các cấp ủy đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ lý luận phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó phải biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và cơ sở. Có như vậy mới bảo đảm cho lý luận có sức sống trong thực tiễn, khắc phục được khuynh hướng giáo điều, bảo thủ trong cán bộ, đảng viên; thường xuyên coi trọng công tác tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra, đồng thời phải biết kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, tri thức mới của thời đại, nâng cao năng lực trí tuệ, năng lực tư duy lý luận; kiên quyết đấu tranh chống mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, sai trái trong cán bộ, đảng viên. Tiếp tục vận dụng sáng tạo chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Ba là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Đây là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt cơ bản của Đảng, đồng thời là tiêu chí xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, là xóa bỏ tận gốc nguồn sức mạnh của Đảng. Kinh nghiệm các Đảng Cộng sản cho thấy, hễ xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng sẽ trở thành một thứ câu lạc bộ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội, bè phái, vô chính phủ hoạt động, cuối cùng làm tan rã Đảng về mặt tổ chức, đi đến thủ tiêu bản thân Đảng. Trong tình hình hiện nay, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ cần chú ý trên cả hai phương diện là nhận thức đúng và thực hiện tốt. Thực sự coi tập trung là tập trung trí tuệ, tập trung lực lượng, tập trung sức mạnh, tập trung ý chí, tập trung hành động. Nhưng để có được tập trung thì phải đi đôi với dân chủ, tập trung trên cơ sở dân chủ. Thiếu dân chủ, không dân chủ, vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức… thì tập trung chỉ còn lại là tập trung quan liêu. Ngược lại, dân chủ không gắn với tập trung sẽ trở thành dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật, mất kỷ cương. Đại hội XIII của Đảng chỉ ra : “Trong những năm tới  phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[2]. Đây là vấn đề trở nên thực sự cần thiết để giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.

Bốn là, thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng lập trường quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được biểu hiện sinh động, cụ thể, rõ ràng và dễ thấy, nhất là thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hiện nay bên cạnh những mặt tích cực, tiến bộ vẫn đang được giữ vững và phát huy thì một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm đường lối, chính sách của Đảng, giảm sút lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến  chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Vì vậy, quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng là vấn đề trở nên cấp thiết để giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.

Năm là, củng cố mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Sức mạnh của Đảng được bắt nguồn từ nhân dân. Nhờ có cơ sở xã hội sâu rộng trong nhân dân mà Đảng ta được nuôi dưỡng, được bảo vệ và trưởng thành như ngày nay. Liên hệ mật thiết với nhân dân là vấn đề sống còn của Đảng Cộng sản, nếu cắt đứt mối liên hệ này, Đảng không còn cơ sở để tồn tại. V.I.Lênin từng cảnh báo hai nguy cơ lớn nhất đối với một Đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và xa rời quần chúng nhân dân. Đảng Cộng sản muốn thực hiện được mục tiêu lý tưởng của mình thì phải củng cố mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng phải thể hiện được vấn đề đó trong toàn bộ hoạt động của mình.

Sáu là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân; sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Đây là một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi và là một bài học chiến lược của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo kháng chiến, mãi mãi giữ nguyên giá trị. Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đoi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế; tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là nhân tố cơ bản giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.



[1] Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện ĐHĐ toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H.2021, tập 1, tr.180

 

[2] Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện ĐHĐ toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H.2021, tập 1, tr.180

Nhận thức đúng những luận điệu xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch

 

Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong khi chúng đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện những khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng, dao động về tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình trạng nhạt đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản, về chủ nghĩa xã hội, chủ  nghĩa Mác - Lênin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, về thời kỳ quá độ và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... bên cạnh đó, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch như: Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX - thời đại của nền văn minh cơ khí, còn bây giờ, thế kỷ XXI - thời đại của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa; rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương tây nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam... đã tác động đến tư tưởng, nhận thức của một số người.

Những luận điệu đó xét cho cùng là để hậu thuẫn, biện hộ cho những kẻ cơ hội chính trị. Bởi, đứng trên quan điểm khách quan mà xem xét, có thể khẳng định: Một số luận điểm cụ thể của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin ra đời cách đây rất lâu, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua hoặc bị  nhận thức sai lầm nên cần nhận thức lại cho đúng, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần khoa học, cách mạng và biện chứng của nó vẫn giữ nguyên giá trị. Họ không thấy được rằng, hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên là không thay đổi, vẫn luôn có giá trị bền vững, lâu dài. Họ cũng không thấy hoặc cố tình không thấy rằng trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn có sự phát triển về tư duy lý luận, luôn khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều, chủ quan, nóng vội hoặc duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội, phân biệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điểm cụ thể của các ông gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể lúc đó mà sau này đã bị lịch sử vượt qua. Họ cũng không thấy rằng, thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới ở Việt Nam trên một loạt vấn đề. Chẳng hạn như: vấn đề mục tiêu và đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về phát triển con người, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế... Không có sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được qua hơn 30 năm đổi mới.

Trong số những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ có các thế lực thù địch, cơ hội chính trị mà có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về ý thức hệ, về niềm tin, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Có người đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng (chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh), chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc, bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã hiểu không đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, quy chụp và áp đặt chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thiên về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, bạo lực trấn áp. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đem đối lập một cách giả tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với dân tộc (họ nói: “cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì phản bội dân tộc”, hoặc cứ “theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì không bảo vệ được chủ quyền quốc gia”); họ còn đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với sự phát triển của đất nước (họ nói “Đảng coi trọng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không coi trọng sự phát triển”).

Những quan niệm này hoàn toàn không hiểu hoặc cố tình phủ nhận rằng, trước đây chỉ khi tìm đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng giai cấp lao động và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, nhờ đó mới có thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường phát triển đất nước. Vì vậy, nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng để có cơ sở lý luận khoa học đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

ĐA ĐẢNG ĐÂU PHẢI LÀ DÂN CHỦ

 

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ: Dân chủ với tư cách một hình thức tổ chức thiết chế chính trị, một hình thức hay hình thái nhà nước, nó là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với nhà nước và mất đi khi nhà nước tiêu vong. Song, dân chủ với tư cách một giá trị xã hội, nó là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn và phát triển của con người, của xã hội loài người. Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội loài người, dân chủ luôn vận động, biến đổi và có sự khác biệt về chất tương ứng với từng thời kỳ lịch sử. Với tính cách là giá trị xã hội, những giá trị phổ quát của dân chủ, dù dưới bất cứ hình thức nào, đều có thật, không ai có thể phủ nhận Tuy nhiên, để đánh giá một nền dân chủ, phải căn cứ trước hết vào chỗ quyền lực thuộc về ai, lợi ích là của ai và vì ai. Đánh giá một đảng chính trị cũng không thể chỉ căn cứ vào tên gọi, mà trước hết phải xem họ thật sự đại diện cho loại quyền lực nào, tranh đấu vì lợi ích của ai.

Dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng. Cả về lý luận và thực tiễn cho thấy, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc trước hết và chủ yếu vào bản chất của đảng cầm quyền. Cần phải lưu ý rằng, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền. Ngay cả trường hợp liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách của quốc gia đó. Trên thế giới, ở một số quốc gia (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng từ trước đến nay chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Khi mà cả hai đảng này đều đại diện cho giai cấp tư sản, thì nền dân chủ của nó, tất yếu phải hướng đến phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, chứ không thể là một “nền dân chủ cho tất cả mọi người” như họ đã và đang rêu rao, ca tụng. Hơn nữa, cái gọi là “nền dân chủ Mỹ” thực chất là nền dân chủ của giới nhà giàu. Sự dối trá của cái gọi là “nền dân chủ cho tất cả mọi người” đã bị chính các cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vạch trần, mà tiêu biểu gần đây nhất là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ lần thứ 46. Tự chúng đã bộc lộ ra cho ta thấy, đó là sau lưng những ứng viên cho chiếc ghế lãnh đạo luôn là những tập đoàn tài phiệt với những cuộc vận động tranh cử tiêu tốn hàng tỷ đô la Mỹ. Thêm vào đó, trên thực tiễn những gì đã và đang diễn ra ở Mỹ như tình trạng bạo lực, xả súng, nạn phân biệt chủng tộc… và nhất là những “giá trị dân chủ” đi kèm với bom đạn, chết chóc mà Mỹ đang reo rắc ở Trung Đông, Sirya… vẫn luôn là tiếng chuông cảnh tình cho những ai còn mơ hồ.

Ở Việt Nam, sự ra đời và vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, không thể thay thế. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: kinh tế không ngừng phát triển, đời sống chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững. Đặc biệt là chế độ dân chủ được đề cao, được bảo đảm và ngày càng được thực hành rộng rãi hơn, thực chất hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của đông đảo nhân dân được tôn trọng và bảo vệ, nhân dân Việt Nam đã trở thành người chủ thực sự của đất nước. Thực tiễn bảo đảm và phát huy dân chủ ở Việt Nam là minh chứng rõ nét, khẳng định trong chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền, dân chủ xã hội Việt Nam không những không bị mất đi, mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trên thực tế. Tất cả những điều này đã một lần nữa được minh chứng qua thực tiễn như cách mà Đảng, nhà nước ta ứng phó với đại dịch Covid 19, với thiên tai bão lũ…

Cho nên, những luận điệu lợi dụng cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ để hòng lèo lái, xuyên tạc về dân chủ ở Việt Nam, chính là luận điệu của những kẻ phản động, thù địch, ngoài miệng rêu rao đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do” của nhân dân nhưng thực chất là vì chính bản thân lợi ích cá nhân và đồng bọn của chúng, chứ không phải vì dân, vì nước.

NHÌN LẠI BỨC TRANH KINH TẾ VIỆT NAM ĐỂ PHẢN BÁC MỌI SỰ BÔI ĐEN VỀ KINH TẾ VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

 

Theo Tổng cục Thống kê những năm qua GDP của Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Đây là niềm vui lớn của nhân dân trong nước và sự ghi nhận, đánh giá cao của bạn bè quốc tế. Vậy mà các thế lực thù địch lại tỏ ra hậm hực, tức tối cho rằng Việt Nam đã khuyếch trương, tô hồng bức tranh kinh tế của đất nước, nhằm bác bỏ những nỗ lực của Đảng, nhà nước và nhân dân ta. Tuy nhiên thực tiễn vẫn là thực tiễn mà bọn chúng không thể nào đổi trắng thay đen được.

Thứ nhất, những năm qua Việt Nam đã vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức được quốc tế đánh giá cao:

Những năm qua nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Ngay từ đầu năm 2020 đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng ra hầu hết các nước trên thế giới, diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường khiến kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề. Thương mại thế giới sụt giảm nghiêm trọng; thị trường tài chính biến động bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong nước dịch tả lợn châu Phi, thiên tai, hạn hán, bão lũ, sạt lở đất… liên tiếp xảy ra, nhất là trong những tháng cuối năm ở miền Trung làm cho nền kinh tế Việt Nam khó khăn chồng chất khó khăn. Trong bối cảnh cực kỳ phức tạp đó, với quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá cao, là điểm sáng về phòng, chống dịch bệnh Covid 19 và phát triển kinh tế – xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục thực hiện hiệu quả các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế bằng nhiều hình thức linh hoạt, phù hợp với bối cảnh đại dịch Covid -19.

Quỹ Tiền tệ quốc tế, tháng 10 – 2020 đã đánh giá: trong năm 2020, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 4 khu vực Đông Nam Á, vượt Singapore và Malaysia. Trong đó, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt 12.100USD năm 2020 và tăng lên 16.100USD vào năm 2025 (tính theo phương pháp PPP).

Tạp chí The Economist (Anh) đã bình luận Việt Nam là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất trong năm 2020. Còn kênh truyền hình BBC của Anh đánh giá mức tăng trưởng của kinh tế Việt Nam cao hơn so với đánh giá của Quỹ Tiền tệ quốc tế hồi tháng 10 - 2020.

Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới ngày 21-12-2020 đã đánh giá: Việt Nam tăng trưởng gần 3% năm 2020 trong khi kinh tế thế giới suy giảm là 4%; Việt Nam có kết quả như trên là nhờ khả năng chống chịu của cả khu vực kinh tế trong nước và kinh tế đối ngoại; Việt Nam đã kiềm chế được đại dịch bằng những biện pháp sớm, quyết liệt và sáng tạo, sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ kịp thời để tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân và thúc đẩy phục hồi. Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam kết hợp với xuất khẩu hàng hóa tăng mạnh đã bù đắp cho thất thu về ngoại tệ do hoạt động du lịch suy giảm và nguồn kiều hối bị thu hẹp.

Giáo sư Vladimir Mazyrin, lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN của Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đánh giá Việt Nam trong năm 2020 là một “thành công kinh tế phi thường”.

Thứ hai, Việt Nam nổi lên là một điểm sáng trong bức tranh toàn cầu:   

Nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nước và hãng thông tấn báo chí có uy tín trên thế giới đã coi Việt Nam là hình mẫu về cách thức kiểm soát dịch bệnh đạt hiệu quả cao nhất với mức chi phí tối thiểu, là tấm gương và thể hiện trách nhiệm, uy tín cao về hợp tác quốc tế trong phòng chống dịch bệnh. Đại sứ EU tại Việt Nam đã phát biểu “… Ở lại Việt Nam thời dịch là một may mắn”. Chính sự thành công trong phòng chống dịch Covid-19 đã tạo điều kiện cho phục hồi và phát triển kinh tế của Việt Nam.

Dự báo về tốc độ tăng trưởng trong năm 2021, HSBC- một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất trên thế giới có trụ sở chính tại Anh cho rằng, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phục hồi do công nghệ dẫn đầu, dòng vốn FDI bền bỉ và nhiều hiệp định thương mại được ký kết. HSBC tin tưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7,6% trong năm 2021. Còn IMF dự báo hoạt động kinh tế của Việt Nam sẽ phục hồi mạnh trong năm 2021, đạt sự ổn định vĩ mô về mọi mặt, từ tăng trưởng, thâm hụt tài khoản vãng lai đến việc làm. IMF khẳng định nền kinh tế Việt Nam đủ đa dạng để chống đỡ sự suy giảm kinh tế do dịch Covid-19 gây ra và đạt tăng trưởng tích cực.

Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh (CEBR) ở Anh mới đây công bố báo cáo thường niên về 193 nền kinh tế, trong đó dự báo kinh tế Việt Nam sẽ vươn lên vị trí thứ 19 thế giới vào năm 2035. Cụ thể, CEBR dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng trung bình 7% trong giai đoạn 2021-2025, 6,6% trong 10 năm tiếp theo, đến năm 2035 sẽ vượt qua Đài Loan (Trung Quốc) và Thái Lan. Trong tuần làm việc đầu tiên của năm mới 2021, cả nước đã có 18.000 hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được xử lý, với 2.100 doanh nghiệp thành lập, tăng 46% so với năm ngoái. Thông tin này một lần nữa khẳng định điểm sáng Việt Nam trên bức tranh kinh tế toàn cầu.

Dù bạn bè quốc tế đã có nhiều lời ca ngợi, đánh giá cao, nhưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tuyệt đối không được chủ quan, thỏa mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2020. Cần phải chủ động, tích cực quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện thật tốt, ngay từ đầu năm 2021 Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ bằng những chương trình, kế hoạch công tác cụ thể, phù hợp với thực tế, có tính khả thi cao, với tinh thần chung là phải chủ động, tích cực hơn, năng động, sáng tạo hơn, đạt được kết quả tổng thể cao hơn các năm trước và nhiệm kỳ trước.

Thủ đoạn xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, trong đó có việc bôi đen bức tranh kinh tế ở Việt Nam tuy không có gì là mới. Nhưng mục tiêu sâu xa của chúng là phủ thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta dày công xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng; phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Những luận điểm này tuy không có ý nghĩa gì về tri thức, lý luận, nhưng chúng ta không được xem nhẹ, mất cảnh giác, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phê phán. Biện pháp phản bác hữu hiệu nhất là mỗi người hãy nỗ lực lao động, sản xuất, học tập, công tác góp phần xây dựng đất nước ổn định, kinh tế phát triển, đời sống người dân không ngừng được nâng lên. Đồng thời, nêu cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ ưu việt của chúng ta./.

                                                   

VAI TRÒ CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA

Tròn 35 năm kể từ khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện đất nước, Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp với thu nhập bình quân đầu người đạt 2.750 USD trong năm 2020 (mặc dù năm 2020 dịch bệnh, kinh tế cả thế giới đều bị ảnh hưởng nhưng Việt nam vẫn tăng trưởng dương). Những thành tựu về kinh tế đã làm thay đổi căn bản đời sống xã hội, mang lại diện mạo hoàn toàn mới cho đất nước ta, được nhân dân trong, ngoài nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Kết quả to lớn đó là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi, sự chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nổi lên gần đây nhất là trong năm 2020 và đầu năm 2021 Việt Nam đã làm rất tốt công tác phòng chống dịch Covid-19, được cả thế giới ghi nhận, là nước đứng thứ 2 trên thế giới về phòng chống dịch Covid-19.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay. Từ một nước nhược tiểu, nghèo đói, ngày nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao, nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao”.

Cơ đồ, vai trò và vị thế của Đất nước như vậy là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thế mà hiện nay nhiều thế lực thù địch lợi dụng các trang mạng xã hội rêu rao, nói xấu, xuyên tạc sự vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình thực tiễn đất nước của Đảng ta; phủ nhận kết quả Đại hội Đảng lần thứ XIII; phản đối chế độ một đảng ở Việt Nam; tô hồng chế độ tư bản chủ nghĩa; kêu gọi “thay đổi” con đường phát triển đất nước… Tất cả đều là những chiêu bài đã cũ rích, những luận điệu thối nát, trò “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu tư tưởng vĩ đại của con người, do C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng tại Đức vào khoảng đầu thế kỷ XIX; được V.I. Lênin kế tục, bảo vệ và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tại Nga. Đây là học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn duy nhất đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người cũng như chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mục tiêu đó. Mác đã luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, về khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và chỉ ra con đường đấu tranh cách mạng để giành chính quyền về tay nhân dân... Lênin đã bổ sung, phát triển lý luận của Mác - Ăngghen để hình thành nên Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Kế thừa những thành tựu lý luận vĩ đại của Mác, Ăngghen và Lênin, trên cơ sở tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc cùng tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Người đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn trên khắp các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại. Hồ Chí Minh đã sáng tạo phương pháp cách mạng, chỉ ra lực lượng cách mạng và xây dựng các tổ chức cách mạng khoa học, triệt để trên tinh thần “Nước lấy dân làm gốc” và phát huy sức mạnh tổng hợp, của bạo lực chính trị với bạo lực vũ trang, của truyền thống và hiện đại, của dân tộc với quốc tế...

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã liên tiếp giành thắng lợi vẻ vang trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Đảng đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng và khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Văn kiện Đại hội XII yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải: Kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là lời khẳng định giá trị vững bền và ý nghĩa to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, công cuộc đổi mới ở nước ta thực chất là sự kế thừa và phát triển sáng tạo bản chất tư tưởng cách mạng và khoa học của Mác, Lênin và Hồ Chí Minh vào thực tiễn. Nhờ có đổi mới, kinh tế phát triển năng động với mức tăng trưởng khá; môi trường chính trị, văn hóa, xã hội ổn định và phát triển; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng… đó là những minh chứng sinh động, khẳng định kiên định và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam./.

  

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) luôn cần được bổ sung để hoàn thiện, và luôn phải tiếp tục bổ sung, bởi lý luận soi sáng thực tiễn nhưng mọi lý luận đều phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không sẽ trở thành giáo điều, lạc hậu.

Sau sự kiện phá dỡ Bức tường Berlin với tính chất của một biểu tượng, rồi sự sụp đổ của Liên Xô - nhiều người đã cho rằng đó là sự sụp đổ của lý tưởng XHCN - thế giới dường như lại hướng tới những giá trị của chủ nghĩa tư bản (CNTB) mà có vẻ không có sự thay thế khả dĩ nào khác. Chúng ta chưa đi đến cuối lịch sử loài người, nhưng CNTB dường như đã trở thành điều cuối cùng ở lại. CNXH và những người cánh tả dường như vẫn đang bị sốc, ám ảnh nên chưa sẵn sàng giương cao trở lại ngọn cờ của mình. Kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế TBCN hiện diện ở nhiều nước XHCN khiến nhiều người cảm thấy CNTB đã giành chiến thắng.

Tuy nhiên, cái gọi là toàn cầu hoá của CNTB đã không mang lại sự hoàn thiện cho một mô hình xã hội mơ ước. Nếu coi hiện thực trên thế giới ngày nay là thành công thì chúng ta đã rất sai, với kết quả thật thảm hại: với tất cả sự giàu có tích lũy, thì nạn đói vẫn tiếp tục là yếu tố tử vong chính trong dân số hành tinh này. Để 15% nhân loại được sống một cách thoải mái theo ý thích của họ, 85% còn lại phải chịu đựng những khó khăn cùng cực: nghèo đói, bệnh tật, thiếu hiểu biết, thiếu các dịch vụ tối thiểu, chiến tranh và bạo lực với các biểu hiện khác nhau ở mọi nơi (phân biệt chủng tộc, gia trưởng, định kiến). Vậy đâu là thành công của hệ thống TBCN?

Ngược dòng lịch sử, thì những bê bối của Vatican với Toà án dị giáo và “7 núi tội của Kito với nhân loại” đã không khiến các Kitô hữu từ bỏ các giáo lý trong tôn giáo của họ. So sánh dù khập khiễng, nhưng như vậy thì sự thất bại của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô cũng không thể gây ra sự từ bỏ lý tưởng XHCN khỏi chân trời lịch sử của loài người. Cho rằng chủ nghĩa xã hội thất bại là một quan niệm rất sai lầm, trong mọi trường hợp, bởi đó là thất bại của một mô hình chứ không phải của bản thân CNXH, nó đã không tiến triển được như kỳ vọng, nhưng rõ ràng ở tất cả những nơi CNXH từng tồn tại, nó đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn là những kết quả mà hệ thống TBCN đạt được. Trong XHCN không có ai chết vì đói, không có người mù chữ, không ai không có nhà ở và không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các nước XHCN không bao giờ là người phát động các cuộc chiến tranh, đảo chính hay can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy hiện tại CNXH chưa có nhiều thành tựu ở mức độ lý tưởng, nhưng giá trị tư tưởng mà CNXH mang lại vẫn là nền tảng cho hoà bình của nhân loại, trong khi đó mọi diễn văn hùng biện về chiến thắng của CNTB vẫn tự mâu thuẫn với chính nó, bởi ngoài chủ nghĩa tiêu dùng tham lam, các nhóm người quay cuồng trong cuộc sống văn hoá nghèo nàn và rẻ mạt với những giá trị cá nhân chủ nghĩa được đề cao thì nó chẳng có gì khác cả!

Bởi vậy, ngay trong thời điểm cam go của cuộc chiến ai thắng ai này, hãy tiếp tục là một người XHCN, tiếp tục nắm lấy hệ tư tưởng XHCH, để hy vọng và đấu tranh cho một thế giới có nhiều công lý hơn, không phải là những đức tin mơ hồ, niềm tin giáo điều, mù quáng, không có kết quả. Tôn giáo có thể tập hợp được một số người bởi những ảo ảnh thuần túy trong niềm tin chủ quan, mê hoặc, phi logic chỉ vì những cảm nhận cá nhân, như các nhà thần học từ thời trung cổ đã nói, rằng “đức tin không cần phải được chứng minh”!!! Là một người XHCN, thì cùng với phân tích khoa học, bạn cũng sẽ tự hình thành một niềm tin cho bản thân.

Tuy nhiên, để có được một niềm tin vững chắc vào lý tưởng XHCN thì chúng ta cần những điều lớn hơn như vậy rất nhiều, trở thành một người XHCN là một quyết định quan trọng, một quyết định mà ngay cả cuộc sống của bản thân cũng có thể phải hy sinh, nhưng chính điều đó sẽ nuôi dưỡng cho chúng ta một nhân cách cao cả, một nền tảng đạo đức vững chắc, và tư duy khoa học sâu sắc.

Ai tạo ra của cải cho xã hội? Đó chính là giai cấp công nhân và những người vô sản, không thể nghi ngờ điều đó. Nhưng đại đa số của cải lại bị chiếm đoạt bởi tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất (các chủ ngân hàng tue nhân, các nhà tài phiệt công nghiệp, các địa chủ), đó cũng là một sự thật không thể bác bỏ, điều đó không phải là lý thuyết hay chỉ là vấn đề thuộc về niềm tin. Bởi vậy, lựa chọn con đường CNXH là để giải quyết các vấn đề với một chiều sâu khoa học (chủ nghĩa duy vật lịch sử) trong khi vẫn tự bổ sung thêm khả năng nhạy cảm xã hội, quan tâm và tôn trọng phẩm giá con người, niềm tin vững chắc vào công lý, trong đó điều quan trọng nhất đối với một con người đúng nghĩa là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, ước mơ của cách mạng Pháp mà ngay từ tác phẩm “Ba người lính ngự lâm” đã đề cập đến một cách rất đẹp đẽ.

Tiếp tục lựa chọn con đường CNXH không chỉ là trách nhiệm hay chỉ vì tình cảm tốt đẹp đơn thuần, mà phải trở thành một tình yêu vô điều kiện, trong khi tình yêu đơn thuần dành cho tình yêu không thể tồn tại một cách vô điều kiện. Bởi tình yêu đối với CNXH là cả một nền văn hoá, chúng ta phải tạo ra một nền văn hóa dựa trên các giá trị của nó, đó mới chính là CNXH, để có được CNXH!

Ngay cả khi chúng ta không thể yêu tất cả những người khác một cách vô điều kiện, thì chúng ta vẫn có thể dành cho CNXH tình yêu vô điều kiện và tôn trọng điều đó. Bởi bất công, dưới bất kỳ hình thức nào của nó (bóc lột kinh tế, phụ thuộc giới tính, phân biệt sắc tộc) đều là những biểu hiện thiếu tôn trọng mà CNXH luôn đấu tranh để loại bỏ.

Những người lựa chọn CNTB để chống lại CNXH, là những người mong muốn một xã hội bất công dựa trên sự bóc lột mà họ là những người có quyền bóc lột, áp bức các tầng lớp khác. Lịch sử đã cho thấy mong muốn đó chỉ có thể đưa nhân loại đến những cuộc tàn sát đồng loại. Ham muốn quyền lực, tìm kiếm quyền lực tối cao - cám dỗ đó là yếu tố tự phát của bản năng tự nhiên, là phần con trong mỗi con người chúng ta, bản năng đó chưa bao giờ cung cấp cho con người một lối thoát hay sự giải phóng thật sự. Ham muốn đó chỉ có thể dẫn chúng ta đến chỗ quay cuồng với giá trị của những chiếc siêu xe, những smartphone thời thượng, những chai rượu đắt tiền hoặc trở thành những “ngôi sao, thần tượng” nhạt nhẽo, tầm thường.

Chỉ có những hành động mang tính cách mạng của CNXH nhằm cải tạo phần bản năng đó, thay đổi thế giới đó, thực trạng đó, ý thức đó mới có thể thực sự giải phóng con người. Nghĩa là, nếu bạn muốn trở thành một con người XHCN, nhiều khi bạn sẽ phải đi ngược lại dòng chảy thông thường theo bản năng vốn có của xã hội loài người chúng ta.

Chủ nghĩa tư bản, hình thái xã hội chỉ dựa trên lợi ích cá nhân, quên đi mọi sự tôn trọng của con người dành cho con người và thế giới tự nhiên. Với động cơ cuối cùng của cuộc sống chỉ là "lợi nhuận", đem đến một cuộc sống nghèo nàn về giá trị đích thực của con người, nên CNTB chính là một quả bom hẹn giờ có thể dẫn tới sự tự huỷ diệt của loài người. Nhân danh những giá trị của nó, CNTB sẵn sàng hy sinh tất cả chỉ để tìm kiếm lợi nhuận, từ việc gây ra các thảm họa môi trường đến việc diệt chủng, thậm chí tự huỷ diệt chính nó. Mâu thuẫn tự thân được tạo ra trong CNTB quá sâu đến mức nó không thể quay trở lại và không thể tự điều chỉnh, tự quản lý được. tất cả góp phần tạo ra một quả bom hẹn giờ sẽ phát nổ ở đâu đó. Thậm chí tệ hơn, nhân danh việc bảo vệ lợi ích của một số ít người, những cuộc chiến tranh chết chóc tạo ra nguy cơ rất cao đối với cả hành tinh chúng ta. Nếu tất cả năng lượng hạt nhân chứa trong các vũ khí nguyên tử có sẵn hiện nay được kích hoạt, sẽ có một vụ nổ hoành tráng có thể phá huỷ cả Hệ mặt trời..

Những vũ khí hoành tráng đó không hề giúp ngăn chặn được việc sau mỗi 7 giây lại có 1 người chết vì đói trên thế giới này, nghèo đói và chiến tranh là nguyên nhân chính gây ra cái chết của loài người chúng ta. Buồn vì điều đó chăng? Đừng, vì chúng ta không xứng đáng được buồn khi chưa hiểu rằng nghèo khó và chiến tranh đều không do ai khác ngoài CNTB gây ra. CNXH đã không bao giờ bắt đầu một cuộc chiến diệt chủng vì lợi nhuận cho một nhóm người, còn CNTB đã gây ra cái chết của bao nhiêu con người?

Chúng ta có thể nhìn thấy trong nhiều trường hợp, các mô hình thí điểm XHCN vẫn còn rất nhiều lỗi lầm: tả khuynh và hữu khuynh, sự lạm dụng quyền lực, thiếu cởi mở, gia đình trị, điều hành kém hiệu quả, quan liêu, sùng bái cá nhân, cùng vô số những lúng túng trong sự tìm tòi một con đường phù hợp. Cánh tả thế giới hiện nay bàn luận khá nhiều về điều này trong tự phê bình với những bài học kinh nghiệm này. Cánh hữu thì dựa vào đó để thổi phồng, cho rằng CNXH đã hoàn toàn thất bại. Nhưng sự thật về bóc lột, bất công, cướp đoạt, chủ nghĩa tiêu dùng tham lam vô độ của CNTB vẫn hiển hiện thì sao?

Mặt khác, sự lạm dụng quyền lực không phải là một “phát minh” của CNXH, mà nó là bản năng thú tính còn sót lại của con người, ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Trong chế độ XHCN thì đó là biểu hiện suy thoái, tiến hoá ngược của những ai thiếu rèn luyện, bị cám dỗ bởi quyền lực, bị tư sản hoá mà xa rời giai cấp mình đại diện, chứ nó không phải là bản chất của CNXH mà nhân loại hướng đến. Bởi vậy, CNXH và CNCS vẫn là lối thoát duy nhất, là hy vọng cuối cùng cho loài người ở cuối con đường, khi nó tự khắc phục được những điểm yếu và lỗi lầm của nó. Trong khi đó, “lối thoát” của CNTB có gì khác hơn là những cuộc chiến tranh? Cho đến nay, ngành công nghiệp có lợi nhuận cao nhất của CNTB vẫn là sản xuất vũ khí, ngành công nghiệp chết chóc. Đó có phải là thành công?

Các mô hình xã hội dựa trên sự bóc lột của giai cấp tư hữu không thể đem đến sự giải phóng con người, và do đó chắc chắn không thể đem lại sự công bằng giữa những con người với nhau. Với chân trời XHCN, chúng ta hiểu biết về chính những điều chưa hoàn hảo của CNXH và những sai lầm mà con người mắc phải, để chúng ta đối mặt với những điều đó, ít nhất cũng là với hy vọng đem lại chân lý, vượt qua sự nghèo nàn rẻ rúng của chủ nghĩa cá nhân.

Cuộc sống của chúng ta sẽ là rất không xứng đáng nếu nó chỉ được đo bằng số tiền chúng ta có trong ngân hàng, bằng chiếc xe chúng ta sử dụng hoặc bằng quần áo chúng ta mặc. Bởi ngay cả khi không có lý do để hy vọng, chúng ta vẫn luôn có lý do cho phẩm giá của mình, và giá trị cao nhất của CNXH, chính là phẩm giá con người.

Nhưng, điều gì đã xảy ra trong xã hội loài người chúng ta sau nhiều thế kỷ tiến hoá khỏi sự u mê lạc hậu? CNTB được hình thành từ trong đêm dài trung cổ tối tăm, đem lại những tiến bộ nhất định, và CNXH được xây dựng lên trong lòng CNTB để mở ra một bình minh mới, rực rỡ hơn. Vậy nhưng bây giờ nó đang khủng hoảng, có một sự thụt lùi đáng lo ngại trong việc thực hiện lý tưởng đấu tranh vì tự do cho con người, để rồi CNTB hiện đại với những điều chỉnh nhất định bằng cách vận dụng chính các giá trị của CNXH lại có thể hả hê trước sự thoái trào của CNXH.

Cuộc chiến đấu cho một thế giới tiến bộ hơn, công bằng hơn trong hơn hai trăm năm qua, từ giữa thế kỷ thứ mười tám với các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đến nay, dường như đã bị dập tắt. Các phong trào tranh đấu vì hoà bình, vì quyền của người lao động đã trở nên rời rạc, yếu ớt, thậm chí lặng lẽ biến mất trong cuộc sống của quần chúng nhân dân. Tư tưởng XHCN về cách mạng cải biến thế giới được hưởng ứng mạnh mẽ cách đây nửa thế kỷ, truyền cảm hứng cho các cuộc đấu tranh anh hùng ở tất cả các nơi trên thế giới, hiện đang có một sự thoái trào đáng xấu hổ. Nó không bị dập tắt, nhưng chìm khuất trong những mơ hồ giữa phồn hoa giả tạo với sự đói nghèo thực tế.

Có phải chúng ta đang rút lui, đầu hàng? Chắc chắn là không, bởi những điều đã thúc giục, khuyến khích chúng ta: bất công xã hội, mâu thuẫn giai cấp, cùng với tất cả những điều tà ác khác trong đời sống xã hội vẫn đang hiển hiện, chưa được khắc phục và không hề biến mất. Nghĩa là, loài người chưa dập tắt được nguyên nhân của những bạo ngược bất công, nên hậu quả của nó vẫn đang tồn tại. Nói cách khác là: khi sự bóc lột, bất công vẫn còn, thì động lực và mục tiêu đấu tranh vẫn còn. Chỉ có điều rằng, động lực đó đã không còn được khai thác, khi những tiếng thét phẫn nộ của nhân loại bị áp bức bị chìm lấp, bưng bít sau bức màn hào nhoáng giả tạo và sự thao túng của truyền thông do các thế lực tư bản nắm giữ. Nó không biến mất, nhưng nó tắc nghẹn và gần như không được lắng nghe.

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Hệ thống tư bản, với nhiều thế kỷ kinh nghiệm (từ thế kỷ 13, với những tích luỹ sơ khai ở Bắc Âu, cho đến sự bành trướng tài chính và đế quốc toàn cầu hiện nay), đã tích lũy để chiếm hữu hầu hết tài sản của thế giới, với quyền lực gần như tuyệt đối và độc tài nắm giữ kiến thức của nhân loại. Để tự bảo tồn, không sa vào cơn giãy chết, CNTB đã phát triển các công nghệ kiểm soát xã hội một cách tinh vi nhất, vượt lên mọi hình thức thống trị về tư tưởng - văn hoá từng được biết đến trong lịch sử loài người. Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có sức mạnh thâm nhập và thao túng lớn đến mức nó không cho phép có thuốc giải độc. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản đang đầu độc ngay chính bản thân nó bằng những kỹ thuật bẩn thỉu và kinh tởm nhất.

Trong thế giới của tư bản không có chỗ cho đạo đức, cho những day dứt dằn vặt mang tính nhân văn, cho sự thật. Như bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbels đã thẳng thừng tuyên bố: “Một lời nói dối lặp đi lặp lại hàng ngàn lần sẽ biến thành sự thật", và giới tinh hoa tư sản ngày nay đã biến phương châm này trở thành cốt lõi của sự thao túng đa số quần chúng nhân dân. Trong xã hội tư bản, chỉ có lợi nhuận là được coi trọng, nó biến thành một bộ luật bất thành văn, lạnh lùng và không bao giờ khoan nhượng. Để thực hiện điều đó, nó lừa dối trong mọi thông tin: hoạt động tẩy não được biến thành “đời sống tâm linh, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận”, vũ khí giết người được mô tả là “bom thông minh, đạn biết tránh người tốt”, thủ thuật cướp đoạt được gọi là “chiến lược kinh doanh” một cách tinh vi, những tên sát nhân và lạm dụng tình dục được biến thành “thần tượng của giới trẻ”, vv và vv... Mọi điều đều được diễn tả một cách thăng hoa, miễn là có thể biến nhân loại trở thành một “bầy người” có thể dẫn dắt dễ dàng.

Trong khi đó, CNXH với các nguyên tắc nền tảng của mình, không cho phép xã hội đi theo cách đó, mà nó lấy nhân phẩm làm quy tắc trung tâm. Còn với CNTB, điều duy nhất được coi là giá trị chỉ là sự tích lũy tư bản, kể cả việc gây chiến tranh, gian lận tài chính, buôn bán ma tuý và buôn bán người mà có thể đem lại lợi nhuận thì đều được hoan nghênh. CNXH không thể chấp nhận những điều này, nhưng trong cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, CNXH đến nay vẫn chưa giành được chiến thắng, điều này đặt ra một vấn đề đạo đức rất lớn: làm thế nào để CNXH có thể phù hợp để tiếp quản và quản lý sự hoành tráng mà CNTB đã tạo ra? Khi mà những lời nói dối đã trở thành “chân lý”, bởi nhân loại hầu như đã bị trói buộc và tẩy não toàn bộ suốt một quá trình rất dài?

Thế giới ngày nay đã bị ngành công nghiệp văn hóa tư tưởng khổng lồ do tư bản nắm giữ thao túng từng ngày, từng phút, từng giây. Thông điệp ý thức hệ tư sản tràn ngập tất cả mọi thứ: phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, không gian Internet, cuộc sống hàng ngày với sự quản lý của thiểu số cánh hữu mang tư tưởng tân tự do, phát xít mới, tôn giáo bảo thủ và cả các tà phái, ..., tất cả những thứ đó được tập hợp thành cơ chế kiểm soát, thao túng xã hội một cách rất hiệu quả!

Thực tế này - có thể bị cho là bi quan, nhưng nó là sự thật - chính là điều mấu chốt đặt ra cho những người XHCN, cần phải quyết liệt hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để cải tổ chính mình, tiếp tục giác ngộ chính mình, để có thể trả lời câu hỏi đơn giản mà Lenin đã đặt ra từ năm 1902: “Chúng ta phải làm gì?”. Điều đó có nghĩa là: làm thế nào để CNXH có thể tiếp tục tiến lên, trước những tiến bộ của CNTB, khi mà họ biết vận dụng chính những lý luận, phương pháp của CNXH để làm mới mình, tránh khỏi nguy cơ tự diệt vong. Vậy những người XHCN phải làm sao để giành chiến thắng?

Câu trả lời ở đây là rất khó, chắc chắn những người ở tầng lớp chúng ta không ai có thể trả lời ngay lúc này, cũng không có hướng dẫn cụ thể nào có thể khẳng định là sẽ đem đến hợp lý và thành công. Nhưng chúng ta có niềm tin, và có tình yêu vô điều kiện dành cho CNXH. Với điều đó, chúng ta có thể xây dựng các phương án khác nhau cho mình. Với những người làm công tác tư tưởng văn hoá thì rõ ràng là các phương pháp cũ sẽ phải được đánh giá lại, xem xét lại và liên tục đổi mới, không phải là chỉ làm cho “có phong cách mới” mà phải nghiên cứu sâu về thực tiễn xã hội mà chúng ta đang sống. Từ những điều cụ thể như tại sao giới trẻ lại lệch chuẩn, tại sao quần chúng không đọc sách và nghiên cứu mà chỉ chăm chú theo dõi MXH? Đến những việc vĩ mô như: Tại sao các nhân vật dân tuý lại được quần chúng lắng nghe và tung hô? Tại sao các ứng cử viên cực hữu trên thế giới lại giành chiến thắng trong bầu cử dù họ mang tư tưởng tân phát xít, siêu bảo thủ, phân biệt chủng tộc? Tại sao tổ chức công đoàn lao động mất vai trò của mình? Tại sao thuật ngữ "đấu tranh giai cấp" không còn được quan tâm và nhiều người tránh né?

Rõ ràng là, cuộc đấu tranh vẫn đang ở phía trước, và các phương pháp đấu tranh của những người XHCN phải được điều chỉnh, suy nghĩ lại để đổi mới thật sự, đổi mới hay là chết! Đơn giản như việc nếu chúng ta phê phán tuổi trẻ rằng “Thanh niên ngày nay không còn mấy ai nghĩ đến việc lên rừng để chịu đựng kham khổ mà cống hiến, lên núi để thấy mình cao hơn” thì họ sẽ hỏi lại rằng “Có còn khu rừng nào? Núi nào đáng để leo lên?”. Vâng, nếu chúng ta không giữ rừng cho họ, không là núi cao cho họ ngưỡng mộ và hướng tới thì họ sẽ chẳng biết làm gì và sẽ tiêu thụ nốt tất cả những gì còn lại của chúng ta mà chẳng làm nên gì cả! 

Việc xem xét lại để đổi mới phương pháp hoạt động chính trị và công tác tư tưởng văn hoá hiện nay của CNXH là hết sức cấp bách. Toàn cầu hoá, hiện đại hoá, lấy kinh tế là trung tâm không thể mang ý nghĩa là việc chúng ta từ bỏ lý tưởng của mình, theo bất cứ cách nào!

Với các bạn trẻ, xin nói rằng: nếu các bạn đọc hết bài viết này, các bạn đã có thể là cảm tình viên của CNXH, nếu hiểu được sâu sắc thì các bạn đã xứng đáng là Đảng viên, và nếu trả lời được các câu hỏi trong bài thì các bạn đã là NHỮNG CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH

 

Trong cuộc sống, mỗi người đều có lựa chọn riêng, để sự tồn tại của mình trở nên có ý nghĩa, và chia sẻ, kết nối với người khác, với xã hội, lịch sử. Sinh thời giáo sư nổi tiếng Trần Đại Nghĩa người từ chối mức lương 20 lượng vàng để theo Hồ Chủ tịch về nước. Trong buổi trưa ngày 30/4/1975 ông đã viết vào cuốn sổ tay nhỏ của mình "Đã hoàn thành nhiệm vụ". Đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà khi mới 20 tuổi ông ấp ủ. Ông đã từ bỏ mức lương 20 lạng vàng 1 tháng để về Việt Nam theo cách mạng. Khi báo chí phương Tây hỏi vì sao ông theo Hồ Chủ tịch về nước mà không ở lại như một số bạn bè khác, ông đã nói “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”.

 Để có được đất tự do sau gần 100 trăm năm bị nộ lệ bởi giặc Tây, những người lính Việt Minh đã đi ròng rã 9 năm trời từ căn cứ địa Tân Trào rồi cắm cờ trên chiến hào Điện Biên phủ. Nếu nói về quãng đường đi ngày hôm nay, nó chỉ tầm vài giờ xe chạy nhưng để có được hòa bình người Việt Nam phải đi quãng đường dài 9 năm mới có được, kèm theo đó sự đánh đổi hi sinh xương máu của hàng triệu con em máu đỏ da vàng.

Để có được thống nhất non sông, người Việt Nam đã đi ròng rã 21 năm trời trên con đường trường chinh giải phóng dân tộc, hành trình của người Việt được nâng đỡ trên những chiếc xe thồ vạn dặm, và sự bền bỉ của đôi dép cao su vượt trường sơn đi cứu nước. Ngày nay chúng ta trên chuyến bay hành trình Hà Nội - TPHCM chỉ tầm 2 giờ bay, nếu bạn đi xe khách hoặc tàu hỏa cũng chỉ hai ngày. Nhưng để có được hai ngày đó những người lính của chúng ta đã nằm gai nếm mật hi sinh gian khổ và sau 21 năm vào ngày 30/4/1975 mới tới được đích đến Dinh độc lập.

Để đuổi được người Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, người Việt đã giáng hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường với người Mỹ.

Để có được Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam và ba nước Đông dương. Kết quả của gần 5 năm đàm phán với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Nếu hòa bình độc lập mà dễ như nhiều người từng chém gió trên mạng, thì người Việt không phải đánh nhau ròng rã với người Pháp 9 năm. Để thống nhất non sông mà dễ như múa phím trên mạng xã hội người Việt đâu cần đánh Mỹ tới mấy chục năm trời.

Hòa Bình luôn là vế sau của những cuộc chiến, mà nơi đó những người con ưu tú nhất đã ra đi mãi mãi không trở về!

Vậy thì thế hệ trẻ chúng ta ngày hôm nay, chúng ta đã làm được gì để đền đáp công ơn thế hệ cha anh đi trước?

RÈN LUYỆN TƯ CÁCH NGƯỜI CÁCH MẠNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương ngời sáng về tư cách của một người cách mạng; là người “vật chất không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người luôn luôn nêu cao ý thức tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong tác phẩm Ðường Kách mệnh, Người viết về tư cách người cách mạng: "Tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn về vật chất...".

Ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người nêu "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" và "đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính".

Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Người thường nhắc nhở đồng bào, cán bộ, chiến sĩ kết hợp chặt chẽ phong trào thi đua giết giặc với phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu.

Năm 1947, Người viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc nêu rõ: Phải rèn luyện đạo đức cách mạng, ra sức chống những thói hư tật xấu, lên mặt quan cách mạng, hẹp hòi, tư túi, v.v.

Năm 1952, trong tác phẩm Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, Người phân tích rõ biểu hiện, bản chất, tác hại, nguyên nhân và những biện pháp chống các bệnh này và thực hành chính sách tiết kiệm.

Ngày 3-2-1969, nhân dịp kỷ niệm thành lập Ðảng, Người viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Trước lúc đi xa Người căn dặn trong Di chúc: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương ngời sáng về đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, là mẫu mực về đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị, khiêm tốn. Cuộc đời Người từ một phụ bếp trên tàu, một thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint đến khi trở thành Chủ tịch nước vẫn luôn là những tháng ngày thanh bạch, tiết kiệm và giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc về đức cần, kiệm. Người tóm tắt, "cần" tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì; "kiệm" tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân; "liêm" tức là không tham ô, luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân; "chính" là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. Cho đến lúc phải từ biệt thế giới này, Người căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm không phải là bủn xỉn, "không phải xem đồng tiền to bằng cái nong", gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép mọi người nhịn ăn, nhịn mặc; trái lại, cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, để dần dần nâng cao mức sống của nhân dân; tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, để cải thiện đời sống nhân dân. Tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của và tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi thực hành tiết kiệm là một quy luật đi lên của một đất nước, một phương pháp của chế độ kinh tế, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm. Người còn chỉ rõ: "Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ".

Muốn thành công trong thực hành tiết kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Người chỉ rõ: Tham ô đối với cán bộ, đó là "ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng"; đối với nhân dân, đó là "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế". Còn lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí của cải vật chất của nhân dân, của đất nước. Nguyên nhân gây ra lãng phí, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là do trình độ non kém, do thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, do độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm. Người còn chỉ rõ: "Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô, lãng phí, Người kết luận: "Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô".

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rõ khái niệm, nội dung, tác hại, mà còn phân tích nguyên nhân dẫn đến tham ô, lãng phí, đó là bệnh quan liêu: "Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu. Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Ðối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn". Người cho rằng, bệnh quan liêu là chỉ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở, "vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí". Người nhấn mạnh: "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng việc của ta, nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta, nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Chủ tịch Hồ Chí Minh thường coi đó "là hành động xấu xa nhất của con người... Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà", là "giặc nội xâm". Bởi vì, tham ô, lãng phí, quan liêu thường đi liền với nhau và luôn là một trở lực lớn, là nguy cơ sụp đổ đối với mọi chế độ xã hội. Vì thế, "chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng, cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Ðây là mặt trận tư tưởng và chính trị", và "muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu".

Nguyên nhân sâu xa, bao trùm của các căn bệnh nêu trên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cá nhân - một thứ trở lực nằm ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi con người. Người coi chủ nghĩa cá nhân là một trở lực nội tại và là một nguyên nhân gốc gây ra bao khuyết điểm, sai lầm và trở lực khác. Người chỉ rõ: "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó". Vì như Người phân tích: "Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành ta đi xuống dốc... vì thế càng nguy hiểm",... "chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng..., chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng". Do đó, "phải ra sức gột rửa chủ nghĩa cá nhân". Tuy nhiên, Người cũng lưu ý rằng, "đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là giày xéo lên lợi ích cá nhân". Ðặc biệt, Người nhấn mạnh trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì "thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân". Do vậy, phải thường xuyên rèn luyện và "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân".

Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề ra những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả.

Một là, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm.

Ba là, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ.

Bốn là, phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm.

Năm là, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðể thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người còn yêu cầu: "Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật".

Trước tình trạng tham nhũng và những tệ nạn xã hội ở nước ta hiện nay, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định phải “tích cực đấu tranh chống tham nhũng lãng phí, …kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân”[1]. Để thực hiện được điều đó việc quán triệt, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu càng thấy rõ tầm quan trọng hơn bao giờ hết, góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh, luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.



 [1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.195