Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Không thể phủ nhận tinh thần quốc tế của Việt Nam

 Trong khi dư luận đánh giá cao việc Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn và hỗ trợ khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ thì đáng tiếc, vẫn có những luận điệu sai trái, cố tình bóp méo nghĩa cử cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Các luận điệu này cần bị vạch trần và lên án mạnh mẽ.

Trận động đất ngày 6/2 tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria đã để lại những hậu quả nặng nề. Đến nay, thảm họa này đã cướp đi sinh mạng của hơn 42.000 người. Trong đó, riêng Thổ Nhĩ Kỳ đã có hơn 35.000 người thiệt mạng và hàng vạn người bị thương. Trước những hậu quả do trận động đất nói trên gây ra, với tinh thần đoàn kết quốc tế, Việt Nam đã nhanh chóng cử các lực lượng tham gia công tác tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ người dân Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngay sau khi tới thành phố Adiyaman (Thổ Nhĩ Kỳ), trong ngày 11/2, đoàn công tác cứu nạn quốc tế của Bộ Công an gồm 24 cán bộ, chiến sĩ đã phối hợp với các lực lượng cứu hộ quốc tế thực hiện việc đào bới, tìm kiếm dưới các đống đổ nát, các tòa nhà bị sập để tìm, giải cứu người mắc kẹt trong thảm họa động đất.


Đối với lực lượng của Bộ Quốc phòng, đêm 12/2, Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã lên đường sang hỗ trợ Thổ Nhĩ Kỳ khắc phục hậu quả động đất. Đến ngày 14/2, lực lượng hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tại khu vực đường Rustem Tumer Pasa, Antakya thủ phủ của tỉnh Hatay (Thổ Nhĩ Kỳ), một trong số tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất do thảm họa động đất vừa qua gây ra.

Mới đây nhất, ngày 14/2, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã quyết định hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, mỗi nước 100.000 USD để góp phần khắc phục hậu quả của trận động đất ngày 6/2.

Trong khi dư luận đánh giá cao Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn và hỗ trợ khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ thì đáng tiếc, vẫn có những luận điệu sai trái, cố tình bóp méo nghĩa cử cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Một số cá nhân cho rằng, việc Việt Nam hỗ trợ Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là “làm cho có phong trào”; là “đánh bóng hình ảnh” Việt Nam… Một số ý kiến còn đặt vấn đề, “vì sao Việt Nam còn nghèo, mà lại hỗ trợ người dân nước khác, sao không giúp người dân khó khăn trong nước?”…

Trước hết cần khẳng định, việc Việt Nam cử lực lượng tham gia tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ tài chính để khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, Syria là hết sức kịp thời và hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng như truyền thống tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Trước những hậu quả nặng nề do trận động đất ngày 6/2 gây ra, Liên hợp quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ ứng cứu, khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đã cử lực lượng, phương tiện, vật chất đến các quốc gia trên để ứng cứu, hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất. Đến nay đã có hơn 90 quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế cử lực lượng cứu hộ, cứu nạn cũng như viện trợ, cam kết viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ và Syria. Do vậy, việc làm của Việt Nam không chỉ là sự hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp quốc, mà còn rất phù hợp với xu thế quan hệ quốc tế hiện nay; là sự kế thừa truyền thống nhân văn, nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, đây không phải là lần đầu tiên chúng ta hỗ trợ quốc gia khác khắc phục hậu quả thiên tai. Năm 2018, trước những thiệt hại to lớn về người và tài sản do động đất, sóng thần gây ra tại thành phố Palu và thị trấn Dongala, tỉnh Sulawesi, Indonesia, trên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, Chính phủ Việt Nam đã quyết định hỗ trợ khẩn cấp 100.000 USD, góp phần hỗ trợ Chính phủ Indonesia và người dân vùng bị nạn khắc phục hậu quả. Trước đó, khi động đất và sóng thần gây thiệt hại lớn tại các tỉnh miền Đông Bắc Nhật Bản (năm 2011), Chính phủ Việt Nam quyết định trợ giúp nhân dân Nhật Bản 200.000 USD để góp phần khắc phục hậu quả. Đặc biệt, hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, gần 1.500 tổ chức, cá nhân ở Việt Nam đã ủng hộ nhân dân Nhật Bản bị thiên tai với số tiền hơn 161 tỷ đồng (tương đương 7,783 triệu USD).

Bên cạnh đó, việc tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ còn là biểu hiện sinh động cho chính sách đối ngoại ưu việt, thái độ cộng đồng trách nhiệm và tinh thần đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam; đồng thời, khẳng định uy tín, năng lực của lực lượng Công an và Quân đội nước ta trong hội nhập, quan hệ, hợp tác quốc tế. Thực tế ngay trong những ngày đầu thực hiện nhiệm vụ tại Thổ Nhĩ Kỳ, các lực lượng tìm kiếm, cứu nạn của Việt Nam đã được nước bạn cũng như các đoàn quốc tế tham gia công tác cứu nạn cứu hộ đánh giá rất cao sự nhiệt tình và tính chuyên nghiệp. Các lực lượng tìm kiếm, cứu nạn của chúng ta đã sử dụng thuần thục những thiết bị chuyên dụng, hiện đại để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn; đặc biệt là sự chuyên nghiệp trong sử dụng các thiết bị banh, cắt thủy lực, tìm kiếm bằng camera hình ảnh và âm thanh, sử dụng các thiết bị liên quan đến kích, nâng và tách những khối bê tông để phục vụ cho việc cứu nạn cứu hộ. Nhờ vậy, đã mang lại hiệu quả tích cực.

Rõ ràng, việc tham gia tìm kiếm, cứu nạn và hỗ trợ khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ đã thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế, trách nhiệm cộng đồng của Việt Nam. Những ý kiến cho rằng, việc Việt Nam hỗ trợ Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là “làm cho có phong trào”; là “đánh bóng hình ảnh” Việt Nam… chỉ là những luận điệu sai trái, những ý kiến phiến diện, một chiều xuất phát từ động cơ chính trị thiếu trong sáng. Các cá nhân đưa ra những ý kiến này đã đi ngược lại những giá trị lợi ích quốc gia, dân tộc; cố tình không nhận thấy ý nghĩa nhân văn, nhân đạo trong việc Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn và hỗ trợ khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ; cố tình bóp méo nghĩa cử cao đẹp của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Do đó, các luận điệu này cần bị vạch trần và lên án mạnh mẽ./.


Vững vàng ý chí "Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt"

 Qua thực tiễn cuộc đấu tranh, trong tác phẩm mới đây nhất “Kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh phòng, chống tham những, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023) yêu cầu này đã được chính đồng chí Tổng Bí thư tổng kết thành phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”.

Với cách sử dụng từ ngữ dung dị mà khái quát, dân dã mà chặt chẽ, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta nêu lên yêu cầu từ trên xuống dưới, tức từ Trung ương đến cơ sở, từ cán bộ lãnh đạo, quản lý đến cán bộ, đảng viên, người lao động, công dân… phải muôn người một ý chí, quyết tâm đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, cả hệ thống chính trị với tổ chức bộ máy theo ngành dọc và mỗi thiết chế cũng như từng người dân trong các mối quan hệ đa chiều phải thông suốt trong nhận thức về yêu cầu cấp bách của cuộc đấu tranh, về nội dung và phương thức tiến hành, về kết quả đấu tranh và những nhiệm vụ, giải pháp cần tiếp tục đẩy mạnh… Phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” không chỉ có giá trị định hướng, chỉ đạo mà còn như một lời hiệu triệu toàn Đảng, toàn dân ủng hộ, tham gia cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Tại sao đồng chí Tổng Bí thư phải đặt vấn đề ở tầm cao nhất như vậy? Chính thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới và những bài học kinh nghiệm quý báu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam cũng như của phong trào cộng sản quốc tế là căn cứ, cơ sở hàng đầu:

Một là, tuy đạt một số kết quả bước đầu, nhưng “bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.108).

Hai là, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh chống “nội xâm”, rất phức tạp, khó khăn và có nhiều điểm khác so với đấu tranh chống ngoại xâm. Đối tượng đấu tranh không là lực lượng đối lập hiện hình, hiện hữu, mà là những thực thể tồn tại hữu cơ trong chúng ta. Đó là những mặt, những điểm chưa chuẩn chỉ, chưa thật đúng đắn trong mỗi chúng ta; là những hành vi sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật của đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp…, thậm chí thủ trưởng, cấp trên của mình; là những cơ chế, chính sách chưa thật phù hợp, còn nhiều kẽ hở có thể lợi dụng; là những giọng điệu, hành động gây cản trở, xuyên tạc, công kích cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực… Tuy không khói súng, nhưng trong nhiều trường hợp, cuộc đấu tranh mang tính đối kháng “một mất, một còn” giữa một bên là những phần tử tha hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực sẵn sàng đạp đổ tất cả và một bên là kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân kiên quyết, kiên trì quét sạch “nội xâm”, bảo vệ công lý, bảo vệ sự nghiệp cách mạng.

Ba là, thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi; trái lại, thường xuyên gặp nhiều loại khó khăn, cản trở. Ngay từ rất sớm, Đảng ta chính thức phát động cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực bằng Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 2 tháng 2 năm 1999 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (lần 2) khoá VIII “về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí. Gần 25 năm đã trôi qua, nhưng cũng phải đến những năm gần đây, chúng ta mới có đủ điều kiện để kiên quyết, kiên trì triển khai cuộc đấu tranh này theo tinh thần” không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “nhốt mọi quyền lực trong chiếc lồng thể chế”…

Bốn là, kế thừa di sản quý báu của tư tưởng Hồ Chí Minh “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và quán triệt quan điểm Đại hội XIII “dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, phương châm “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” yêu cầu huy động, tổ chức, phát huy sức mạnh không chỉ của các cơ quan chức năng, mà phải là của toàn dân, cả hệ thống chính trị vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Không ít phần tử tham nhũng, tiêu cực là những người có quyền lực lớn, tinh vi, xảo quyệt và được tổ chức thành những nhóm lợi ích vô cùng lợi hại. Bởi vậy, mặc dù chúng ta đã thành lập ban chỉ đạo trung ương và các tỉnh, thành phố để trực tiếp chỉ đạo các chuyên án lớn, phức tạp, nhưng vẫn có những vụ việc còn kéo dài. Trong bối cảnh này, nhất định phải dựa vào các tầng lớp nhân dân với đội ngũ trên dưới, dọc ngang cung cấp thông tin, phát hiện, tố giác và đấu tranh, kiên quyết đốn bỏ khỏi cơ thể Đảng và hệ thống chính trị những gì đã bị tha hóa, mục ruỗng.

Năm là, trong triển khai cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực cần chú ý đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận, xuyên tạc, công kích các chủ trương, quan điểm và công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây không phải là chiến dịch “thanh trừng” phe nhóm, mà là một nhiệm vụ chính trị cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân; không phải là hành động nhất thời, mang tính nhiệm kỳ mà là công việc thường xuyên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không phải là kịch bản sao chép từ bên ngoài mà là chủ trương của Đảng ta, do các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở chủ động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; không phải là biểu hiện của “một đảng hỏng” mà là hình ảnh của “một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” vì “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó” - chính Đảng tiền phong đã từng được lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện.

Nhân dịp nghiên cứu, quán triệt nội dung tác phẩm quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư, chúng ta nên nhớ lại nhận định mang tính cảnh báo nghiêm khắc của lãnh tụ V.I.Lênin nêu ra năm 1921 khi triển khai công tác chỉnh đốn Đảng rằng, Đảng Cộng sản (b) Nga ngày ấy có ba kẻ thù bên trong phá hoại gồm: tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, nạn thất học và nạn hối lộ; nếu không được khắc phục thì đây sẽ là những lực lượng làm sự nghiệp của những người Bôn sê vích thất bại. (V.I.Lê-nin: Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978). Cũng nhân dịp này, chúng ta nhớ lại bi kịch ở Liên Xô tháng 12 năm 1991 là sự tự thất bại, tự tan rã từ bên trong của một sự nghiệp cộng sản vĩ đại, trước hết là do công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cầm quyền không thành công, để Đảng phân hóa, phân rã và phân liệt nặng nề.

Để đảm bảo cho Đảng ta có sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, thật sự “là đạo đức, là văn minh”; để xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, một trong những nhân tố không thể thiếu là toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành đồng thuận, thống nhất nhận thức và hành động, vững vàng ý chí và bản lĩnh, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” trong triển khai cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực./.


SÁNG NGỜI VĂN HÓA "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"

 “Bộ đội Cụ Hồ”, không chỉ là cách gọi trìu mến, rất thân thiết, rất Việt Nam mà nhân dân tin yêu, dành tặng cho Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là một danh hiệu, một vinh dự đặc biệt to lớn đối với mỗi quân nhân. Từ những ngày đầu của kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang của ta là “Bộ đội Ông Ké”, “Bộ đội Ông Cụ”. Sau này, khi biết “Ông Ké” là Hồ Chí Minh, đồng bào ta đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Như vậy có thể thấy, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành từ những ngày Quân đội mới được thành lập và đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, một biểu tượng cao đẹp trong lòng nhân dân.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” đã được nâng tầm trở thành văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ". Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” chứa đựng bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, là sự hòa quyện giữa tính dân tộc và tính giai cấp; giữa tính truyền thống và tính hiện đại; là sự phản ánh bản sắc văn hóa, nét đẹp tinh thần, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, đồng thời là giá trị văn hóa, nhân văn, nhân ái của quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Nhắc đến văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự phản ánh những chuẩn mực văn hóa, đạo đức của người quân nhân cách mạng với tấm lòng kiên trung, tận tụy, luôn trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn kiên định và giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn nêu cao tinh thần anh dũng, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao;... Những giá trị tốt đẹp ấy, dù trong thời chiến hay thời bình, đều được thể hiện cụ thể qua từng cử chỉ, hành động, việc làm, góp phần tạo nên sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội, gìn giữ và tỏa sáng phẩm chất, văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Càng ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, càng ngời sáng văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, để lại ấn tượng sâu đậm đối với đồng bào trong nước cũng như bạn bè quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết một chân lý: “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn” (1). Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của đời sống xã hội, được nhân loại sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử, hướng con người tới những giá trị “Chân - Thiện - Mỹ”. Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào, là động lực mạnh mẽ giúp mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân không ngừng phấn đấu, rèn luyện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (3).

Thực tế thời gian qua, “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta” (2). Đối với Quân đội, bên cạnh âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt” của Đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước còn ra sức phủ nhận, xuyên tạc bản chất, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta. Chúng luôn tìm mọi cách phủ nhận, bôi đen giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm chia rẽ Quân đội với Đảng, chia rẽ Quân đội với Nhân dân, làm cho Quân đội mất vai trò là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng. Chúng cho rằng, “giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” chỉ phù hợp với thời điểm đất nước có chiến tranh”; hiện nay giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã lỗi thời, lạc hậu”… Càng nguy hiểm khi những âm mưu nói trên còn đưa đến những nhận thức lệch lạc ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ; làm ảnh hưởng đến truyền thống, bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc lan tỏa sâu rộng, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Trong đó, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội; nâng cao khả năng vận dụng các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, đặc biệt về việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong Quân đội.

Trong đó, trọng tâm là Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới; Kế hoạch số 1349/KH-CT ngày 15/8/2022 của Tổng cục Chính trị về thực hiện chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 trong Quân đội nhân dân Việt Nam,… Qua đó, tiếp tục xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, luôn có khát vọng, lý tưởng cao đẹp, giữ vững và phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất, trong từng lời nói và hành động, với tinh thần “lấy thông tin tích cực dẹp bỏ thông tin tiêu cực”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; tiếp tục lan tỏa sâu rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những gương người tốt, việc tốt; cá nhân điển hình, tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để tiếp tục khẳng định giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh loại bỏ các âm mưu, thủ đoạn, hành động xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời định hướng tư tưởng quân nhân trong mọi tình huống.

Đặc biệt, cần tiếp tục tăng cường vai trò định hướng của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; thường xuyên phát huy vai trò, trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách như Lực lượng 47, đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên các cấp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng các bài viết, hình ảnh, video clip có giá trị đấu tranh sắc bén, đấu tranh trực diện, có chiều sâu, lập luận chặt chẽ,… tạo nên thế trận vững chắc, kiên quyết bẻ cong những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc, sai sự thật trên không gian mạng; lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy hơn nữa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, nâng tầm văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành di sản của quốc gia, dân tộc, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần ra sức thi đua, tiến quân vào khoa học công nghệ, làm chủ vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại; không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt; tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và của Quân đội, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, mãi mãi xứng danh là Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao đẹp, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới phải trở thành nếp sống, nếp nghĩ, lẽ sống, hành động sống, phương châm xuyên suốt của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Không ngừng nỗ lực, phấn đấu, khẳng định vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, rèn giũa “thanh bảo kiếm” thật sự sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay./.

Không thể phủ nhận vai trò của Quân đội trong phát triển kinh tế

 Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước là biểu hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất”, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh việc Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước là phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Song, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vấn đề này.

Cụ thể, theo các thế lực thù địch, phản động, “Quân đội tham gia phát triển sản xuất chỉ phù hợp với thời chiến, khi điều kiện khó khăn. Hiện nay kinh tế đất nước đã phát triển, Quân đội không nên tham gia làm kinh tế để tập trung bảo vệ Tổ quốc”; “Quân đội không cần thiết phải lao động sản xuất vì đã được ngân sách Nhà nước bảo đảm”… Với góc nhìn phiến diện, chúng cho rằng, việc duy trì các nhà máy sản xuất hàng quốc phòng của Quân đội là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, do “lợi ích nhóm chi phối”. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cố tình đánh đồng một số hạn chế, vi phạm trong quản lý đất quốc phòng hay những tồn tại, sai phạm ở số ít doanh nghiệp Quân đội với bản chất, ý nghĩa việc Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Từ đó “đề xuất”: “Quân đội chỉ nên tập trung vào huấn luyện”; “Quân đội không nên tổ chức lao động sản xuất”; “Không nên kết hợp kinh tế với quốc phòng”; …

Thực chất, phía sau những luận điệu sai trái nói trên chính là âm mưu thâm độc của các thế lực phản động, thù địch. Mục đích hướng đến của các luận điệu đó là nhằm xuyên tạc chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng ta. Đồng thời, phủ nhận chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội ta trong giai đoạn hiện nay; làm suy giảm niềm tin của nhân dân, phá vỡ khối đoàn kết quân - dân. Sâu xa hơn, các thế lực thù địch, phản động cố tình phủ nhận kết quả tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế quốc gia của Quân đội ta. Qua đó, kìm hãm sự phát triển nền công nghiệp lưỡng dụng; hạn chế các nguồn lực cho quá trình hiện đại hóa quốc phòng an ninh; làm suy giảm tiềm lực quân sự quốc phòng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam…

Liên quan đến các luận điệu nêu trên, cần khẳng định rõ, cả lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 80 năm qua đều cho thấy, Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế quốc gia là phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu rõ: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế” (1). Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho Quân đội” (2). Theo Người, Quân đội phải tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để góp phần phát triẻn kinh tế, giảm bớt một phần đóng góp của nhân dân. Bác cũng yêu cầu, “đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bước vững chắc, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng” (3).

Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy, ông cha ta đã sớm thực hiện việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được thể hiện trong chính sách “ngụ binh ư nông” của các thời Lý, Trần, Lê. Với phương châm “tĩnh vi dân, động vi binh”, việc gắn kinh tế với quốc phòng đã giúp các triều đại phong kiến có điều kiện bồi dưỡng sức dân, phát huy vai trò của lực lượng quân đội trong phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng cường sức mạnh của đất nước trước âm mưu xâm lược của các thế lực ngoại bang.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia có hiệu quả trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Nổi bật là sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, gần 8 vạn cán bộ, chiến sĩ đã được chuyển sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế; trực tiếp tham gia xây dựng những công trình trọng điểm của đất nước, như: Khu công nghiệp Việt Trì, Đại thủy nông Bắc Hưng Hải... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, việc thực hiện “tăng gia quanh vườn” với khẩu hiệu “thực túc, binh cường” đã góp phần bảo đảm bữa ăn cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ. Tiếp đó, khi đất nước nhất, Quân đội cũng là lực lượng tiên phong trên mặt trận xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạng mới, thấm nhuần quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, Quân đội đã thực hiện tốt chức năng “đội quân lao động sản xuất” thông qua việc tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Điển hình là hiệu quả thu được ở các khu kinh tế - quốc phòng do Quân đội xây dựng, quản lý. Tính chung trên cả nước, các khu kinh tế - quốc phòng đã xây dựng mới 1.300 điểm dân cư tập trung với hơn 98.000 hộ dân. Qua đó, vừa giúp đồng bào ổn định đời sống, phát triển sản xuất, vừa tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc.

Chủ động hội nhập nền kinh tế quốc gia, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Quân đội đã luôn tích cực tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp tăng trưởng bền vững, doanh thu đạt 268 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận đạt 43 nghìn tỉ đồng, (tính đến hết năm 2021), đạt 103,8% theo kế hoạch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước; bảo toàn và phát triển vốn nhà nước; bảo đảm tốt việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động; góp phần quan trọng giúp nâng cao tiềm lực quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa Quân đội (4). Tiêu biểu là các doanh nghiệp: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, các Tổng công ty: Tân cảng Sài Gòn, Xăng dầu Quân đội, Than Đông Bắc…

Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng ta không phủ nhận những sai phạm, tồn tại trong quản lý, điều hành ở một số doanh nghiệp, đơn vị Quân đội làm kinh tế. Những sai phạm, tồn tại này xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau và đã được xử lý nghiêm minh; hoàn toàn không phải do chủ trương của Đảng trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế như các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc. Thực tế, Quân đội tham gia xây dựng kinh tế là kết hợp, phục vụ nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, củng cố sức mạnh quốc phòng, gia tăng tiềm lực của quốc gia, tích cực góp phần phát triển tính tự chủ của đất nước trong trang bị khí tài quân sự, quốc phòng và trực tiếp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Các doanh nghiệp quốc phòng đã xây dựng những khu vực kinh tế quốc phòng, hình thành thế trận bố trí chiến lược quân sự quốc phòng vững chắc, đặc biệt tại các địa bàn trọng yếu, quan trọng của đất nước.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi chúng ta cần chủ động đấu tranh, làm thất bại các luận điệu sai trái, phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Theo đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tính tất yếu, ý nghĩa việc Quân đội trong tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, với các hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng đơn vị, địa bàn. Vạch trần các luận điệu phản động, sai trái liên quan đến vấn đề này.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các doanh nghiệp Quân đội cần quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Trọng tâm là Nghị quyết số 820-NQ/QUTW ngày 17/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”.

Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh cơ chế bảo đảm thuận lợi cho các doanh nghiệp Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Đổi mới cơ chế điều hành, đầu tư nâng cao hiệu quả xây dựng Khu kinh tế quốc phòng và hoạt động của Đoàn kinh tế quốc phòng ở địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đẩy mạnh tái cơ cấu các doanh nghiệp, đơn vị Quân đội làm kinh tế; tập trung phát triển các doanh nghiệp quốc phòng lưỡng dụng đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tiếp tục xây dựng, bổ sung hoàn thiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển 05 năm, giai đoạn 2021 - 2025 phù hợp với đặc điểm, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Quân đội. Quá trình tham gia phát triển kinh tế, các doanh nghiệp quốc phòng cần thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó với chính quyền, nhân dân địa phương; giữ vững ổn định chính trị; coi trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, thực hiện phát triển bền vững vì lợi ích nhân dân và vì sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững hình ảnh tốt đẹp người “Bộ đội Cụ Hồ” trong chiến đấu và trong lao động sản xuất; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tình hình mới./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng - trách nhiệm không của riêng ai

 Không gian mạng (Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Linkedin, Zingme, Google…) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhoà ranh giới giữa thực và ảo, vì vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới.

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ tăng cường chống Đảng, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ”.

Về hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… để trích dẫn, bình luận, xuyên tạc, hạ uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đồng thời, đưa lên internet và mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, chưa rõ ràng để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Chúng còn xuất bản các xuất bản phẩm có nội dung xấu, độc; biên soạn tài liệu, video lồng ghép nội dung thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo sự thật; tiến hành rải truyền đơn, tờ rơi, viết vẽ khẩu hiệu phản động. Các thế lực thù địch tiếp tục tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm dựng chuyện, vu cáo, bôi nhọ, từ đó xóa bỏ học thuyết Mác - Lênin và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa…

Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động…

Tại Việt Nam, với dân số khoảng 95 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với gần 60 triệu người dùng (đứng thứ 7 thế giới). Nhận thức được điều này, Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”. Đại hội IX của Đảng khẳng định phải “Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch”. Với tinh thần đó, Đại hội X của Đảng đã yêu cầu “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hòa bình,” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”.

Để thực hiện những chủ trương đó, Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Một trong những văn bản quan trọng là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa ở cả Trung ương, các ngành, các cấp”. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) đã nhận định: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Các phần tử cơ hội chính trị trong nước móc nối với thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài xuyên tạc, vu cáo, chống phá quyết liệt Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyết đã yêu cầu “triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở cả Trung ương và các ngành, các cấp. 

Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng” cũng đã nhấn mạnh: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển, hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”.

Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là rất gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, tập trung làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. 

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./. 

Đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người

 Trong thời gian qua, hoạt động đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền của Việt Nam đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, thúc đẩy quan hệ với các đối tác, bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Bài viết làm rõ quan niệm, đối tượng, đặc điểm đối thoại, đấu tranh về nhân quyền; nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này. Từ đó, đề xuất cách thức tiến hành đối thoại, đấu tranh với các tổ chức quốc tế, các tổ chức và cá nhân thù địch trong và ngoài nước.

Những nhận thức cơ bản về đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người

Đối thoại trên lĩnh vực quyền con người (QCN) là sự trao đổi, thương lượng một cách bình đẳng giữa những người tham gia đối thoại trên cơ sở pháp lý nhất định, hướng vào một chủ đề cụ thể, nhằm nhận thức sâu hơn về đối phương và đạt tới chân lý cao hơn cho cả hai bên, tiến đến giải quyết được một hoặc một số vấn đề cụ thể liên quan đến danh dự, nhân phẩm hay quyền lợi của các bên đối thoại.

Đấu tranh trên lĩnh vực QCN là sự chủ động, tích cực nhận diện, phê phán và kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng pháp luật nhằm làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề QCN như một công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội Việt Nam.

Đối tượng đối thoại, đấu tranh là các lực lượng thù địch, phản động, các tổ chức và cá nhân.

Các lực lượng thù địch: Gồm lực lượng cực hữu ở một số nước phương Tây (chủ yếu tại Mỹ), lực lượng người Việt ở ngoài nước và những cá nhân ở trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá chế độ chính trị - xã hội Việt Nam.

Các lực lượng cạnh tranh về tư tưởng, chính trị: Gồm những người nghiên cứu lý luận, hoạt động chính trị tại một số nước phương Tây và những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng chính trị tại Việt Nam. Đến nay, cuộc đối thoại, đấu tranh giữa ý thức hệ CNXH và CNTB vẫn diễn ra trên phạm vi thế giới. Những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng chính trị, thực chất là những đối tượng thù địch “giấu mặt” đóng vai “phái giữa” nên có sức nguy hại rất lớn, vì họ “đánh từ trong đánh ra”, gián tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong nội bộ.

Đối thoại, đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản về dân chủ, nhân quyền: là đặc điểm có tính bản chất của đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực QCN. Nó cho thấy, đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Vì thế, nhân dân - trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đối thoại, đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

Về nội dung đấu tranh: trước hết là nhận diện rõ các âm mưu, thủ đoạn chống phá về nhân quyền. Các lực lượng thù địch ra sức truyền bá hệ tư tưởng tư sản với nội dung cơ bản là: Quan niệm một cách phiến diện, có khi tuyệt đối hóa quyền cá nhân và các quyền dân sự, chính trị đến mức đồng nhất chúng với quyền con người nói chung; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa.

Chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận - thực tiễn về QCN; tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm QCN ở Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, truyền thông, giáo dục, đào tạo, văn hóa nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế; tuyên truyền, ca ngợi các giá trị nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản, trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước; tạo dựng “ngọn cờ” về nhân quyền thông qua tuyên truyền, ca ngợi, trao giải thưởng cho nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong và ngoài nước.

Các thế lực thù địch tuyên truyền xuyên tạc, kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc chính sách tôn giáo; xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp. Hơn thế, còn kích động khuynh hướng cực đoan nhằm “hạ bệ thần tượng”, đòi “giải thiêng” các giá trị lịch sử dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đòi khơi thông dòng văn chương của những cây bút chống cộng trước năm 1975; thành lập “Nhóm mở miệng” (xuất hiện từ khoảng năm 1995) chủ trương thơ tục, thơ rác, thơ bụi để “đẩy thơ vào ngõ cụt”, nhằm thúc đẩy báo chí “lề trái” (phi chính thức) thay thế “lề phải” (báo chí cách mạng);... để tạo tiền đề cho việc chuyển sang hệ tư tưởng tư sản, không chỉ trên lĩnh vực QCN.

Xuyên tạc cái gọi là “việc  áp dụng một cách bất công Bộ luật Hình sự”, nhất là các điều 19, 79, 87, 88 và 258 của Bộ luật Hình sự năm 1999, mặc dù Bộ luật này đã được sửa đổi từ năm 2015. Các luận điệu xuyên tạc Việt Nam có chính sách hai mặt trong việc giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”; hay các luận điệu xuyên tạc về bức cung, nhục hình đối với những người bị tạm giữ, tạm giam; vu khống Việt Nam bắt giữ và xét xử tùy tiện; cáo buộc tình trạng đàn áp, ngăn chặn, cản trở hoạt động của luật sư;...

Các thế lực thù địch tăng cường ưu tiên cấp học bổng để thu hút học sinh, sinh viên tham gia tìm hiểu “lối sống Mỹ”, “nghiên cứu nhân quyền”, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức hội nhóm tôn giáo...

Hoạt động xâm nhập, kích động, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản. Đồng thời, tăng cường tác động “từ bên ngoài”, như đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị (tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước,...) tương tự các quốc gia phát triển phương Tây. Gắn QCN với các vấn đề hợp tác phát triển, dân chủ, tôn giáo, tiếp cận thông tin và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp,...

Kích động các cá nhân, tổ chức trong nước tổ chức bạo động, bạo loạn và nhờ nước ngoài khiếu kiện Việt Nam. Ví dụ, trong UPR chu kỳ I, II và III, một số tổ chức quốc tế có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) như Ủy ban bảo vệ QCN cho người Việt Nam - VCHR, Tổ chức Đảng cấp tiến xuyên quốc gia - TRP,... và một số tổ chức phi chính phủ của nhóm người Việt phản động đã lợi dụng diễn đàn của Hội đồng nhân quyền vu cáo Việt Nam vi phạm QCN.

Về thủ đoạn chống phá: Lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, làm ngòi nổ; dùng ngoại giao, đầu tư kinh tế để hỗ trợ, hậu thuẫn chống phá.

Về cách thức chống phá: Các thế lực thù địch sử dụng báo chí, truyền thông, đặc biệt là báo mạng, internet; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài (như VOA tiếng việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ) để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị để kích động biểu tình trái phép; tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử; dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng chính trị.

2. Phương hướng, giải pháp đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người

Trên cơ sở kiên định đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, các cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, trong đó có lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Đổi mới nội dung, phương pháp đối thoại, đấu tranh. Thực hiện nguyên tắc trong đấu tranh có đối thoại, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, xử lý công khai, minh bạch bằng pháp luật, trước hết đối với những kẻ cầm đầu, đồng thời phù hợp với các quan hệ liên quan trực tiếp đến vấn đề đấu tranh và đối tượng đấu tranh.

Đối thoại, đấu tranh với các tổ chức, cá nhân quốc tế và nước ngoài, cần tiến hành theo cách thức sau:

Đối thoại, đấu tranh theo cơ chế dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc tại Hội đồng Nhân quyền và tại Ủy ban của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) thuộc ECOSOC: Theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ là thành viên Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, lựa chọn và tiến hành các phương pháp, biện pháp đối thoại, đấu tranh thích hợp với từng vụ việc cụ thể.

Đối thoại, đấu tranh theo cơ chế dựa trên công ước tại các ủy ban (tiểu ban) về QCN của Liên hợp quốc, phù hợp với quy chế của mỗi ủy ban công ước.    

Đối thoại, đấu tranh tại các tổ chức như Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)...: Theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và hợp tác với thể chế của các tổ chức mà Việt Nam đã tham gia. Việc lựa chọn và tiến hành các phương pháp, biện pháp đối thoại, đấu tranh phải phù hợp với thể chế của mỗi tổ chức quốc tế, hệ thống công pháp quốc tế và với mỗi loại quyền (lao động, nghiệp đoàn, an sinh xã hội, kinh doanh, thương mại, môi trường,...).

Đối thoại, đấu tranh với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động chống phá chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam: Theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và trên cơ sở các văn kiện hợp tác với các nước, các tổ chức này. Việc xác định phương pháp, biện pháp đối thoại, đấu tranh nên phù hợp với hệ thống công pháp quốc tế và quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với quốc gia đó. Chẳng hạn, đấu tranh với sự không khách quan, xuyên tạc về tình hình tôn giáo, buôn người và nhân quyền ở Việt Nam trong các báo cáo về tự do tôn giáo của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF), báo cáo về nạn buôn người và về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ,... chứ không phải đấu tranh với nhân dân Hoa Kỳ hay phương Tây nói chung. Điều này đồng thời chỉ rõ trong phương thức đấu tranh phải coi trọng hợp tác, đối thoại theo nguyên tắc giữ vững chủ quyền quốc gia và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, kể cả một bộ phận chính quyền tại phương Tây.

Đối thoại, đấu tranh với một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức Phóng viên không biên giới... về những báo cáo phiến diện, xuyên tạc, không khách quan đối với tình hình nhân quyền tại Việt Nam, theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và trên cơ sở hệ thống công pháp quốc tế. Việc xác định phương pháp, biện pháp đối thoại, đấu tranh phải phù hợp với vị trí, tính chất của mỗi tổ chức và mỗi vụ, việc cụ thể.

Cách thức tiến hành đối thoại, đấu tranh với các tổ chức, cá nhân người Việt thù địch ở trong và ngoài nước: Cách thức chung là tuân thủ hệ thống pháp luật Việt Nam. Đối với các lực lượng chống phá là người Việt sống ở nước ngoài cần phải tính đến mức độ phù hợp với hệ thống công pháp quốc tế và pháp luật của nước sở tại. Việc xác định phương pháp, biện pháp đối thoại, đấu tranh về dân chủ, nhân quyền phải thích hợp với tính chất của các phần tử chống đối ở trong nước ở ngoài nước, nhất là phải phù hợp với mức độ, tính chất chống đối của mỗi vụ việc cụ thể. 

Trong phương thức đối thoại, đấu tranh cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị như truyền thông, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng - chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng cách thức kết hợp đối thoại với đấu tranh hay ngược lại.

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam

 Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lên đường thăm chính thức Cuba, Argentina và Đông Uruguay

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân nước Cộng hòa Cuba Esteban Lazo Hernandez, Chủ tịch Hạ viện nước Cộng hòa Argentina Cecilia Moreau, Chủ tịch Thượng viện nước Cộng hòa Đông Uruguay Beatriz Argimon Cedeira, sáng 18/4, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam rời Hà Nội, lên đường thăm chính thức Cộng hòa Cuba, Cộng hòa Argentina và Cộng hòa Đông Uruguay, từ ngày 18-28/4/2023.

 BÁC ĐÃ TIÊN LIỆU TRƯỚC ! 

"Tôi không sợ bọn đế quốc, bọn phản động. Đồng bào sẽ đánh thắng chúng.

Tôi chỉ sợ những hành vi xấu xa của cán bộ, làm cho đồng bào mất lòng tin với chế độ, Nhà nước và Đảng. Có thể nói, kẻ phá hoại sự nghiệp cách mạng đáng sợ nhất là những người ấy, vì trước mắt đồng bào, họ là Đảng và Nhà nước.

Kẻ thù hàng ngày nói xấu chúng ta, đồng bào ta không mắc lừa. Người của ta làm hại cách mạng là nguy hiểm nhất. Đồng bào sẽ xa lánh, không tin chúng ta. Đưa những người yếu kém về năng lực, nhất là kém cỏi về phẩm chất, nhân cách vào bất kỳ nhiệm vụ nào cũng nguy hại" LVK ST

DÁM NGHĨ DÁM LÀM, DÁM CHỊU TRÁNH NHIỆM

 

Sáng 19/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, chủ trì Phiên họp thứ 4 của Ban Chỉ đạo.

Phát biểu tại cuộc họp, Thủ tướng nêu rõ cần chấm dứt tình trạng sợ trách nhiệm, không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất của một bộ phận cán bộ, công chức; tình trạng đùn đẩy trách nhiệm các cơ quan, các bộ, các ngành, giữa Trung ương với địa phương.

Nếu cần thiết thì có các biện pháp xử lý cán bộ phù hợp; đồng thời động viên, bảo vệ, khuyến khích những người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì công việc chung; vừa khắc phục, xử lý các mặt yếu kém, vừa thúc đẩy mặt tích cực./. 

ĐẤU TRANH GIAI CẤP KHÔNG PHẢI LÀ ĐỘNG LỰC DUY NHẤT CỦA TIẾN BỘ XÃ HỘI

     Tiến bộ xã hội theo tiếng Latinh - Progressus nghĩa là vận động tiến về phía trước, là một kiểu, một khuynh hướng phát triển được đặc trưng bởi bước chuyển từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của xã hội. Vậy đâu sẽ là động lực của sự tiến bộ, của sự phát triển xã hội loài người? Có nhiều luận giải khác nhau về vấn đề này, trong đó có những luận điệu đã cho rằng học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin đã quá đề cao vai trò của đấu tranh giai cấp và cho đó là động lực của mọi xã hội và là động lực duy nhất của sự phát triển xã hội. Đó thực chất là những luận điệu xuyên tạc, cố ý làm ẩn đi bản chất đúng đắn, khách quan của học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mục tiêu thực chất sau những luận điệu trên là làm cho chúng ta có những cách hiểu sai lệch vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp; từ đó coi nhẹ đấu tranh giai cấp; mất dần niềm tin vào hệ tư tưởng của dân tộc; không tin vào đường lối của Đảng, không tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Vì vậy, cần có cách nhìn đúng đắn, cách hiểu sâu sắc vấn đề trên.

          Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vaydơmaiơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: (1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, (2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, (3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp".

          Như vậy, C.Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

          Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.

          Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học - kỹ thuật... Vì vậy không nên cường điệu động lực đấu tranh giai cấp.

          Đại hội XIII của Đảng ta đã hoàn thiện quan điểm về động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

          Như vậy, Ðảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mới.

Phân biệt và nhận diện tin giả trên mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Trên thế giới tin giả đã xuất hiện từ rất lâu, những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng xã hội, tin giả xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn ở nhiều quốc gia, Việt Nam cũng là một trong các nước phải ghánh.

Để tránh mắc bẫy tin giả, người đọc không nên tin ngay mà cần kiểm tra chéo trên các báo chí chính thống cũng như nguồn tin chia sẻ vì hiện nay có rất nhiều nguồn không rõ căn cứ. Một số kinh nghiệm được nhiều chuyên gia chia sẻ trong việc nhận diện tin giả gồm truy nguồn thông tin, xem tin đó đăng tải ở đâu, tên hiển thị là gì, tên miền là gì, ai là người chia sẻ. Bước tiếp theo, người đọc cần những biện pháp mang tính kỹ thuật hơn như xem thông tin có khách quan, đa chiều không hay chỉ một chiều, viết theo chủ quan của người viết? Các thông tin đưa ra có bằng chứng không, được đơn vị nào có thẩm quyền thẩm định không? để phòng tránh tin giả thì chúng ta nên tập tư duy phản biện và đừng tin vào bất cứ thông tin gì ngay lần đầu đọc nó. Đặc biệt, khi gặp một thông tin trái với dòng chảy thông tin thông thường đang diễn ra thì chúng ta nên bình tĩnh đọc kỹ, suy xét cẩn thận và cuối cùng, khi chia sẻ thông tin gì, hãy nghĩ đến trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, nghĩ đến hậu quả nếu đó là tin giả để thận trọng hơn.

Mặc dù pháp luật đã có quy định về hình phạt đối với hành vi phát tán tin giả, phát tán thông tin nhằm mục đích vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức và cũng đã có nhiều người bị xử phạt hành chính, thậm chí bị xử lý hình sự về hành vi này nhưng cho tới nay, câu chuyện tin giả vẫn là một vấn nạn. Điều này cho thấy, không chỉ các cơ quan bảo vệ pháp luật cần có giải pháp hiệu quả hơn với những người cố tình đưa thông tin giả, thông tin độc hại tới cộng đồng mà chính người dùng mạng xã hội nói riêng và người dân nói chung cần có sự tỉnh táo khi tiếp nhận tin từ những nguồn tin không chính thống. 

Để có thể tạo được khả năng miễn dịch đủ mạnh, đủ lớn trong cộng đồng, mỗi người dân tham gia mạng xã hội cần có ý thức trách nhiệm với chính bản thân, với cộng đồng xã hội, phải có sự hiểu biết về pháp luật, xây dựng được ý thức cảnh giác với tin giả, luôn tỉnh táo, thận trọng trong việc đăng và tiếp nhận thông tin, bình luận, luôn coi trọng nguyên tắc và chuẩn mực văn hoá, đạo đức, pháp luật khi tham gia và tiếp nhận thông tin trên không gian mạng. Cần rèn cho mình kỹ năng nhận biết tin giả như kiểm tra xuất xứ thông tin, kiểm tra tựa bài có khớp với nội dung, kiểm tra thời gian thông tin, xem xét nguồn tin trong bài, xem xét độ phủ sóng và xem xét chủ quan bản thân, tự rèn thói quen đọc tin chính thống, kiểm chứng thông tin trước khi ấn like, share hoặc bình luận. 

Nên tìm đọc các chỉ dẫn của các chuyên gia nghiên cứu về tin giả đăng tải trên các tạp chí khoa học, các trang web của các cơ quan đào tạo, nghiên cứu báo chí truyền thông có uy tín để tự mình nhận diện tin thật – tin giả, tránh việc vì thiếu những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà vô tình hoặc bị lợi dụng trở thành người đưa tin giả.