Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

“SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” - ĐỀ CƯƠNG MỘT CUỘC CHỈNH ĐỐN VĨ ĐẠI!

         Không nhiều về số trang nhưng tác phẩm đặt ra những vấn đề rất lớn của cách mạng, của đảng cầm quyền, đặt trong bối cảnh những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cực kỳ gay go, thiếu thốn, ác liệt, soi dưới ánh sáng văn hóa mới mẻ nhất của nhân loại hôm nay càng thấy tầm vóc thiên tài của tác giả!
     Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết xong tháng 10/1947, tác giả ký tên X.Y.Z. được Nhà xuất bản Sự thật in lần đầu năm 1948, dày 100 trang. Năm 1959 Nhà xuất bản in lại, tác giả ký tên thật là Hồ Chí Minh. Năm 2011, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập), tập 5, dày 77 trang(1). Không nhiều về số trang nhưng tác phẩm đặt ra những vấn đề rất lớn của cách mạng, của đảng cầm quyền, đặt trong bối cảnh những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cực kỳ gay go, thiếu thốn, ác liệt, soi dưới ánh sáng văn hóa mới mẻ nhất của nhân loại hôm nay càng thấy tầm vóc thiên tài của tác giả. Bài viết xin được triển khai từ ba phương diện cơ bản: “Sửa đổi lối làm việc” cho hợp với bản chất thời đại dân chủ; “Sửa đổi lối làm việc” của đảng lãnh đạo, của đảng viên, cán bộ; “Sửa đổi lối làm việc” theo tư duy của dân, vì dân.

I. “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” CHO HỢP VỚI BẢN CHẤT THỜI ĐẠI DÂN CHỦ
Lối làm việc là phong cách, lề lối, cách thức làm việc. Ở bất cứ xã hội nào, thời đại nào thì lối làm việc cũng nói một cách rõ nhất bản chất thời đại ấy. Vì qua cách làm việc sẽ cho thấy đạo đức công vụ cũng như đạo đức đảng cầm quyền, cho thấy hiệu quả và mục đích công việc. Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng triệt để nhất đổi thay cách làm việc từ lề lối phong kiến quan liêu, phi dân chủ sang lề lối làm việc vì dân, cách mạng. Nhưng sự ảnh hưởng từ xã hội cũ còn rơi rớt tất yếu chưa được gột bỏ, đất nước lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng khó khăn. Lề lối làm việc từ Trung ương đến địa phương, từ lãnh đạo cao nhất đến cán bộ gần dân nhất cũng tất yếu chưa theo kịp với yêu cầu của nhiệm vụ và cuộc sống kháng chiến. Vì lẽ này Hồ Chí Minh ký bút danh khi viết Sửa đổi lối làm việc với cái ý ai cũng cần “sửa đổi”, kể cả lãnh đạo cao nhất. Ngay việc làm này đã cho thấy một tinh thần dân chủ, khoa học, bình đẳng của tác phẩm!

Bác dùng chữ rất giản dị nhưng rõ ràng, dễ hiểu, “sửa đổi” nghĩa là phải sửa lại, đổi thay lối làm việc, ai cũng có thể làm được. Nếu viết “Cách mạng lối làm việc” thì to tát quá và cũng không đúng với bản chất vấn đề vì Nhà nước mới đã ra đời 2 năm, tức lối làm việc mới đã có 2 năm rồi. Thế nên dùng “sửa đổi” là đúng nhất, lối làm việc mới đã có rồi nhưng nay phải sửa lại, đổi thay cho phù hợp.

Có thể coi tác phẩm là một đề cương mẫu cho các cuộc chỉnh đốn Đảng sau này.

1. Thời đại dân chủ lấy dân làm gốc

Cả cuộc đời Bác Hồ đau đáu, thao thức một chữ DÂN, từ khi đi tìm đường cứu nước cho đến khi về với Các Mác, Lênin. Khi còn hoạt động ở Pháp, trên báo Le Paria số 4, ngày 1/7/1922, trong nguyên bản tiếng Pháp bài báo Thù ghét chủng tộc tác giả dùng hai chữ “con gái” bằng tiếng Việt(2). Trên báo L’Humanité ngày 17/8/1922, trong nguyên bản bài Dưới sự bảo hộ của… các chữ “nhà quê”, “Quan lớn”, “lính lệ” viết bằng tiếng Việt(3). Trong truyện Vi hành chữ “dân” viết bằng tiếng Việt. Đặc biệt hai chữ “nhà quê” được tác giả đều viết bằng tiếng Việt trong các văn bản tiếng Pháp. Không phải là trong tiếng Pháp không có từ tương ứng mà tác giả có dụng ý hẳn hoi. Có thể là từ ấy quen với người Pháp ở An Nam, ví dụ hai chữ “con gái” thường xuất hiện trong các bài báo tiếng Pháp là do người Pháp nuôi những thiếu nữ người Việt vừa để hầu hạ vừa làm trò chơi, họ gọi những người này bằng âm tiếng Việt. Hai chữ “nhà quê” thì mang sắc thái biểu cảm rõ ràng, trong văn cảnh cụ thể thì có thể đó là sắc thái mỉa mai những tên thực dân khinh thường dân An Nam thuộc địa hoặc có thể là tâm trạng xót xa của người viết trước cảnh đồng bào mình bị bóc lột tàn tệ… Các chữ ấy là cách viết khác của chữ DÂN. Sau này khi là Chủ tịch nước, Bác nhắc cán bộ: “Các chú nên nhớ rằng Bác làm Chủ tịch, Chủ tịch cũng là đầy tớ của nhân dân, phải phục vụ nhân dân vô điều kiện”(4). Trong Sửa đổi lối làm việc nổi bật lên 3 chân lý:
Một là, “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt”.

Hai là, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng”. “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”.

Ba là, “Lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng”. “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được”.

Đây là ba cột chống vững chãi: tình cảm của dân, trí tuệ của dân, sức mạnh của dân để nâng đỡ tòa tháp dân chủ. “Ý tại ngôn ngoại” của vấn đề còn thật rộng dài, sâu sắc: Người Việt “trọn nghĩa vẹn tình”, tôn thờ đạo Hiếu, Đảng cũng từ dân mà ra, nhờ dân giúp đỡ mà thành công... Đảng, Chính phủ, cán bộ phải ứng xử thế nào cho tương xứng với lòng tốt của dân, với truyền thống dân tộc. “Dân chúng rất khôn khéo...” nên phải gần dân để học hỏi dân, nhờ dân chỉ bảo. “Lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng” nên phải biết dựa vào dân, tận dụng sức dân, phát huy sức mạnh của dân. Có thể khái quát lại thành nguyên lý: muốn thành công phải gần dân, yêu dân, học dân, vì dân!

2. Đảng, Chính phủ, cán bộ đảng viên phải làm gì?
Trả lời một cách rõ ràng câu hỏi này chính là mục II. Mấy điều kinh nghiệm, nổi bật lên cái ý về tính mục đích của Đảng, Chính phủ: “vì ai mà làm”, “vì ai mà chịu trách nhiệm”. Câu trả lời đúng nhất là: “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Vì vậy, ngay luận điểm đầu tác giả nêu kinh nghiệm “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”. Cán bộ thay mặt Đảng, Chính phủ làm việc với dân nên nếu cán bộ dốt, cán bộ xấu thì đường lối Đảng, chỉ thị của Chính phủ bị uốn cong, tốt thành xấu. Thế nên tác giả khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Chọn, huấn luyện, sử dụng cán bộ thế nào, tác giả lại dành hẳn một mục lớn - mục IV. Vấn đề cán bộ.

Với Đảng, cố nhiên quan trọng nhất là “cách lãnh đạo”, nhưng “chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”. Tác giả nhấn mạnh nhiều lần cái ý: Đảng từ trong quần chúng mà ra rồi lại “về sâu trong quần chúng” tức phải hiểu dân để phục vụ dân. Mọi chính sách, nghị quyết phải căn cứ vào tình hình của dân, làm theo ý dân chứ không phải theo ý chủ quan của mình. Nếu cứ chủ quan thì là cách làm “khoét chân cho vừa giầy”. Phải có một tài năng khái quát mới có một hình tượng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ này: “Chân là quần chúng. Giầy là cách tổ chức và làm việc của ta. Ai cũng đóng giầy theo chân. Không ai đóng chân theo giầy”. Còn bật ra một ý: Đảng ta cũng mang sứ mệnh như cái giầy biết bảo vệ, nâng đỡ giúp chân quần chúng đi đứng nhanh nhẹn, vững vàng, an toàn hơn!

Quan niệm của Bác về quan hệ “Dân” và “Chính phủ” để “thực hành dân chủ” hết sức biện chứng: “Chính phủ Cộng hoà Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi(5). Chỉ mấy câu ngắn nhưng ba lần Bác nhắc lại hai chữ “đày tớ” để nhấn mạnh tới bổn phận của Chính phủ. Hai lần Bác nhắc lại hai chữ “phê bình” là nói về trách nhiệm của dân. Dân yêu Chính phủ thì phải phê bình đúng đắn, nghiêm túc (chứ không phải “chửi” một cách vô nguyên tắc) để Chính phủ tiến bộ. Lời dạy ấy hôm nay cố gắng làm sao thấm nhuần đến tận mỗi cán bộ, mỗi người dân!

II. “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” CỦA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, CỦA ĐẢNG VIÊN, CÁN BỘ
1. “Sửa đổi lối làm việc” của đảng lãnh đạo

Bác Hồ là người kiến tạo nên mô hình một đảng cầm quyền thực sự vĩ đại đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Đó là cuộc cách mạng khiến cả thế giới khâm phục, ngưỡng mộ, kính trọng. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, Đảng tất yếu phải có những điều chỉnh để thích ứng, chưa kể qua thực tiễn thời gian Đảng để lộ ra những khuyết điểm, những hạn chế cần phải “sửa đổi”. Đây là một bài học cho bất cứ đảng lãnh đạo nào, cuộc sống luôn biến chuyển, do vậy phải luôn có những điều chỉnh. Với tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã làm một cuộc chỉnh đốn Đảng mẫu mực. Cấu trúc của tác phẩm cũng đã phần nào nói lên về cách thức chỉnh đốn với 6 cụm vấn đề lớn: I. Phê bình và sửa chữa; II. Mấy điều kinh nghiệm; III. Tư cách và đạo đức cách mạng; IV. Vấn đề cán bộ; V. Cách lãnh đạo; VI. Chống thói ba hoa. Trước hết là phải “phê bình” tìm ra “khuyết điểm rất to” để “thiết thực học tập, sửa chữa” với mục đích “tẩy sạch” khuyết điểm cho “công việc mới có thể tiến bộ”. Muốn vậy phải căn cứ, phải dựa vào thực tế nên tiếp theo tác giả đi sâu vào “II. Mấy điều kinh nghiệm”. Không hề là “kinh nghiệm chủ nghĩa” mà thực sự biện chứng, phải soi vào cuộc sống thực tế để thấy được những điều hay dở mà “sửa đổi”...

“Khuyết điểm rất to” được tác giả chỉ ra ở ngay hai dòng đầu tiên là “xao nhãng việc học tập”. Đây là nguyên nhân “mẹ” đẻ ra biết bao các khuyết điểm “con”, do vậy phải “đột phá” vào nó tìm cách làm để sửa, phải có “tổ chức”, có “thời gian học tập”, “tài liệu học tập”, “cách thức học tập”, “cách phê bình”, “kiểm tra”, “báo cáo”. Soi lý luận dạy học hiện đại của ngày hôm nay vào đó sẽ thấy đây là một mô hình khoa học đầy đủ, trọn vẹn nhất của một quá trình học tập không chỉ của một tổ chức, một tập thể, còn là của cá nhân.

Với Đảng thì ba khuyết điểm tức “ba chứng bệnh rất nguy hiểm” là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa. Mỗi bệnh đều được tác giả tìm ra nguyên nhân tức là cách “bắt bệnh” để có thuốc chữa, như bệnh chủ quan là do “kém lý luận hoặc khinh lý luận hoặc lý luận suông”. Vì lý luận chỉ phương hướng cho người đi nên cái nguy hiểm của căn bệnh này, là sẽ “lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Lý luận phải được áp dụng vào công việc, còn lý luận chay, lý luận suông thì chẳng ý nghĩa gì cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh sinh động, tươi mới vì luôn gắn liền lý luận với thực tế, học với hành. Nguyên nhân của căn bệnh hẹp hòi được tác giả chỉ ra cũng là do ít chịu học tập, chỉ thấy mình là giỏi nên coi thường, khinh bỉ người khác. Hậu quả của nó là dần dần tự cô độc chính mình, xa rời quần chúng, đố kỵ, ghét bỏ người tài... Căn bệnh “ba hoa” còn nguy hiểm hơn nên cách chữa phức tạp hơn do vậy tác giả dành hẳn một mục ở cuối để phân tích, bàn luận (VI. Chống thói ba hoa).

Ở mục III. Tư cách và đạo đức cách mạng, tác giả nêu ra 12 điều mang tính “cẩm nang” để Đảng phát triển, khép lại bằng hai câu thơ lục bát vừa là khái quát tầm quan trọng vừa là lời nhắc nhở, khuyên nhủ: “Muốn cho Đảng được vững bền/ Mười hai điều đó chớ quên điều nào”. 12 điều này là sự khái quát ở mức cô đọng nhất về mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò, động lực, phương châm, phương thức, cách thức hoạt động của một đảng “luôn luôn đứng về phía quần chúng”, “liên hiệp chặt chẽ với dân chúng”. Đây là lý luận về sự tồn tại và phát triển của một đảng cầm quyền vì dân, gắn bó với dân ngắn gọn nhưng cũng đầy đủ nhất. Bằng cái nhìn đối sánh sẽ thấy đây là sự kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao các lý thuyết tiên tiến trước đó trên thế giới về đảng cầm quyền được diễn tả một cách giản dị, dễ hiểu nhất.

Về chính sách cán bộ của Đảng, tác giả nhấn vào “mấy điểm lớn”: Hiểu biết cán bộ, Khéo dùng cán bộ, Cất nhắc cán bộ, Thương yêu cán bộ, Phê bình cán bộ. Soi vào ngày hôm nay vẫn thấy đây là những vấn đề thời sự nhức nhối: chưa hiểu thấu cán bộ nên sử dụng không đúng, cất nhắc vào những vị trí chủ chốt, chỉ một thời gian ngắn, cán bộ đó bị kỷ luật. Càng thấy những lời “phê bình” của Bác cách nay 75 năm như là nói với hôm nay. Thế nên việc học và làm theo lời Bác phải thiết thực, thường xuyên, cụ thể hơn.

2. “Sửa đổi lối làm việc” của đảng viên, cán bộ
Nổi bật lên ở mục III, phần B. Phận sự của đảng viên và cán bộ là sự kiến tạo một mô hình con người văn hóa cán bộ mới mẻ, sinh động và thuyết phục. Thời đại nào cũng có mô hình con người của thời đại đó. Việc kiến tạo nên mô hình con người này là nhiệm vụ của triết học - triết học con người. Ở thời đại Hồ Chí Minh không phải ai khác mà chính Hồ Chí Minh là người đã kiến tạo, xác lập nên một mô hình con người văn hóa cho thời đại mình. Hồ Chí Minh là một nhà triết học đích thực. Chỉ ngay một câu nói “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” là rất triết học, ở chỗ coi con người là chủ thể quyết định, ở mối quan hệ biện chứng con người và môi trường... Tiếp thu cái cũ nhưng loại bỏ (phủ định) cái lạc hậu, lỗi thời, kế thừa cái hạt nhân tích cực, tiến bộ để tạo ra cái mới. Đó là biện chứng Hồ Chí Minh, với mô hình con người văn hóa cán bộ này thì vửa truyền thống (bao gồm năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm) vừa rất mới với phẩm chất trước hết là tính lý tưởng, tức “tính đảng”, phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết. Ở mục C. Tư cách và bổn phận đảng viên chính là cái lõi của mô hình. Cơ sở của đối thoại văn hóa ở thời 4.0 gồm các yếu tố hiểu biết, bình đẳng, có tiếng nói riêng, biết lắng nghe. Thiếu các yếu tố ấy không thể làm nên cuộc đối thoại vì không thể tạo nên vị thế đối thoại. Vị thế ấy chính là tư cách. Không hiểu biết làm sao có cái để nói chuyện. Không có sự khác biệt của riêng mình nên bị lẫn vào số đông thì làm sao người ta để ý tới... Là đảng viên càng phải có tư cách. Tư cách đảng viên như tấm gương sáng để dân chúng học hỏi, noi theo. Còn phải làm tốt bổn phận. Bác không dùng từ Hán Việt “trách nhiệm”, “nghĩa vụ” mà dùng từ “bổn phận” đã được Việt hóa là cách nói thông dụng của dân chúng (phận làm con, biết thân biết phận...). “Bổn” là biến thể của “bản” nghĩa là gốc, là vốn. “Bổn phận” là nói phần việc mình phải gánh vác, lo liệu, ngoài nghĩa “trách nhiệm”, “nghĩa vụ” còn thêm cái ý: đó là cái tất yếu của riêng mình phải làm cho tốt. Ngay cách dùng từ đã cho thấy một “tư cách” ở tầm kiệt xuất của tác giả. Con người (tư cách) đảng viên là tinh hoa của xã hội. Ngày hôm nay các nhà giáo dục đang thiết kế cấu trúc nhân cách con người của thời đại mới nhất thiết phải lấy tư tưởng này của Bác Hồ làm điểm tựa!

Để mẫu người văn hóa này trở nên “toàn diện” thì việc đầu tiên phải làm là chữa căn bệnh “chủ nghĩa cá nhân”. Đó là những con mọt (tác giả gọi là “thứ vi trùng rất độc”) đục khoét, làm ruỗng dẫn đến yếu sức các cây cột chống đạo đức, sớm muộn sẽ làm nghiêng ngả ngôi nhà nhân cách đảng viên. Tác giả gọi tên, liệt kê đích danh các loại “mọt” (vi trùng) ấy: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ. Và các thứ bệnh có thể nhẹ hơn nhưng không kém phần nguy hiển như bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh, “cận thị”, “cá nhân”, bệnh “tỵ nạnh”, bệnh “xu nịnh, a dua”... Chỉ ra các căn bệnh, và đúng với phong cách của người thầy thuốc, là tác giả đưa ra “cách chữa” với đặc điểm là không chỉ căn cứ vào “con bệnh”, còn vạch ra, chỉ ra các mối quan hệ với môi trường xã hội, tức quan hệ cấp trên cấp dưới, quan hệ đồng chí, quan hệ với công việc, quan hệ với dân... để chữa trị toàn diện, triệt để hơn.

Với quan niệm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” có vị trí rất quan trọng là cầu nối giữa Đảng và dân “đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng...”, tác giả tập trung phân tích “vấn đề cán bộ” ở các phương diện huấn luyện, lựa chọn, sử dụng, chính sách. Nhìn từ góc độ con người, mối quan tâm lớn nhất của Bác Hồ là Dân - “đồng bào” và cán bộ. Một trăn trở lớn nhất của Người là làm sao để cán bộ làm “đày tớ” cho dân tốt hơn. Muốn vậy phải “huấn luyện”. Điều này lý giải vì sao thời kỳ kháng chiến ở Việt Bắc, bận trăm công ngàn việc nhưng Người vẫn dành thời gian đến với các lớp chỉnh huấn. Cần thêm sự khẳng định một trong những “cái nôi” của cách mạng Việt Nam là các lớp “huấn luyện chính trị” do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở nước ngoài và trực tiếp làm giáo viên giảng dạy. Những “tài liệu huấn luyện” ở các lớp này được sưu tầm đầy đủ sẽ là tài sản vô giá của cách mạng Việt Nam. Mở đầu mục IV, tác giả đặt vấn đề “Huấn luyện cán bộ” và coi “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Đúng với phong cách “sửa đổi”, tác giả vạch ra “khuyết điểm trong sự huấn luyện” rồi đưa ra “cách”: Huấn luyện nghề nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận. Mỗi “huấn luyện” lại có các “cách” riêng phù hợp, thiết thực, cụ thể. Bao trùm lên các “huấn luyện” là: “Lấy tự học làm cốt”. “Tự học” là một yêu cầu, một phẩm chất văn hóa ở bất kỳ thời nào, với các danh nhân càng thế và Hồ Chí Minh là một tấm gương. Bác Hồ truyền cái tinh thần ấy tới cán bộ của mình trong câu văn 5 chữ ngắn gọn chắc chắn như một sự khẳng định.

III. “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” THEO TƯ DUY CỦA DÂN, VÌ DÂN
1. Ngụ ngôn là dùng lời nói để gửi gắm một ý tứ xa xôi bóng gió nào đó. Đây là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất xuất hiện trước công nguyên ở văn học các nước Hy Lạp, Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ… Có tính giáo dục sâu sắc nên ngụ ngôn được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong dân gian rồi được các nhà tư tưởng lấy đó để diễn đạt các suy nghĩ, quan niệm của họ. Trên thực tế các nhà ngụ ngôn nổi tiếng thế giới như Êdốp, Pheđơrơ, La Phôngten, Trang Tử, Liệt Tử… cũng đều là các nhà tư tưởng. Với ngụ ngôn thì các ý niệm trừu tượng, khó hiểu được diễn đạt một cách cụ thể qua một câu chuyện, mẩu chuyện, thậm chí là hình tượng để vấn đề trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nhiều thành ngữ tục ngữ của người Việt mang tính ngụ ngôn hoặc là một truyện ngụ ngôn rút gọn (như thành ngữ Đẽo cày giữa đường). Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ triệt để dùng ngụ ngôn làm phương tiện giáo dục một cách nghệ thuật. Ví dụ, châm biếm những người nói/viết khó hiểu, tác giả dùng thành ngữ ngụ ngôn rồi phát triển thành một ý mới phù hợp với cuộc sống mới: “Tục ngữ nói “gẩy đờn tai trâu” là có ý chế người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là “trâu”.

Hình tượng ngụ ngôn thường tác động một cách trực giác tới người đọc, giúp họ hiểu vấn đề nhanh hơn trong niềm khoái cảm nhận ra một chân lý mới. Khuyên cán bộ phải ra sức học tập lý luận, Bác nói: “Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ. Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”. Hai vấn đề thực hành và lý luận được so sánh như hai con mắt - luôn có nét nghĩa giúp người nhìn rõ để hoạt động. Thực hành và lý luận sẽ giúp cán bộ làm việc tốt hơn, nếu thiếu một, chất lượng công việc chắc chắn giảm sút nhiều. Còn thêm cái ý ai cũng phải giữ gìn, coi trọng, rèn luyện mắt của mình, thì cũng phải giữ gìn, coi trọng, rèn luyện thực hành và lý luận như đôi mắt vậy!

Ở một ví dụ khác, hình tượng ngụ ngôn được dùng cụ thể, sinh động, vấn đề càng trở nên dễ hiểu: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”. Phê phán tình trạng quan liêu xa dời thực tế tác giả vận dụng thành ngữ sinh động, ngộ nghĩnh, thật dễ hiểu, dễ tiếp thu lại không “tự ái”: “Không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn”, không ăn khớp gì hết”.

2. Mục V. Cách lãnh đạo, tác giả đưa ra một nhận định rất quan trọng: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh”. Một mục đích của tác phẩm là dạy cán bộ, đảng viên phải gần dân, học dân nên ở đây tác giả triệt để “làm gương” dùng rất nhiều so sánh là cách nói của dân mộc mạc, tự nhiên, gần gũi, dễ hiểu. Đặc điểm nghệ thuật so sánh của tác giả là vừa hàn lâm, bác học, hiện đại, mới mẻ vừa khẩu ngữ, nôm na, bình dân, thông dụng: “Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”. Các từ (khái niệm) “khuyết điểm”, “phê bình” mang màu sắc hiện đại, hàn lâm nhưng “chứng bệnh”, “uống thuốc” thì dân giã. “La lết quả dưa” là thành ngữ quen thuộc nói về sự héo úa, mất hết sức sống đến thảm hại. Tương tự với ví dụ sau: “Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hoá”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”. “Quan liêu hóa” và “tự mãn tự túc” thì có khi nhiều cán bộ chưa hiểu nhưng có so sánh làm bổ ngữ (cũng là thành ngữ ngụ ngôn) “mèo khen mèo dài đuôi” đi kèm thì vấn đề như được vỡ ra, rõ ra!

Những so sánh còn mang tính quy luật phổ biến, gần gũi hoặc đúng với thực tế: “Cũng như một nhà có rể khờ, dâu dại, không thể cấm họ gặp gỡ bà con. Đảng ta dù muốn giấu những người và những việc không tốt kia, cũng không thể giấu… Họ sẽ ngơ ngác mà hỏi “Đảng này là Đảng tốt, đảng viên đều là người tốt, vì sao lại có những người vu vơ, những việc mờ tối như thế nhỉ?”. Một nét tâm lý dân quê ngày xưa là thường “sĩ diện hão” (Tốt khoe ra xấu xa đậy lại). Nhưng vì là con người buộc phải tiếp xúc nên nhà nào có “rể khờ, dâu dại” cũng thật khó giấu. Thực tế này được so sánh với “mặt trái” cách làm việc Đảng “muốn giấu những người và những việc không tốt”... So sánh làm vấn đề tự nhiên, hóm hỉnh cứ như chuyện ngoài đời vậy. Một so sánh khác: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng”. “Rửa mặt” là việc làm tất yếu, đơn giản, thường xuyên. Tự kiểm điểm, phê bình cũng như việc “rửa mặt” vậy. Ở nhà quê xưa thì ai cũng biết công việc giã gạo, tác giả đem ví với việc “cất nhắc cán bộ” to tát mà trừu tượng, vấn đề được “giản dị hóa”, dễ hiểu hơn nhiểu: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ”.

Nhờ tựa vào một thành ngữ, tục ngữ nên so sánh của tác giả luôn có xu hướng cụ thể hóa vấn đề. Phê bình những người nói mà không chuẩn bị chu đáo thì “Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn. Nói nữa thì chán tai”. “Gà mắc tóc” nên luôn có hành động “lúng túng” để thoát ra khỏi một tình thế khó khăn, người nói năng kém cỏi cũng như “con gà” này vậy. Đó là lối so sánh “vật hóa” để châm biếm. Như ví dụ “gẩy đờn tai trâu” đã dẫn ở trên thì mỉa mai: “những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là trâu”. Có trường hợp lấy nguyên một hoặc nhiều thành ngữ làm tiền để cho lời nói (nhận định, khuyên nhủ) của mình tạo ra một diễn ngôn chắc chắn, mang tính chân lý: “Đá đi lâu cũng mòn. Sắt mài lâu cũng sắc. Ta cố gắng sửa chữa thì khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm…”. Hoặc ngược lại, để tạo ra diễn ngôn hài hước, chế giễu. Ở ví dụ sau tác giả vạch ra cái gốc của căn bệnh xu nịnh, a dua là vì muốn tiến thân nên phải cơ hội, lá mặt lá trái, rất nguy hiểm: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Có trường hợp tác giả tự tạo ra một thành ngữ mới, ví dụ Người từng chế giễu “cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”, trong Sửa đổi lối làm việc tác giả so sánh cách viết “lằng nhằng” chẳng khác nào “vải băng bó mụn lở, đã thối lại dài”. “Vải băng bó mụn lở” là thành ngữ mới của chính người viết châm biếm sâu cay lối viết rỗng tuếch, “lằng nhằng”, chẳng ra đâu vào đâu...

Phê phán thói làm việc lề mề chậm chạp, thiếu khoa học, tác giả giễu những người “lười biếng, chậm chạp”: “Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng. Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp. Vì không hiểu rằng: Đảng cũng như thân thể một con người. Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khoẻ. Mạch máu dừng lại đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh”. Lời văn là lời ăn tiếng nói của nông dân, sinh động như một đoạn văn vần dễ nhớ với các từ láy toàn bộ “kềnh kềnh càng càng”, láy phụ âm “sốt sắng”, nhất là cách gieo vần của ca dao “nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”. Nhưng so sánh thì thật sự bác học, là cách nói của nhà chính trị hiểu sâu kiến thức khoa học y khoa: “Đảng cũng như thân thể một con người. Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khoẻ”. Không chỉ đúng ở thời đó, ở thời đại thông tin bùng nổ hôm nay càng đúng!

Lối so sánh lấy điểm tựa là quy luật tự nhiên để nói về quy luật của cách mạng, của con người nên chắc chắn, thuyết phục, thấm thía: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Quy luật của sông nước, cây cối này như một sự hiển nhiên đem so sánh với “người cách mạng”, thì cũng là sự hiển nhiên như vậy!

Nhìn từ góc độ con chữ sẽ thấy các chữ “thiết thực”, “cốt” được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một lời nhắn thiết tha: phải đề cao tính mục đích (cốt), phải thiết thực phê bình sửa chữa cũng như phê bình sửa chữa phải thiết thực!

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường cho dân tộc ta, đất nước ta vững bước đi lên con đường hạnh phúc của Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản thì tác phẩm Sửa đổi lối làm việc là ánh sáng cho những cuộc chỉnh đốn rất cần thiết để Đảng khỏe mạnh hơn, phục vụ dân tốt hơn!./.
 _____________________
(1) Các dẫn chứng trong bài viết, nếu không chú thích đều lấy từ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” in trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, từ tr.269 đến 346.

(2) (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1. Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.1, tr 103, 121.

(4) Hồ Chí Minh với văn nghệ sỹ - Văn nghệ sỹ với Hồ Chí Minh. Nxb, Hội Nhà văn, H, 2010, t.1, tr.226.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.75./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947.
Yêu nước ST.

CÚI ĐẦU TRƯỚC CỎ


Trong cỏ ấy mang chứa những gì của quá khứ mà xanh buốt đến vậy? Mỗi lần đến đây, trong tôi thường hiện lên câu hỏi đó. Trả lời tôi là im lặng của cỏ.


Tôi nghe được những khoảng lặng im mênh mang… Thành cổ Quảng Trị. Cây cỏ đã tươi xanh. Tươi xanh ngằn ngặt, tươi xanh nghi ngút như là sự bù đắp không dễ nói được thành lời. Sông Thạch Hãn không xa mấy đã là dòng chảy hòa bình, soi rõ trời xanh lồng lộng và có khi nhuộm đỏ ráng chiều rừng rực mầu lửa cháy. Những đám mây mầu cánh vạc có lúc cũng qua sông, khói sóng phảng phất trên mấy gợn gió ký ức của thời gian.


Từ trên đài chứng tích, tôi nhìn xuống, nhìn ra xa chỉ thấy cỏ. Cỏ nối nhau, nối nhau dọc ngang thành một miền xanh thăm thẳm; tôi chưa bao giờ đi hết được miền diệp lục lạ kỳ đó, hình như thế. Dẫu rằng, những gì xảy ra với vùng đất rộng chưa đến ba cây số vuông này ở nửa thế kỷ trước người ta đã kể lại nhiều. Trong muôn vàn câu chuyện về Thành cổ được nghe, tôi thật sự ám ảnh với câu nói của một cựu binh từng tham gia tác chiến ở đây năm 1972. Nguyên văn câu anh nói: “Ở Thành cổ Quảng Trị rêu cũng đỏ như m.áu”. Tôi nhập dẫn tâm thức vào câu nói của anh để bật ra hai câu khai mở cho bài thơ “Thắp cho Thành cổ” của mình: “Rêu cũng đỏ như đã từng là m.áu/Cỏ xanh hơn nơi vạn chiến binh nằm”. Rêu và m.áu. Cỏ và chiến binh. 81 ngày đêm. Mùa hè năm 1972. Cho đến bây giờ, theo như tôi biết thì người ta chưa thống kê được một cách chính xác có bao nhiêu chiến sĩ ta đã h.y s.inh ở Thành cổ Quảng Trị. Năm nghìn hay mười nghìn? Ai đã tìm thấy h.ài c.ốt và ai đang nằm dưới cỏ, dưới đáy sông Thạch Hãn?


Vùng đất này nổi tiếng khắc bạc với hai mùa rất rõ rệt. Mùa nắng, nắng gay gắt như đổ lửa, nắng như trời bị cháy. Cộng thêm gió lào, cái thứ gió quái kiệt thổi giống bão khan từ hướng tây nam về, nóng và khô. Mùa mưa, mưa tầm tã như trút nước, mưa như trời bị thủng. Dân Quảng Trị hay chép miệng nói, mưa chi mà mưa dễ sợ, mưa thúi đất, thúi đai. Tôi từng đến Thành cổ Quảng Trị vào hai mùa, nắng và mưa. Mùa nào, thật lạ, là cỏ vẫn nhói xanh như thế. Thạch Hãn có thể đổi mầu nhưng cỏ Thành cổ vẫn giữ một sắc xanh nhức buốt. Tôi biết lính tham gia chiến đấu ở Quảng Trị phần đông còn rất trẻ, họ là sinh viên đến từ các giảng đường đại học, học sinh cuối cấp ba, thanh niên ở nhiều làng quê, khu phố…Trường cấp ba tôi học có bạn được gọi nhập ngũ từ đầu năm 1972. Có người không được trở về nơi mình đã ra đi. Chiến cuộc t.àn kh.ốc đến vậy cơ mà! Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm càng t.àn kh.ốc hơn. Đất đá bị xới đào. Cỏ lau bị thiêu cháy. Nhà cửa bị t.àn ph.á. Tan hoang. Đổ nát.


Bây giờ tôi đã hiểu, cỏ xanh thăm thẳm có lẽ cũng vì cỏ khâu vá những vết thương đất mẹ. Cỏ làm dịu lại đ.ớn đ.au dĩ vãng. Cỏ chính là ẩn dụ của bình yên. Trên cỏ sẽ là hoa. Trên sông sẽ là hoa. Tôi viết: “Thành cổ ơi, đã qua thời m.áu l.ửa/xin để hoa tươi được hát cho mình”. Những nhắn gửi của người sống tới thanh xuân bất tử. Giản dị vậy thôi mà cũng vô cùng sâu lắng. Tôi cúi đầu trước cỏ, lắng nghe cỏ Thành cổ thì thầm. Ngỡ như xa xăm mà thật gần gũi. Gần gũi như hương cỏ mùa xuân của tuổi thơ, của tuổi yêu, của những giấc mơ ăm ắp khát vọng trẻ. Trong cỏ, dưới cỏ đang có một thế giới nữa, chưa bao giờ chia cắt và không hề có th.ù h.ận đang đồng hành cùng ta trong khát vọng hòa bình tươi sáng./.

SONG TỬ TÂY - ĐẢO ĐẦU TIÊN ĐƯỢC GIẢI PHÓNG Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

 

QPTĐ- Với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, sáng ngày 14/4/1975, Quân đội ta đã giải phóng đảo Song Tử Tây (thuộc quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa), đây là chiến thắng đầu tiên ở quần đảo Trường Sa. Đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ những ngày tháng tư lịch sử, Song T.ử Tây vẫn luôn hiên ngang, kiên cường trước sóng gió, như minh chứng cho tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam.
Trước yêu cầu của cách mạng, Trường Sa là địa danh nằm trong cục diện giải phóng đất nước “thu giang sơn về một mối”. Cùng với 5 cánh quân tiến vào Sài Gòn-Gia Định, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xác định “đồng thời giải phóng Trường Sa”. Quân ủy Trung ương giao cho Quân chủng Hải quân trinh sát, nắm chắc tình hình và hành quân chiến đấu theo bức điện tuyệt mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân.
Chuyện giải phóng quần đảo Trường Sa lúc bấy giờ được coi là “cánh quân thứ sáu” nhưng giải phóng đảo Song T.ử Tây được coi là “thế đội chủ lực” của “cánh quân thứ sáu”. Nói cách khác, Song T.ử Tây là đảo giải phóng đầu tiên trong chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975. Nó được coi là sào huyệt, là cửa mở tiêu d.iệt địch. Nếu không giải phóng Song T.ử Tây trước, thì ngày ấy khó có thể giải phóng các đảo còn lại.
Nằm cách Đà Nẵng 480 hải lý, đảo được coi là tuyến đầu trong hệ thống phòng thủ của quần đảo Trường Sa, trước đây, các thủy thủ Đoàn 125 thường xuyên qua lại khu vực này trên các tàu không số nên dễ dàng nhận biết vị trí đảo. Khó khăn lớn nhất, để bảo đảm yếu tố bí mật, các chiến sĩ đặc công phải nấp trong khoang tàu, một số thủy thủ đoàn mặc trang phục của ngư dân để tránh quân địch phát hiện. Xác định rõ nhiệm vụ, đêm 10/4/1975, từ bến cảng Sơn Trà (Đà Nẵng), Đoàn tàu không số của Lữ đoàn 125 được ngụy trang thành “đoàn tàu đánh cá” gồm 3 chiếc 673, 674, 675 nhổ neo ra khơi trong bạt ngàn giông tố. Trong “bụng” những con tàu đó là 300 cán bộ, chiến sĩ Đội 1 Đoàn 126 đặc công Hải quân cùng các lực lượng Quân khu 5 và hàng chục tấn đạn dược thần tốc ra đảo.
Sau 3 ngày hành quân liên tục trên biển, nhiều người bị say sóng, thấm mệt nhưng vừa nhìn thấy đảo, cán bộ, chiến sĩ đều hăng hái, sẵn sàng chiến đấu. 4 giờ 30 phút ngày 13/4/1975, tàu ta cách đảo 5 hải lý, chỉ huy lệnh cho tàu thả trôi giúp hồi sức cho bộ đội, vừa bàn kế hoạch tấn công đảo. Nhận nhiệm vụ, Binh nhất Lại Minh Khiết chỉ huy một phân đội quân báo của Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân cùng đồng đội bí mật vào tận doanh trại của đ.ịch trinh sát nắm tình hình.
Từ thông tin trinh sát báo về, quân ta chia làm 3 mũi, bí mật đổ bộ lên đảo bằng 7 xuồng cao su, dưới sự chỉ huy của Đội trưởng Đội 1 Nguyễn Ngọc Quế và Chính trị viên phó Vũ Ngọc Hồi. 3 giờ sáng ngày 14/4/1975, lực lượng đặc công hải quân tiếp cận bờ đảo Song T.ử Tây, sẵn sàng chờ giờ G để hành động. Đúng 4 giờ 23 phút, tiếng súng DKZ của Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế vang lên, nhắm thẳng vào lô cốt địch. Lệnh hiệp đồng chiến đấu được phát ra, những tiếng hô “xung phong” vang dậy khắp đảo. Hỏa lực từ tàu 673 tới tấp nã vào các mục tiêu. Bị t.ấn công bất ngờ, địch chống trả quyết liệt, đại liên từ các lô cốt bắn ra như mưa. B40, B41 của các chiến sĩ đặc công tập trung bịt họng các ổ đề kháng của địch và nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy, làm chủ điện đài. Thừa thắng, các chiến sĩ tiếp cận các vị trí thuận lợi, dồn địch vào cuối đường giao thông hào, những tiếng loa gọi hàng vang lên. Lá cờ của mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam được chiến sĩ Lê Xuân Phát kéo lên đỉnh cột cờ trước bia chủ quyền, tung bay trên đảo Song T.ử Tây. Chỉ sau ít phút, tất cả lính Ngụy trên đảo đều tự nguyện ra hàng vô điều kiện. Lúc đó là 5 giờ 15 phút ngày 14/4/1975. Ánh nắng bình minh đầu tiên đã soi rọi một hòn đảo tự do.
Hơn bốn mươi năm sau ngày giải phóng, mảnh đất này đang thay da đổi thịt từng ngày. Vượt qua biết bao sóng gió, đảo Song T.ử Tây đã trở thành nơi trú chân của ngư dân đánh bắt xa bờ. Những ngôi nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt đang dần mọc lên như minh chứng cho sự sinh sôi nảy nở, sự phồn thịnh của vùng đất này. Hình ảnh những người lính ngày ngày tuần tra, canh gác bờ biển từ bao giờ đã trở thành điểm tựa, mỗi người dân, thêm vững tin vào tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền trường tồn của Tổ quốc./.
ST

CHẤT XÚC TÁC ĐỂ CÁN BỘ BỚT "CO CỤM, CẦU AN"!

         Vấn đề quan trọng lúc này là giải phóng, khơi thông tư tưởng cho cán bộ vượt qua nỗi lo riêng mà dám nghĩ, dám làm vì nỗi lo chung!
TP.HCM được mệnh danh là đầu tàu của nền kinh tế cả nước nên như Thủ tướng nói “thành phố gặp khó khăn thì cả nước cũng bị ảnh hưởng”. Và điều đáng lo là trong thời gian gần đây đà tăng trưởng kinh tế của thành phố sụt giảm sâu.

Trong các nguyên nhân dẫn tới tình trạng này được lãnh đạo thành phố báo cáo với Thủ tướng tại buổi làm việc vào ngày 16/4 có một nguyên nhân không kém phần quan trọng và đáng chú ý. Đó là sự e ngại, thiếu tính chủ động, sáng tạo, chưa quyết liệt trong thực hiện các công việc. Thậm chí như Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quốc Hùng nhận định, có tình trạng “co cụm, cầu an và thận trọng quá mức” của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Thông tin Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết một lần nữa minh chứng cho tình trạng co cụm, cầu an của cán bộ, công chức ở TP.HCM. Đó là trong năm 2022, TP.HCM có 584 văn bản hỏi ý kiến và bộ đã có 604 văn bản trả lời. Tuy nhiên, các vấn đề được hỏi hầu hết thuộc thẩm quyền của thành phố. 

Trong lúc Bộ Chính trị đang chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Chính phủ đang xây dựng nghị định để cụ thể hóa chủ trương này thì tình cảnh của TP.HCM chính là một hồi chuông báo động để thúc đẩy sự ra đời càng sớm một hành lang pháp lý.

Cũng vì thế mà Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên xác nhận, TP.HCM cũng đã làm nhiều việc nhưng "chỉ làm được tới mức khuyến khích, động viên, còn bảo vệ thì chờ Quốc hội, Chính phủ”.

Thủ tướng đã đưa ra thông điệp về giới hạn, chỉ mốc cho tình trạng trì trệ của một vài bộ ngành Trung ương cũng như địa phương rằng: “Nhiều kiến nghị của TP.HCM thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành. Nếu bộ, ngành không giải quyết thì Chính phủ sẽ quyết và xử lý trách nhiệm vì không kiên quyết, không dám nghĩ, dám làm”. 

Đó cũng là thông điệp đoạn tuyệt những suy nghĩ e ngại, cầu an trong thực thi công vụ ở không ít cơ quan mà người đứng đầu Chính phủ muốn lan tỏa đến các bộ ngành, địa phương.

Sự thận trọng quá mức gây sức ì lớn và tâm lý không mấy hứng khởi, tươi tắn ở không ít công sở. Vì vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức viên chức cần nhận thức rõ vai trò và sứ mệnh của mình trong giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình phát triển hiện nay, đất nước cần những cá nhân nổi trội, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc như những mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. 

Từ kinh nghiệm lãnh đạo, cầm quyền trong quá khứ, Đảng ta nhận thấy, vào những thời khắc quan trọng có tính bước ngoặt để tạo đà phát triển thì những chất xúc tác về mặt chủ trương như các yếu tố động viên, cổ vũ, khơi dậy tất cả các nguồn lực của đất nước và hệ thống chính trị là ưu tiên số một. 

Đặc biệt, trước các hiện tượng chững, chậm lại, thậm chí thoái trào các nguồn lực cho sự phát triển thì việc ra đời một chủ trương về khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là rất đúng đắn và kịp thời. 

Bằng cách nào để đảm bảo an toàn cho những cán bộ năng động, sáng tạo dám nghĩ, dám làm? Chắc chắn chúng ta không mong muốn phải chờ lịch sử đánh giá công, trạng của những cán bộ năng động, sáng tạo như đã thấy trước đây. 

Bài toán đặt ra là lớp cán bộ cán bộ dám nghĩ, dám làm xuất hiện trước những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống phải được “xắn tay” xử lý có hiệu quả công việc trong quá trình công tác của mình và các kết quả thành công phải được đánh giá, ghi nhận ngay.

Yêu cầu đầu tiên với những cán bộ này là ngoài việc nắm rõ chủ trương, tham mưu, đề xuất ý tưởng, kế hoạch và phối hợp thông suốt với các cấp có thẩm quyền, và khi triển khai, tiến hành trong thực tế cũng cần tham khảo kinh nghiệm từ lịch sử để đảm bảo an toàn của đội ngũ cán bộ tiên phong. 

Tức là cần thiết tìm kiếm cho mình những “đồng minh”. Có thể là cách thức “chiêu hiền, đãi sĩ”, cụ thể là sự mời mọc tham gia của những cá nhân, nhà khoa học, cán bộ lão thành có uy tín, tầm ảnh hưởng và tiếng nói trách nhiệm vào một trong các khâu có thể tiến hành của một quyết định hoặc các chính sách mang tính sáng tạo. Đồng thời công khai thông tin tới các cơ quan truyền thông, báo chí và người dân và sẵn sàng chuẩn bị năng lực giải trình khi cần thiết.

Việc này còn có ý nghĩa như là sự “bảo trợ về chính trị” cho cá nhân dám nghĩ, dám làm. Rõ ràng là sự ngay ngắn, khuôn thước xuất phát bởi động cơ tốt đẹp, trong sáng khi được chia sẻ, động viên và kết nối từ những người được Đảng tin tưởng thì bệ đỡ về niềm tin sẽ giúp các chủ thể năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vượt qua thử thách, khó khăn từ thực tế lãnh đạo, chỉ đạo của mình. 

Vấn đề quan trọng lúc này là giải phóng, khơi thông tư tưởng cho cán bộ, lãnh đạo vượt qua nỗi lo riêng mà dám nghĩ, dám làm. Đồng thời tạo ra sự đồng thuận, hưởng ứng của người dân trước những nhân tố mới, những con người tích cực và những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì khi ấy sức mạnh của dân tộc và thời đại được nhân lên bội phần./.
Ảnh: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: Chính chỉ đạo các Phó Thủ tướng, lãnh đạo các bộ, ngành xử lý 29 đề xuất, kiến nghị của TP.HCM trên tinh thần Chính phủ đồng hành cùng thành phố giải quyết các khó khăn, vượt qua các thách thức, tự tin, vững bước đi lên.
Yêu nước ST.

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CHO TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975

 

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Đảng ta đã huy động lực lượng vũ trang (LLVT) 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) cùng lực lượng chính trị của quần chúng và toàn dân để đánh địch.
Việc xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của LLVT, nòng cốt là các quân đoàn chủ lực góp phần quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, LLVT ta được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện đã nhanh chóng lớn mạnh và trưởng thành, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Tuy nhiên, trước đối tượng tác chiến mới là quân viễn chinh Mỹ và chư hầu - đội quân xâm lược nhà nghề với trang bị vũ khí hiện đại, nhiệm vụ xây dựng LLVT cả nước nói chung, ở miền Nam nói riêng đòi hỏi có những yêu cầu mới cao hơn.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của LLVT trong kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm xây dựng LLVT, trong đó tập trung xây dựng ở miền Nam từng bước lớn mạnh. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1959), cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công. Từ trong phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng (1954-1958) và trong cuộc Đồng khởi (1959-1960), LLVT cách mạng ở miền Nam gồm: Các đội tự vệ, du kích ở xã; các đội vũ trang ở tỉnh, huyện và các đơn vị bộ đội tập trung của khu hình thành và phát triển.
Từ năm 1961, nhiệm vụ xây dựng LLVT miền Nam được đẩy mạnh. Theo chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 15-2-1961, các LLVT cách mạng ở miền Nam được thống nhất tổ chức toàn miền với tên gọi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và Ban Quân sự Miền (từ tháng 10-1963 là Đảng ủy và Quân ủy Miền).
Trong những năm 1961-1964, trên cơ sở phát triển lực lượng chính trị quần chúng và được sự chi viện tích cực của miền Bắc, LLVT giải phóng miền Nam hình thành 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) ngày càng hoàn chỉnh. Trong đó, khối bộ đội chủ lực cơ động trên các chiến trường khẩn trương được xây dựng với quy mô tổ chức từ cấp tiểu đoàn lên trung đoàn gồm: 3 trung đoàn bộ binh (1, 2, 3) và Đoàn Pháo binh 80 (tương đương trung đoàn) chủ lực Miền; 3 trung đoàn bộ binh (1, 2, 3) chủ lực Quân khu 5; 2 trung đoàn bộ binh 1 và 2, Trung đoàn Pháo binh 4 chủ lực Quân khu 9 và Trung đoàn Bộ binh 320 được tăng cường từ miền Bắc vào Tây Nguyên. Việc hình thành các trung đoàn bộ đội chủ lực trên các chiến trường, cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tăng khả năng đánh địch trên cả 3 vùng chiến lược (miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị), trong đó, bộ đội chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng.
Năm 1965, khi đế quốc Mỹ đưa quân Mỹ và đồng minh ồ ạt vào miền Nam, nhiệm vụ xây dựng LLVT nói chung, đặc biệt là phát triển bộ đội chủ lực nói riêng đòi hỏi rất khẩn trương. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, các LLVT ở miền Nam được xây dựng, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Dân quân du kích các xã, ấp phát triển mạnh, đến cuối năm 1965 có 174.000 người. Bộ đội địa phương tổ chức tiểu đoàn ở tỉnh và đại đội ở các huyện. Bộ đội chủ lực được tăng cường thêm 7 trung đoàn bộ binh từ miền Bắc vào chiến trường, nâng tổng số lên 18 trung đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng. Trên cơ sở phát triển 3 thứ quân, trong hai năm 1965-1966, ta thành lập 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9) và Đoàn Pháo binh 69 (tương đương sư đoàn) chủ lực ở Nam Bộ; 2 sư đoàn bộ binh (2, 3) ở Khu 5 và Sư đoàn Bộ binh 1 chủ lực ở Tây Nguyên, cùng một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh và binh chủng.
Những năm 1969-1972, LLVT 3 thứ quân ở miền Nam được củng cố, phát triển, trong đó khối bộ đội chủ lực được duy trì trên các hướng chiến lược quan trọng. Đặc biệt, việc xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh ở ngay trên chiến trường miền Nam được đặt ra. Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hội nghị Quân ủy Trung ương (tháng 2-1970) xác định: Xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương; xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn quân địch.
Theo chủ trương đó, từ năm 1970, việc xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho các chiến trường đánh Mỹ có bước phát triển mới. Ngày 10-10-1970, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn 70 ở nam Quân khu 4. Tiếp đó, năm 1971, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Bộ tư lệnh tiền phương (mật danh Đoàn 301) và Trung ương Cục quyết định đổi tên Bộ chỉ huy Miền thành Bộ tư lệnh Miền. Việc hình thành Binh đoàn 70 (đơn vị tương đương quân đoàn), Đoàn 301 và Bộ tư lệnh Miền (cơ quan chỉ huy tương đương cấp quân đoàn) đã đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉ đạo, chỉ huy các binh đoàn chủ lực cơ động tác chiến hiệp đồng binh chủng tiêu diệt lớn quân địch. Đây là cơ sở để những năm tiếp theo tổ chức các quân đoàn chủ lực khi có điều kiện.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27/01/1973), cục diện chiến trường miền Nam có những thay đổi nhanh chóng đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng LLVT lớn mạnh, đặc biệt là xây dựng các binh đoàn chủ lực quy mô cấp quân đoàn. Thời điểm này, những điều kiện khách quan và chủ quan để chúng ta tổ chức các quân đoàn chủ lực cơ bản được bảo đảm đầy đủ không chỉ ở hậu phương miền Bắc mà trên cả các hướng chiến lược quan trọng ở chiến trường miền Nam.
Trước yêu cầu bức thiết của việc xây dựng các binh đoàn chiến lược, ngày 15-10-1973, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về việc thành lập các quân đoàn chủ lực. Theo chủ trương đó, ngày 24-10-1973, Quân đoàn 1-Binh đoàn Quyết Thắng được thành lập ở Ninh Bình. Trên cơ sở bộ đội chủ lực được củng cố và phát triển, các quân đoàn chủ lực tiếp tục được tổ chức ở chiến trường miền Nam. Ngày 17/5/1974, Quân đoàn 2-Binh đoàn Hương Giang được thành lập ở Trị-Thiên. Ngày 20/7/1974, Quân đoàn 4-Binh đoàn Cửu Long được thành lập ở Đông Nam Bộ. Tháng 2-1975, Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) thành lập tại Nam Bộ. Tiếp đó, ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3-Binh đoàn Tây Nguyên được thành lập ở Tây Nguyên. Với các binh đoàn chiến lược quy mô tổ chức quân đoàn binh chủng hợp thành được trang bị khá mạnh, sức đột kích lớn, sức cơ động cao, sức chiến đấu liên tục, LLVT ta có khả năng mở các chiến dịch tiến công bằng lực lượng binh chủng hợp thành trên các hướng chiến lược ở chiến trường miền Nam.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam trong năm 1975 (lúc đầu là hai năm 1975-1976), từ ngày 4/3/1975, LLVT ta và toàn dân bắt đầu tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 trên khắp miền Nam, trọng tâm là 3 đòn tiến công chiến lược gối đầu và kế tiếp nhau trên phần lớn các chiến trường quan trọng, bao gồm: Đòn tiến công giải phóng Tây Nguyên; đòn tiến công giải phóng Huế-Đà Nẵng và đòn tiến công giải phóng Sài Gòn-Gia Định, được thực hiện chủ yếu bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, LLVT ta huy động 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn), với tổng số 15 sư đoàn, 1 lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn thiết giáp; 8 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin, 1 trung đoàn tên lửa, một bộ phận lực lượng hải quân, không quân và LLVT địa phương cùng nhân dân trên địa bàn chiến dịch. Sau 4 ngày chiến đấu, đợt 1, ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch. Cờ giải phóng tung bay trước tòa nhà chính của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Đòn tiến công giải phóng Sài Gòn thắng lợi oanh liệt đã quyết định giải phóng các tỉnh, thành phố trên đất liền, các đảo và quần đảo ở Biển Đông và toàn miền Nam, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh thể hiện Đảng ta đã thành công về nhiều mặt, trong đó sớm đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn về xây dựng, phát triển LLVT 3 thứ quân, đặc biệt là coi trọng xây dựng, phát triển quy mô tổ chức của bộ đội chủ lực ở miền Nam, từ những đơn vị bộ đội tập trung cấp tiểu đoàn, đại đội, từng bước tổ chức quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn đến đơn vị và cơ quan chỉ huy tương đương quân đoàn, cuối cùng là các quân đoàn, quy mô tổ chức cao nhất của Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, tổ chức, sử dụng hợp lý và phát huy hiệu quả vai trò của LLVT, lấy bộ đội chủ lực làm nòng cốt cho bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng toàn dân lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đại thắng.
Nguồn: BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 20/4 :


“Lương y phải như từ mẫu”
Nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm bệnh xá xã Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Khi đến đây, Người đi thăm từ phòng khám bệnh, phòng điều trị đến vườn trồng cây thuốc, nhà bếp, khu vệ sinh… Bác ân cần thăm hỏi các bệnh nhân, khen cán bộ, nhân viên đã giữ gìn bệnh xá sạch sẽ và căn dặn mọi người: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc hay, thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Lương y phải như từ mẫu”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy thuốc (lương y) phải là người có lòng nhân ái, thương yêu người bệnh như mẹ hiền (từ mẫu) thương yêu các con của mình. “Lương y phải như từ mẫu” là y đức, đặt nền tảng chính là sự “Tôn trọng sinh mạng con người”. Vì vậy, đã là người thầy thuốc thì phải coi trọng đức - nhân, tận tình chăm sóc người bệnh, vì quyền lợi, sức khỏe của người bệnh, không phân biệt đối xử, luôn công bằng và trung thực.
Thực hiện lời dạy của Người, ngành y tế nói chung, quân y trong quân đội nói riêng qua các thời kỳ cách mạng, luôn trau dồi y đức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chăm sóc bệnh nhân. Vì thế, trong sự khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, thiết bị y tế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các y, bác sĩ quân đội vẫn ngày đêm tận tụy cứu chữa, chăm sóc người bệnh, chăm sóc thương bệnh binh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến.
Lời dạy của Bác về y đức vẫn còn nguyên giá trị và trở thành phương châm, tôn chỉ mục đích nghề nghiệp cho những người làm công tác y tế, để hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, thái độ, phong cách phục vụ người bệnh, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh, xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ y tế Việt Nam theo đúng phương châm: “Bệnh nhân đến đón tiếp niềm nở, bệnh nhân ở chăm sóc tận tình, bệnh nhân về dặn dò chu đáo”.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

KỶ NIỆM 153 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2023)

 Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.
Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg.
Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.
Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thủy. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899).
Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905.
Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng.
Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.
Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua.
Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau.
Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.
Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.
Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.
ST


LÒNG CON NHỚ BÁC ....

 Tháng tư đầu Hạ nắng về

Ve ngân, phượng vĩ, tràn trề nhớ mong
Ba mươi tháng tư ấm lòng
Mừng ngày Đại Thắng, sáng trong, dịu hiền
Tổ Quốc thống nhất bình yên
Non sông gấm hoa Rồng Tiên mạnh giầu
Sạch loài xâm lược từ lâu
Nay lũ tham nhũng mọt sâu vẫn còn
Vâng lời Bác dạy cháu con
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, sắt son trong lòng
Làm theo gương Bác hằng mong
Dân An Quốc Thái vui lòng Bác ơi
Ba mươi tháng tư nhớ Người
Bác ơi Đại Thắng muôn người không quên
Vào Hạ nắng lữa bừng lên
Lòng con nhớ Bác viết nên thơ vàng./.
ST


NIỀM TỰ HÀO CỦA VIỆT NAM VỀ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

         Vào ngày 30/4/1975, Việt Nam đã đ.á.n.h dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong cuộc chiến tranh chống lại chế độ độc tài và xâm lược từ các lực lượng phương Tây. Đó là ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Cùng với sự đoàn kết của toàn bộ quân dân và quân đội ta, chiến thắng này đã mang lại hy vọng và giá trị lớn lao cho tổ quốc Việt Nam.

Trước khi diễn ra chiến dịch giải phóng miền Nam, cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm đã gây ra nhiều thương tâm và mất mát cho cả hai miền Bắc và Nam. Tuy nhiên, tình hình miền Nam đã chuyển biến tích cực khi các hoạt động của phong trào yêu nước được lan rộng khắp nơi, cho thấy tình hình đang đẩy mạnh hơn bao giờ hết để giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

Vào ngày 30/4/1975, khi quân và dân ta đang tiến hành chiến dịch giải phóng miền Nam, sức mạnh của quân đội và nhân dân đã giành được chiến thắng toàn diện. Đó là một ngày lịch sử đầy cảm xúc và hy vọng, khi hàng triệu người dân Việt Nam bắt đầu một chặng đường mới đầy hy vọng và khát khao tự do, độc lập và thống nhất đất nước.

Sau khi giành được chiến thắng, nước ta đã bước vào giai đoạn mới với hy vọng xây dựng một đất nước thống nhất và phát triển. Tuy nhiên, quãng đường đó không hề dễ dàng và đã đối mặt với những khó khăn và thách thức. Nhưng với tinh thần cố gắng và nỗ lực của toàn thể nhân dân, Việt Nam đã từng bước phát triển mạnh mẽ. Từ những thành tựu kinh tế đáng kể cho đến sự phát triển của giáo dục, y tế và văn hóa, đất nước Việt Nam ngày càng phát triển và tiến bộ.

Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã trở thành một ngày quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Đó là niềm hy vọng và sự tự hào về đất nước, và cũng là một lời nhắc nhở về những nỗ lực của toàn dân để xây dựng một Việt Nam tự do, độc lập và thống nhất. Nó đã truyền cảm hứng cho các thế hệ hiện tại và tương lai của người Việt Nam, để tiếp tục phát triển đất nước và góp phần xây dựng một thế giới hoà bình, công bằng và giàu có./.

Môi trường (Yn) ST.

KHÔNG AI ĐƯỢC VÀO ĐÂY

 Sáng ngày 27 tháng 4 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã... Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại Nhà thuyền Hồ Tây.

Khi Bác Hồ đến, trong Nhà thuyền đã có nhiều cử tri đang bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến, ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo "điều kiện" để Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói:
- Ai đến trước, viết trước, Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ cho đến hàng mình, mới nhận phiếu và vào "buồng" phiếu.
Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là "hạnh phúc một đời của người làm báo", "cơ hội ngàn năm có một" và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:
- Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải bảo đảm tự do và bí mật cho công dân.
Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.
Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu cử Bác không cho ai "gợi ý', cả, Bác nói:
- Ấy, đừng có "lãnh đạo" Bác nhé. Bác không biết đảng uỷ hướng dẫn danh sách để ai, xoá ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu./.
ST