Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

NGĂN CHẶN TRẺ HÓA BỆNH SUY THOÁI.

 

  Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, với phương châm lấy xây để chống, phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngăn chặn sự lây lan, phát triển của căn bệnh suy thoái trong giới trẻ đang đặt ra những yêu cầu, thách thức mới...


Khi người trẻ mắc bệnh suy thoái

Thời gian gần đây, dư luận tích cực trên không gian mạng bày tỏ bức xúc trước việc nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều còn trẻ. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những trí thức trẻ, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc.


  Dù chỉ là những thành phần cá biệt, nhưng thực trạng này cho thấy khi căn bệnh suy thoái trẻ hóa, mức độ nguy hiểm đối với môi trường chính trị và đời sống xã hội là vô cùng lớn. Hằng ngày, hằng giờ, chúng ra rả các luận điệu phản động trên không gian mạng làm cho một bộ phận giới trẻ trong nước bị tác động, ảnh hưởng bởi tư tưởng thù địch, dẫn đến dao động, bi quan, phai nhạt niềm tin.


  Nhìn rộng ra, sâu hơn những vụ án tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, chúng ta thấy hành vi tham nhũng, suy thoái đều liên quan đến những cán bộ có chức quyền. Cán bộ có chức quyền càng to, ảnh hưởng của suy thoái càng lớn. Tuy nhiên, để đến lúc phải điều tra, xử lý thì đó là giải pháp “trị bệnh”. Làm sao để cán bộ, đảng viên không “nhúng chàm” thì phải coi trọng “phòng bệnh”, ngăn ngừa các mầm mống dẫn đến suy thoái ngay từ khi còn trẻ.


  Biểu hiện phổ biến của tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trẻ thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Thực trạng này ở một bộ phận không nhỏ người trẻ đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, đó là “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Khi một người trẻ bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường. Thực tế đã chứng minh không ít người giàu có sau khi có chân trong hệ thống chính trị, hành vi kiểu “trọc phú” của họ đã gây ra những hệ lụy phức tạp cho tổ chức. Đối với những người trẻ “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, từ suy thoái đạo đức, lối sống đến suy thoái tư tưởng chính trị là khoảng cách rất mong manh. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc./.

 St.


#TMQ. Trường Tồn 

Xử lý đối tượng chống phá

 ĐƯỜNG VĂN THÁI VỀ VIỆT NAM LÀM GÌ?


Tối 16/04, cơ quan chức năng thông tin tạm giữ đối tượng Đường Văn Thái về hành vi xâm nhập trái phép vào Việt Nam tại khu vực thuộc Hà Tĩnh. Được biết, Thái là đối tượng chống phá kỳ cựu đã bị Việt Nam trục xuất và hiện đang bổ trốn tại Thái Lan. Vậy Đường Văn Thái lẻn về Việt Nam làm gì?


Đường Văn Thái từng làm việc cho Phòng Quản lý đất đai & Giải phóng mặt bằng huyện Đông Anh, Hà Nội. Năm 2013, thi công chức nhưng không đỗ và nảy sinh bất mãn, Thái xin nghỉ việc. Khoảng thời gian từ 2016 – 2017, Đường Văn Thái theo học Thạc sĩ Quản lý đất đai tại Seoul, Hàn Quốc theo dạng tự túc. Sẵn tư tưởng cực đoan, trong quá trình đi học, Đường Văn Thái giao du kết thân với nhiều phần tử chống phá Nhà nước, dần dần bị tác động, chuyển hóa tư tưởng và từng bước sa ngã vào con đường chống phá Nhà nước. Cuối năm 2017, Đường Văn Thái về nước và trú ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Sau đó, Đường Văn Thái lần lượt tham gia các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp như Hội nhà báo độc lập, Hội anh em dân chủ và tiến hành nhiều hoạt động chống Nhà nước. Đường Văn Thái khởi tạo và tham gia điều hành nhóm “Lều Của Đầy Tớ” trên mạng xã hội Facebook, thường xuyên đăng tải và phát tán những hình ảnh, thông tin sai lệch về nhà cửa, gia thế của các quan chức, lãnh đạo. Đường Văn Thái là một trong những gương mặt nổi cộm, lợi dụng sự cố này để kích động giáo dân gây rối, bạo loạn. Thái cùng các đối tượng chống phá khác trong “Hội anh em dân chủ” như “Thảo Teresa”, “Hòa TD”, “Lê Mỹ Hạnh”…  kích động người dân mang cá chết ra rải đầy đường, chặn phương tiện đi lại trên quốc lộ gây ảnh hưởng rất lớn đến an ninh trật tự thời điểm đó.


Đường Văn Thái còn là nhân vật cốt cán của nhóm “Bạn hữu đường xa”. Nhóm này được các tổ chức phản động như: Đảng Việt Tân, Đảng dân chủ Việt, Chính phủ Việt Nam tự do tài trợ hàng trăm triệu để ngày tổ chức gây rối ở BOT Cai Lậy. Chính Đường Văn Thái cũng người cung cấp tiền lẻ cho nhóm “Bạn hữu đường xa”.


Sau khi bỏ trốn sang Thái Lan, Đường Văn Thái được Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn cấp quy chế tị nạn 18 tháng vào ngày 03/04/2020. Đường Văn Thái phải liên tục xin làm việc với Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn để mong có cơ hội được một nước thứ ba bất kì tiếp nhận sau khi hết thời hạn ở Thái Lan. Và trong tháng 4 vừa qua theo một số nguồn tin, thì Đường Văn Thái đã có cuộc phỏng vấn với văn phòng Cao Ủy Tị Nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) tại Bangkok.


Trên trang “YouTube Thái Văn Đường” vào ngày 14/04 có thông tin, “Dự kiến 18 giờ 50 tối nay (14/04), Ngoại Trưởng Mỹ Antony Blinken sẽ hạ cánh tại phi trường Nội Bài, có thể thêm một TNLT (Tù nhân lương tâm) sẽ được rước qua bển”. Trùng khớp với thời gian đó là việc đối tượng Đường Văn Thái bị phát hiên nhập cảnh trái phép ở Hà Tĩnh. Không ngoại trừ khả năng, đối tượng đang tìm mọi cách để tiếp cận Ngoại trưởng Mỹ, hòng dùng mọi cách để tìm cơ hội đến một nước thứ ba sau cuộc phỏng vấn mới đây nhất tại Thái Lan.


P/s: Đây cũng chỉ là giả định căn cứ theo những thông tin đã có. Mọi kết luận còn phụ thuộc vào cơ quan chức năng.


# ST. Trường Tồn 

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

 

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

 

Trong thực tiễn hoạt động, công tác mỗi cán bộ, đẻng viênai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, tổ chức, công việc, gia đình, xã hội…thì cán bộ, đảng viên khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Việc phát huy trách nhiệm với mỗi cán bộ, đảng viên không dừng lại ở nhu cầu, bổn phận, mà là “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người quân nhân cách mạng, người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, để thấu hiểu, thể hiện, nhận thức, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua còn nhiều vấn đề phải bàn và rất đáng cảnh báo.

Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

 

Sau hơn 35 năm lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định rõ năng lực và bản lĩnh của một Đảng cầm quyền; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín như ngày nay. Bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

 

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo

chống phá Việt Nam hiện nay

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Tình cảm đặc biệt của nhân dân thế giới dành cho Bác Hồ

 

Tình cảm đặc biệt của nhân dân thế giới dành cho Bác Hồ

 

Đã hơn nửa thế kỷ Bác “đi xa”; song, trong tâm tưởng của mọi công dân đất Việt và bạn bè thế giới kính yêu Người thì dường như Bác vẫn còn đây! Đọc những bài thơ, bài viết của các thi sĩ, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng các nước viết về Bác mới cảm nhận hết tình cảm đặc biệt của nhân dân thế giới dành cho Bác Hồ vô cùng sâu đậm…

 

PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHO RẰNG 
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KHÔNG PHÙ HỢP HOÀN CẢNH VIỆT NAM 

Có ý kiến xuyên tạc rằng "việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai họa, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ".

Thực tiễn kết quả 36 năm đổi mới là bằng chứng hùng hồn để có đủ luận cứ bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và cũng là luận cứ khẳng định sự lựa chọn sáng suốt của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta.

Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ ngày thành lập: 03/2/1930 đến nay luôn phấn đấu hy sinh để cốt làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với bạn bè năm châu. Chính nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống dân tộc và nhân loại mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nước ngày càng phát triển, lập nên nhiều kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Đó là thực tế. Đó cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin.

Khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong nghiên cứu ở nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng thì có sợ hạn chế việc phát triển lý luận của Đảng Cộng sản hay không? Hay chỉ cần coi đó là kim chỉ nam cho hành động là đủ vì điều này phù hợp với ý của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin.

Để hiểu đúng vấn đề này, chỉ có một cách tốt nhất là trở về với cách hiểu, cách giải thích, cách vận dụng cách phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh, Người đã nêu một số ý tổng quát:

- Nắm chủ nghĩa Mác - Lênin là nắm lập trường quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

- Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin không cần phải nhớ nhiều sách, thuộc nhiều câu chữ của chủ nghĩa Mác Lênin, mà phải dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết, vận dụng những vấn đề của cách mạng nước ta và thời đại đang đặt ra.

Lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin là lập trường cách mạng triệt để; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; phương pháp của cách mạng Mác - Lênin là phương pháp biện chứng. Đây cũng là lập trường, quan điểm và phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta cần phải nắm vững.

Về quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong những năm đổi mới, chúng ta đã tiến thêm một bước là đặt vấn đề phải phân biệt:

Những luận điểm nào của Mác - Lênin trước kia đúng, bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau tiếp tục vẫn đúng. Những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay thay đổi, không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.

Những luận điểm, mà Mác - Lênin đã phát hiện thấy sai và đã sửa.

- Những luận điểm nào của Mác - Lênin mà chúng ta đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai do bản thân chúng ta nghiên cứu không thấu đáo hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác.

Đây là những vấn đề lớn, hết sức khó khăn, phức tạp, không thể làm được tất cả ngay một lúc, mà phải dày công nghiên cứu mới dẫn dẫn làm sáng tỏ được. Cũng phải trải qua thực tiễn đổi mới ở nước ta cùng với thực tiễn cách mạng các nước và những biến đổi của thế giới mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn./.

 PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHO RẰNG 
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI 

Với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, từ đó đặt chủ nghĩa Mác - Lênin trước sự thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Trong bối cảnh đó, các nhà chính trị và tư tưởng tư sản phản động hí hửng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và rêu rao về sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, sự diệt vong của chủ nghĩa cộng sản, về "chiến thắng không cần chiến tranh" (Nichxơn), về "Sự tận cùng của lịch sử" (Fukuyama).

Không những kẻ thù của chủ nghĩa Mác - Lênin mà cả một số người trước đây một thời được coi là người mácxít, thì giờ đây cũng ra sức xuyên tạc, bác bỏ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng học thuyết đó đã lỗi thời. Để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, họ thường viện dẫn những sai lầm, thiếu sót ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhất là ở Liên Xô và những đặc điểm mới của thời đại. Họ cho rằng "kinh tế tri thức, nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội", "chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp với thế kỷ XIX chứ không dung hợp với thời đại ngày nay "sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một mảng lớn trên thế giới chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin là một sai lầm), v.v và v.v..
Tuy vậy, thực tiễn lịch sử với tất cả những bước đi quanh co, phức tạp của nó vẫn khẳng định tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.
Nói về cái tinh tuý nhất trong học thuyết Mác, Hồ Chí Minh thể hiện trong ba chữ: phép biện chứng - tức linh hồn sống của chủ nghĩa Mác.
V.I. Lênin nói: Học thuyết Mác là học thuyết vạn năng, vì nó là một học thuyết chính xác. Đó là một học thuyết cân đối và hoàn bị, nó cho người ta một thế giới hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một hành vi phản động nào, một hành vi bảo vệ sự áp bức của tư sản...
Một là, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới.
 C.Mác là người đầu tiên đã áp dụng phép biện chứng duy vật, do chính Ông xây dựng, vào việc nghiên cứu lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành hoàn bị triệt để. Ph. Ăngghen nói rằng, giống như Đácuyn đã phát hiện quy luật phát triển của lịch sử loài người.
Hai là, C.Mác đã tìm ra quy luật riêng biệt của sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra,
Ba là, với sự phát hiện khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hoá.
Về học thuyết xã hội chủ nghĩa của C.Mác, chúng tôi muốn nhấn mạnh một điểm, đó là quan hệ biện chứng giữa giải phóng con người và giải phóng giai cấp.
Chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là lý luận về phương pháp nhận thức thế giới và cải tạo thế giới bằng cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị, dù cho một số luận điểm cụ thể riêng biệt của lý luận Mác - Lênin có thể không được thực tiễn xác nhận hoặc cần phải điều chỉnh.
Chúng ta có thể nêu một số hạn chế lịch sử sau đây
 - C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin chưa thấy hết được khả năng tồn tại và phát triển tương đối lâu dài của chủ nghĩa tư bản, dự đoán sớm về tiến trình lịch sử của chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới.
- C.Mác, Ph. Ăngghen chưa nghiên cứu đầy đủ vấn đề dân tộc so với vấn đề giai cấp.
- C.Mác, Ph. Ăngghen dự báo quá sớm về sự thủ tiêu sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội.
Những hạn chế trên đây là không thể tránh khỏi do điều kiện lịch sử. Chúng ta không thể đòi hỏi C.Mác suy nghĩ thay cho các thế hệ sau về những vấn đề chưa xuất hiện trong thời đại của Ông. Song, những hạn chế đó tuyệt nhiên không làm giảm giá trị thế giới quan phương pháp luận, giá trị định hướng của lý luận Mác Lênin đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta.
Phân tích giá trị của từng nguyên lý cơ bản, từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin là cần thiết hiểu sâu, hiểu cụ thể lý luận của các ông. Song, chúng ta không thể quên rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết hoàn chỉnh, các bộ phận có mối liên hệ hữu cơ tạo thành một khối thống nhất không thể tách rời, "một khối thép" như V.I.Lênin nói. Chúng ta cần phân biệt những tư tưởng cơ bản của toàn bộ học thuyết có giá trị phổ biến và lâu dài với những phán đoán riêng lẻ thường có ý nghĩa trực tiếp trong một bối cảnh cụ thể.
Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muối của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi tha hoá. Có thể khẳng định rằng,cho đến nay, khi nhân loại đã bước vào thế kỷ XXII, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không thể học thuyết nào có thể thay thế được. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao quanh co khúc khuỷu, vẫn không đi ra ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Lật tẩy những nội dung, cách thức xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

Các quan điểm sai trái, thù địch, điển hình là những báo cáo phiến diện, lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học lẫn pháp lý của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ - USCIRF, thường lặp đi lặp lại điệp khúc rằng: tình trạng vi phạm tự do tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Việt Nam; sự đàn áp của Chính phủ tiếp tục là một thực tế khắc nghiệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập chưa đăng ký(?!). Có thể nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đó trên các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, các thế lực phản động, thù địch thường lập luận một cách vô căn cứ về quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam, xuyên tạc rằng các quy định về quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam là “hạn chế về bản chất, “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”(?!).

Cần phải khẳng định rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp ở Việt Nam được xây dựng dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - một học thuyết khoa học, đúng đắn về tự do tôn giáo khi đặt nó trong quyền con người (nhân quyền) - như C. Mác đã khẳng định: “Tự do tín ngưỡng là quyền thực hành bất cứ tín ngưỡng nào,... quyền được mộ đạo, được mộ đạo theo bất luận kiểu nào, được hành đạo theo tôn giáo riêng của mình. Đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người(2). Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tự do tín ngưỡng là một quyền lợi căn bản của nhân dân ta”.

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta khẳng định, được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thay cụm từ “mọi công dân” (quyền công dân) (Hiến pháp năm 1992), bằng cụm từ “mọi người” (nhân quyền, quyền con người). Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Thứ hai, các thế lực phản động, thù địch, trong đó có USCIRF, xuyên tạc rằng, cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo: Hiến pháp cũng quy định sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng nó cho phép các cơ quan chức năng hạn chế quyền con người, bao gồm cả quyền tự do tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có các quy định tương tự cho phép hạn chế quyền tự do tôn giáo(?!). Những lập luận xấu, độc, nguy hiểm này là bất chấp an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và hạnh phúc của cộng đồng. Chúng hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, mang tính áp đặt của các thế lực phản động, thù địch và của USCIRF đối với tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Thứ ba, các luận điệu sai trái, thù địch nhìn nhận không đúng về mô hình quản lý tôn giáo theo chế độ “đăng ký” của Việt Nam. Họ lập luận hàm hồ rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bắt các tôn giáo phải đăng ký, bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội; đặt ra gánh nặng và yêu cầu phức tạp đối với các nhóm tôn giáo để đăng ký với chính phủ; có những quy định sự kiểm soát đáng kể của chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo bằng những điều khoản hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, như duy trì một quy trình đăng ký và công nhận nhiều giai đoạn cho các nhóm tôn giáo (?!).

Thứ tư, các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu dựa vào một số  hiện tượng, nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo, chưa được công nhận, có hiện tượng hoạt động vi phạm pháp luật để quy kết Việt Nam “đàn áp tôn giáo”. Ví như: Nhóm bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp luân công (không được thừa nhận là hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo). Các hiện tượng (nhóm) đó chưa đủ điều kiện để được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung hay công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tôn chỉ, mục đích, điều lệ, tổ chức, nhân sự). Thậm chí có một số nhóm lợi dụng hoạt động tôn giáo chống Nhà nước Việt Nam, như Văn phòng Công lý và hòa bình (do một số giáo sĩ, tu sĩ cực đoan của tỉnh dòng Chúa Cứu thế Việt Nam); nhóm Hội đồng Liên tôn (gồm một số giáo sĩ cực đoan thuộc 5 tôn giáo tham gia: Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo); nhóm Liên đoàn dân chủ Công giáo Việt Nam; nhóm Phật giáo Việt Nam thống nhất; nhóm Phật giáo Hòa Hảo thuần túy  Phật giáo Hòa Hảo truyền thống; nhóm Khối Nhơn sanh (Cao Đài); nhóm Tin lành Đấng Christ, Tin lành Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ (trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; nhóm Giê-sùa, Bà Cô Dợ (Tin lành ở Tây Bắc)... đã được USCIRF nêu lên như những minh chứng cho việc Việt Nam “đàn áp tôn giáo”(?!).

Một số giải pháp kỹ thuật trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Dưới sự tác động của chiến tranh thông tin trong không gian mạng đang đặt ra những khó khăn, thách thức đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp để thực hiện hiệu quả công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động trong thời gian tới, cần lưu ý một số nội dung giải pháp về mặt kỹ thuật như sau:

Thứ nhất, tập trung triển khai các chiến lược quan trọng tự lực, tự cường về công nghệ, nhất là Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, trong đó quan tâm tập trung đầu tư cho công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt là công nghệ AI, tiến tới xây dựng Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng” (đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực về AI), góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, phát huy phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo của con người Việt Nam; đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng “Make in Viet Nam” song song với việc làm chủ, quản lý được các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp và tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ giá trị quốc gia trong toàn bộ đời sống chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong tương lai; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, các tập đoàn công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT...) để xây dựng bộ công cụ toàn diện được vận hành bởi công nghệ AI và có tính tương thích cao trên mọi nền tảng mạng xã hội nhằm phục vụ việc triển khai công tác đấu tranh lâu dài của Đảng trong lĩnh vực này.

Thứ ba, sớm xây dựng, cập nhật, ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm các quy định bảo vệ, quản lý dữ liệu quan trọng của quốc gia, của người dân Việt Nam; cập nhật, sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến công nghệ AI trong các văn bản, chính sách, quản lý hoạt động nền tảng mạng/trực tuyến của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam./.

 

TẠI SAO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VẪN TRƯỜNG TỒN TRONG KHI
 CHỦ NGHĨA TƯ BẢN KHÔNG NGỪNG ĐIỀU CHỈNH THÍCH NGHI

 Bất chấp những luận điệu xuyên tạc, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là một khoa học, hơn nữa là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học về những quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là ở sự chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự tha hoá, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo,

Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, với hòn đá tảng kinh tế là học thuyết giá trị thặng dư, với những phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vai trò lịch sử của giai cấp công nhân,... chủ nghĩa Mác - Lênin cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là khoa học chính xác và hoàn bị, chưa có gì thay thế được. Cho dù có phải bổ sung, phát triển hoàn thiện thêm (đây là điều tất yếu) thì những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện ngày nay vẫn đúng. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Cho dù có những kẻ có tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Mác-Lênin, vẫn có sức sống dẻo dai để khẳng định giá trị bền vững, xanh tươi của nó.

Việc chủ nghĩa Mác - Lênin bị tấn công, bị xuyên tạc không có gì là khó hiểu cả. Người ta thâm thù, xuyên tạc từ lâu rồi, từ 160 năm nay đối với chủ nghĩa Mác và gần 100 năm đối với chủ nghĩa Lênin. Chẳng những thế, người ta còn tìm mọi cách hòng bóp chết chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ năm 1913, Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác rằng: Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của Mác đã gây ra cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù toàn thế giới khoa học tư sản... Không thể trông mong có một thái độ nào khác thế được, vì trong một xã hội xây dựng trên đấu tranh giai cấp thì không thể có một khoa học xã hội "vô tư"... Mong đợi một khoa học vô tư trong một xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ làm thuê là một sự ngây thơ khờ khạo.

Việc các thế lực thù địch bài bác chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, điều mà các nhà tư tưởng chống cộng rất lo sợ. Và cứ mỗi lần phải đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì chủ nghĩa Mác - Lênin lại một lần nữa tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những phải đấu tranh chống lại những quan điểm tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những khuynh hướng sai lầm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế như: “chủ nghĩa xã hội Vương quốc Phổ” của phái Latxan ở Đức, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của phái Prudông ở Pháp và ở Bỉ chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh của các thủ lĩnh công đoàn Anh; chủ nghĩa phiêu lưu "tả" khuynh của những người cộng sản Đức; chủ nghĩa vô chính phủ của phái Bacunin ở Nga, chủ nghĩa dân tộc tư sản trên các vấn để chiến tranh và thuộc địa... ;và ngày nay, là đủ các thứ "trào lưu", như chúng ta đã biết. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang có sức hấp dẫn, chinh phục hàng tỷ con người trên hành tinh này bởi tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân đạo sâu sắc của nó.

Nhận thức sai lầm khi tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân

 Lấy “chủ nghĩa cá nhân” làm ý thức hệ cơ bản, giai cấp tư sản cho rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn có của cá nhân; quyền của cá nhân là cái tự nhiên, bất khả nhượng. Họ chủ trương đặt lên hàng đầu việc bảo vệ quyền con người của cá nhân khi cho rằng “trong xã hội tự do của toàn thế giới, tất cả nhân dân đều có quyền thể hiện quan điểm chính trị cá nhân”. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ việc tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, chỉ ra việc đặt quyền cá nhân lên trên quyền của tập thể, của cộng đồng, của quốc gia - dân tộc là sai lầm, bởi vì:

Thứ nhất, nhấn mạnh quyền con người của cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản là quyền con người của số ít người. Quyền con người “lấy cá nhân làm trung tâm” là sản phẩm của chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, liên quan mật thiết với chế độ kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. Nó nhấn mạnh giá trị cá nhân, quyền cá nhân và đặt lên hàng đầu lợi ích cá nhân. Quyền con người của giai cấp tư sản chính là đặc quyền của thiểu số. Trên thực tế, ở trong nước, quyền con người của giai cấp tư sản chính là sự tước đoạt đối với quyền con người của đại đa số; còn trong quan hệ quốc tế, đó là sự can thiệp một cách vô căn cứ vào chủ quyền, công việc nội bộ của nước khác.

Thứ hai, bảo vệ quyền con người của đại đa số người là ưu tiên số một của quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Quyền con người ở Việt Nam bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Bảo đảm để nhân dân Việt Nam thụ hưởng rộng rãi, đầy đủ và toàn diện các quyền này là mục tiêu cơ bản về vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Ở Việt Nam, chủ thể thụ hưởng quyền con người không phải là thiểu số, cũng không phải là một bộ phận người thuộc giai cấp hay tầng lớp nào đó, mà là toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều này thể hiện tính công bằng của quyền con người ở Việt Nam, cũng là điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt quyền con người ở Việt Nam với quyền con người ở các nền dân chủ đa nguyên phương Tây.

Thứ ba, chúng ta nhấn mạnh phát triển quyền con người của tập thể, quyền cá nhân không được “đứng lên trên” quyền và lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội. Quyền cá nhân và quyền tập thể có mối quan hệ với nhau, không thể tách rời, không có quyền con người của cá nhân thì không có quyền con người của tập thể, quyền tập thể hay quyền con người của tập thể lại là cơ sở của tất cả quyền con người của cá nhân, là điều kiện tiên quyết để cá nhân thụ hưởng tất cả các quyền và tự do. Đúng như quan niệm cho rằng “nước mất thì nhà tan”. Chúng ta vừa cần phải bảo vệ, tôn trọng quyền và tự do cá nhân, vừa phải tôn trọng quyền của người khác, cũng như tôn trọng, bảo vệ lợi ích của quốc gia, xã hội và tập thể. Không thể lấy danh nghĩa bảo vệ quyền con người của thiểu số mà xâm hại đến quyền con người của đại đa số người, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích quốc gia; nhấn mạnh quyền con người của tập thể chính là để bảo vệ nhiều hơn quyền con người của cá nhân.

Thứ tư, nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ là một nguyên tắc cơ bản của quyền con người ở Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ không thể tách rời. Điều 15, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”(5). Bất kỳ quyền và tự do nào cũng là tương đối, trên thế giới không có quyền và tự do tuyệt đối mà không chịu sự hạn chế hay chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ.

Thứ năm, việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật không phải là “vi phạm nhân quyền” như một số nước phương Tây quy chụp. Đây là sự thực thi quyền năng của Nhà nước nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời bảo đảm hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân.

Phản bác luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”

 Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước. Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng “việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam” (!?). Họ còn rêu rao rằng, tuyệt đối hóa tầm quan trọng của chủ quyền quốc gia là sai lầm (!?) và ngụy biện bằng viện dẫn báo cáo về an ninh con người của một số tổ chức quốc tế, như Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cũng nhấn mạnh bảo đảm an ninh cá nhân, mà coi nhẹ, không đề cập đến an ninh quốc gia.

Có thể nói, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn sai trái. Như chúng ta đã biết, quyền con người không bao giờ tách khỏi điều kiện, trình độ phát triển và chủ quyền của từng quốc gia - dân tộc. Quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất chỉ là “bình phong” che đậy cho các âm mưu mà các nước phương Tây lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền của nước khác. Để nhận diện và bóc trần âm mưu, thủ đoạn này, cần nhận thức đúng đắn mấy vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia là một tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cũng là cơ sở và tiền đề để thực hiện quyền con người. Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 24-10-1970, đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác...(3). Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, bao gồm lĩnh vực quyền con người. Không có chủ quyền quốc gia, cũng như không có luật pháp quốc tế, thì không thể nói đến bảo đảm quyền con người. Quan điểm cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” trực tiếp vi phạm tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ hai, việc thực hiện quyền con người cần phải dựa vào chủ quyền, do các nước thông qua pháp luật, biện pháp và cơ chế của nhà nước ở từng quốc gia - dân tộc để thực hiện. Các điều ước quốc tế về quyền con người đã quy định quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Để thực hiện tốt các quyền này, cần phải thông qua pháp luật quốc gia cũng như cơ chế bảo đảm của pháp luật quốc gia.

Thứ ba, quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Quyền con người của cá nhân và chủ quyền quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có chủ quyền thì không thể nói đến quyền con người, mất đi chủ quyền cũng có nghĩa là mất đi sự bảo đảm đối với quyền con người.

Thứ tư, quyền con người mang tính quốc tế, nhưng về bản chất là vấn đề thuộc công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy, các nước có quyền căn cứ vào tình hình cụ thể của nước mình để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thứ năm, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người nằm ở vị trí phụ thuộc. Như chúng ta đã thấy, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, chủ quyền quốc gia nằm ở vị trí ưu tiên. Bởi vì, quyền con người của cá nhân chịu sự quy định, chi phối và chế ước của pháp luật quốc gia. Đối với các điều ước quốc tế không phù hợp với chế độ chính trị, cũng như không phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, chính phủ các nước có quyền từ chối tham gia hoặc bảo lưu nhằm tránh việc đảm nhận nghĩa vụ điều ước có thể gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có khoảng hơn 28 điều ước quốc tế về quyền con người, nhưng Mỹ mới chỉ phê chuẩn 4 điều ước. Đặc biệt, nước này vẫn chưa phê chuẩn một số điều ước cốt lõi về quyền con người, trong đó có Công ước lao động cưỡng bức năm 1930. Lý do được Mỹ đưa ra là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xung đột với pháp luật của nước này, và bởi “chủ quyền quốc gia của nước Mỹ cao hơn tất cả”. Điều này cho thấy, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người chỉ ở vị trí phụ thuộc.

Thứ sáu, các quốc gia bất kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều có quyền tự chủ trong việc lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Hơn nữa, các quốc gia do sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và sự khác biệt về điều kiện lịch sử nên phương thức bảo đảm quyền con người có thể khác nhau.

Thứ bảy, việc các nước phương Tây rêu rao rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất xuất phát từ nhu cầu can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như thúc đẩy chính trị cường quyền mà thôi. Trên thực tế, nhân danh “dân chủ nhân quyền”, trong những thập niên qua, Mỹ và một số quốc gia đã sử dụng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ, thay đổi chế độ chính trị ở một số nước. Tuy nhiên, thực tế ở các nước sau khi Mỹ “can dự” cho thấy, cái mang lại cho những quốc gia này không hề là “dân chủ nhân quyền”, mà là sự xung đột và hỗn loạn. Chính vì thế, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không hề có giá trị đối với việc thúc đẩy quyền con người, mà trái lại, khiến khả năng xâm hại quyền con người một cách nghiêm trọng hơn.

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG KHỦNG BỐ TRÊN MẠNG INTERNET

 

Mạng internet có đặc tính tốc độ truyền thông tin nhanh chóng, không gian, thời gian rộng mở nên những thông tin trên mạng có khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nhận thức của con người ở mọi đối tượng. Các thế lực thù địch, tổ chức khủng bố triệt để lợi dụng các hình thái mạng internet để tuyên truyền về chủ nghĩa khủng bố, đồng thời cũng coi đây là phương thức liên lạc an toàn hiệu quả cho các thành viên trên thế giới thực hiện các hành vi khủng bố; gieo rắc và kích động tư tưởng cực đoan tới những cá nhân vốn đã mang sẵn sự thù ghét, bất mãn xã hội. Đối mặt với phương thức khủng bố mới, các nước trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu, bên cạnh việc tăng cường an ninh, theo dõi các đối tượng cực đoan, đồng thời ban hành các đạo luật mới giúp cho lực lượng an ninh có thể xâm nhập vào tài khoản nghi vấn trên mạng internet.

Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Trong những năm qua cùng với sự phát triển của mạng internet, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng để người dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội./.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

 

Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã xây dựng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, với hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, trên 400 báo, tạp chí... sản xuất hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai sự thật để phát tán vào trong nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm phê phán chế độ, kích động chống Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong, hoạt động chống phá Việt Nam ngày càng quyết liệt.

Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, nhất là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra các thông tin, ghép các hình ảnh giả để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mục tiêu mà chúng hướng đến là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tức là, phủ định hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam, ca ngợi, cổ súy hệ tư tưởng tư sản; tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vệt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; gây mất ổn định về chính trị; làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, áp đặt về kinh tế; chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây; “phi chính trị hóa” quân đội để vô hiệu hóa lực lượng vũ trang.

Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.

Dân chủ phải trong khuôn khổ của pháp luật

 

Từ khi thành lập Đảng (năm 1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, lãnh đạo đất nước qua những thời kỳ đấu tranh cách mạng giành độc lập, hòa bình, thống nhất, đổi mới, hội nhập. Nước ta có cơ đồ, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay không thể không kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng. Trong lịch sử hơn 90 năm qua, hình ảnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tấm gương của đảng viên, đặc biệt là tấm gương đạo đức, tác phong và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành hình ảnh được toàn dân yêu quý và tin tưởng. Những luận điệu xuyên tạc Đảng đứng trên Quốc hội, đứng trên Hiến pháp là hoàn toàn xằng bậy. Trong Điều 4 của Hiến pháp đã hiến định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo pháp luật. Các đảng viên là ĐBQH có quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ pháp luật, có quyền biểu quyết tán thành hoặc không tán thành những dự án luật, chủ trương, chính sách, những vấn đề mà Quốc hội xin ý kiến.

Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền dân chủ, đây là quyền bình đẳng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng tận dụng được dân chủ vì phải có trình độ nhận thức, năng lực để thực hành dân chủ. Để thực hiện đúng, đủ quyền dân chủ là một quá trình chứ không phải nói đến dân chủ thì muốn làm gì cũng được. Dân chủ phải tuân theo pháp luật, kỷ cương và sự tôn trọng lợi ích quốc gia, đặt lợi ích của mình trong tổng thể. Vì vậy, mỗi người dân phải học tập, rèn luyện, hiểu và thực hiện dân chủ theo khuôn khổ của pháp luật chứ không phải dân chủ quá trớn hay dân chủ vô chính phủ.

XÂY DỰNG “VĂN HOÁ TỪ CHỨC”

 

Chúng ta thường nghe câu cửa miệng của cán bộ “theo sự phân công của Đảng”. Đúng thế, tổ chức đảng, cấp ủy, chính quyền quyết định bổ nhiệm, giao nhiệm vụ cho cán bộ và khi tổ chức nói người cán bộ đó không làm, thì họ không làm nữa - nghỉ việc hoặc nghỉ hưu. Lâu nay, trách nhiệm không rõ, chưa có căn cứ rõ ràng nên vấn đề từ chức rất hiếm.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng ( về kinh tế ) thì được nhận diện, phát hiện đấu tranh phòng, chống quyết liệt, tạo chuyển biến tích cực, đạt kết quả cụ thể, trở thành phong trào, không ai đứng ngoài cuộc, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các vụ án, vụ việc bị xử lý kỷ luật Đảng và pháp luật của nhà nước chủ yếu là về kinh tế. Nhưng phòng, chống tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, thì chúng ta làm chưa mạnh.

Từ chức và “văn hóa từ chức” đã được đề cập tới, được nêu ra từ năm 1997 tại Hội nghị Trung ương 3/ Khoá VIII nhưng rồi chưa có quy định cụ thể. Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 41.QĐ/TW ngày 3/11/2021 về “miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” cần phải được thấm sâu vào văn hóa Đảng để xây dựng “văn hóa từ chức” trong cán bộ. Công tác cán bộ là “then chốt của nhiệm vụ then chốt” công tác tổ chức xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công tác cán bộ có nhiều khâu, nhiều bước từ quy hoạch, đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, luân chuyển...đó là một quá trình phát triển có chọn lọc, đào thải. Xử lý cán bộ không còn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ là cần thiết của quá trình giải quyết hài hòa giữa “xây” và “chống”. Đào thải là để làm cho Đảng mạnh lên, củng cố niềm tin trong nhân dân. Người cán bộ căn cứ vào những nội dung cụ thể trong Quy định 41 để chủ động từ chức. Ở nước ta, do tập quán, nhận thức, tâm lý nên có quan niệm về chức tước, địa vị được xem là sự thành đạt, không chỉ cá nhân trong xã hội, mà cả gia đình, dòng họ... người cán bộ phấn đấu cả đời, cả sự nghiệp để đạt được vị trí đó... không dễ gì để họ chủ động từ chức, mà họ chỉ chấp nhận như một sự bắt buộc.

Quy định số 41 đã thể hiện những điểm mới theo hướng rõ hơn, cụ thể hơn trong xử lý người từ chức. Có thể nói Quy định 41 kỳ vọng sẽ tạo nên sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng, tâm lý và cả thực hiện chức trách nhiệm vụ của cán bộ. Quy định nêu căn cứ, nếu có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp; do hạn chế về năng lực, không còn đủ uy tín thì anh phải từ chức, nếu anh không sẵn sàng từ chức, để cơ quan buộc thôi việc hoặc miễn nhiệm thì không còn gì là “ liêm “ là danh dự nữa. Từ chức là vừa chấp hành nghiêm quy định của Đảng, vừa thể hiện sự đề cao danh dự, trọng chữ “liêm” là điều đáng khen.

Vấn đề đặt ra là tổ chức đảng, các cấp ủy phải thường xuyên giáo dục, quản lý rèn luyện cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc “văn hóa từ chức”. Thưch hiện kịp thời việc đánh giá, nhận xét thực chất ưu điểm, khuyết điểm của mỗi người cán bộ, để giúp họ tự soi vào mà rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu. Cán bộ không thể hiện được vai trò, trách nhiệm nữa thì nên chủ động từ chức. Quy định 41 đã ban hành, yêu cầu quán triệt và thực hiện. Đó là trách nhiệm của người cán bộ. Có tự giác từ chức mới xây dựng được “văn hóa từ chức” trong Đảng và bộ máy nhà nước./.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH, NGĂN NGỪA NHỮNG THÔNG TIN LỆCH CHUẨN VĂN HÓA

 

Có thể nói trong thời gian qua, câu chuyện về một bộ phận thanh thiếu niên "tung hô" và bày tỏ “ngưỡng mộ” đối với một đối tượng từng có tiền án, tiền sự, đánh bạc, ghi đề, sử dụng ma túy và có những lời nói, hành vi phản giáo dục trên mạng xã hội (MXH), khiến nhiều người không khỏi giật mình về sự lệch chuẩn văn hóa của một bộ phận giới trẻ hiện nay rất đáng báo động. Nếu không ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc này sẽ khiến nhiều chủ nhân tương lai của đất nước mất phương hướng, động cơ phấn đấu tích cực, xa rời những chuẩn mực văn hóa, từ đó “phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”-một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể xem thường. Không ai phủ nhận những ưu thế, tiện ích nhiều mặt mà MXH đã mang lại cho con người. Điều đáng quan tâm hiện nay là làm thế nào để khai thác tối ưu những mặt tích cực từ MXH, đồng thời có thể phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực từ không gian ảo xuyên biên giới này? Để giải đáp thấu đáo vấn đề đó, trước hết đòi hỏi mỗi người trẻ phải hết sức tỉnh táo, không bị lôi cuốn, a dua bởi những trào lưu thiếu văn hóa xuất hiện trên mạng, kiên quyết không tiếp tay, cổ vũ cho những động thái câu “like” giật gân, những lời chia sẻ, bình luận thiếu văn hóa. Nhưng giới trẻ có đặc điểm chung là tâm lý chưa ổn định, thiếu kiềm chế, dễ bị “dẫn dắt, chi phối” bởi “tâm lý đám đông” trên MXH. Do vậy, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, các cán bộ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội sinh viên... cần thường xuyên gần gũi, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các em được tham gia những hoạt động văn hóa tinh thần hấp dẫn, các sân chơi lành mạnh. 

Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, trong đó có việc lợi dụng MXH để thực hiện âm mưu làm “đứt gãy” và xung đột giữa các thế hệ, tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ văn hóa độc hại, cổ xúy lối sống lai căng, tư tưởng lệch lạc nhằm “lái” giới trẻ “quay lưng” với truyền thống, lãng quên lịch sử, xa rời mục tiêu lý tưởng tốt đẹp, chúng ta càng phải quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Trách nhiệm này không riêng của tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên, hội sinh viên mà là trách nhiệm chung của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành, các cấp và toàn xã hội.

NHẬN DIỆN “ TƯ DUY NHIỆM KỲ” TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG!

“Tư duy nhiệm kỳ” thường do người đứng đầu chi phối, phụ thuộc khá rõ vào đạo đức, tầm trí tuệ, bản lĩnh, cá tính, văn hóa và động cơ, mục đích của họ. Hiện nay, nhiều ý kiến quan niệm “tư duy nhiệm kỳ” là tranh thủ nhiệm kỳ công tác của mình để xoay xở, trục lợi. Quan niệm này chủ yếu nói đến hành vi của người cán bộ lãnh đạo, quản lý lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tranh thủ vơ vét lúc đương chức!

Quan niệm về “tư duy nhiệm kỳ”
“Tư duy nhiệm kỳ” là cụm từ được các nhà chính trị, các học giả nhắc tới trong các diễn đàn chính trị, kinh tế - xã hội hiện nay. Lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến “tư duy nhiệm kỳ” tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (ngày 10-10-2011) của Đảng như lời cảnh báo, nhắc nhở cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng phải phòng, chống “tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 10-2016) xem “tư duy nhiệm kỳ”, cũng là một biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Như vậy, “tư duy nhiệm kỳ” theo nghĩa tiêu cực được hiểu là lối suy nghĩ, hành động không đúng, bất chấp quy luật, điều kiện, hoàn cảnh thực tế của cá nhân hoặc của một nhóm người, của tập thể trong cơ quan, đơn vị, tổ chức, trong nhiệm kỳ thực hiện chức trách, nhiệm vụ nhằm chủ yếu theo đuổi mục tiêu, lợi ích trước mắt trong ngắn hạn để thu lợi nhiều nhất cả về vật chất và tinh thần cho bản thân, cho “nhóm lợi ích” hoặc cho tập thể mà bỏ qua những mục tiêu, lợi ích dài hạn chung của tập thể, cộng đồng; hoặc do trình độ, năng lực hạn chế, thiếu thông tin, không nắm chắc tình hình, dẫn đến nhận thức không đúng, không đầy đủ, đề ra và thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chương trình, quy hoạch, kế hoạch trong nhiệm kỳ không sát, không đem lại hiệu quả, thậm chí còn gây ra những hệ lụy và hậu quả khó lường cho cả hiện tại và lâu dài.

Nhận diện “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức, cán bộ
Trong công tác tổ chức, cán bộ, những biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” đã và đang xuất hiện với nhiều hình thức, quy mô khác nhau, trên một số lĩnh vực trong công tác tổ chức, cán bộ, cụ thể:
Một là, trong nhận xét, đánh giá cán bộ
Khi nhận xét, đánh giá đối với cán bộ thường nể nang, né tránh theo kiểu “dĩ hòa vi quý”, “chín bỏ làm mười”, “nói việc nhỏ, bỏ việc lớn” để lấy lòng nhau và lấy lòng mọi người. Nhận xét, đánh giá đối với những cán bộ có khuyết điểm hoặc vi phạm thường rất nhẹ nhàng, nhấn mạnh phần ưu điểm, thành tích và phân tích sâu theo chiều hướng có lợi và nương nhẹ, lược bớt, bỏ qua phần hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và những vấn đề không có lợi; nếu có vi phạm đến mức phải có hình thức kỷ luật thì cũng biện hộ, đổ lỗi cho khách quan nhằm giảm nhẹ hình thức kỷ luật. Do đó, không ít trường hợp có vi phạm đến mức phải kỷ luật, nhưng cũng được cho qua, hạ xuống mức “kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc”. 

Khi nhận xét, đánh giá đối với những cán bộ có thành tích để được khen thưởng hoặc để bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào cương vị công tác mới cao hơn thì thường nhấn mạnh một chiều; ưu điểm, thành tích có ít thì phóng đại, tô hồng thành nhiều, khuyết điểm, hạn chế, yếu kém thì ít đề cập đến hoặc nói giảm đi hoặc chuyển thành những lời khuyên, lưu ý trong thời gian tới.

Những biểu hiện về “tư duy nhiệm kỳ” nêu trên đều dẫn đến việc nhận xét, đánh giá cán bộ thiếu công tâm, thiếu khách quan, thiếu chính xác, không thực chất, làm méo mó, sai lệch, không chuẩn xác, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng các khâu khác trong toàn bộ chu trình của công tác cán bộ, vì đánh giá cán bộ là khâu tiền đề, làm cơ sở để thực hiện các khâu khác của công tác cán bộ.

Hai là, trong công tác quy hoạch cán bộ
Quy hoạch cán bộ là để tạo nguồn cán bộ cho lâu dài. Tuy nhiên, do động cơ vụ lợi hoặc do tâm lý “chợ chiều”, tạo cơ hội, điều kiện cho nhau nên không ít trường hợp tiêu chuẩn, điều kiện đã được vận dụng, châm chước, để đưa những người thân, cùng cánh, cùng “nhóm lợi ích” vào danh sách quy hoạch.

Công tác quy hoạch phải tiến hành theo phương châm “động” và “mở”, nhưng thực tế ở nhiều nơi phương châm này chưa được thực hiện tốt. Vẫn còn xảy ra tình trạng khép kín, chỉ quy hoạch những người trong địa phương, cơ quan, đơn vị mình, không muốn mở rộng ra ngoài để số người có đủ tiêu chuẩn được quy hoạch ít đi, tạo điều kiện thuận lợi để đưa người thuộc nhóm thân hữu, “nhóm lợi ích” bổ sung vào danh sách quy hoạch. Không ít trường hợp đã được “phù phép”, “biến hóa” để được đưa vào quy hoạch với những lý do khác nhau.

Một số người có trách nhiệm thường “quan tâm” và “để mắt” đến những người thân của mình, người thân của những người đã có công nâng đỡ mình trước đây để “trả ơn, đáp nghĩa” hoặc đến những đối tượng có những ưu thế, điều kiện, khả năng mới nổi lên có thể lợi dụng được cho động cơ, mục đích của mình. Do đó, có tình trạng bằng nhiều cách khác nhau nhằm tạo ra những “chỗ trống” để có điều kiện đưa những người thân, cùng “cánh hẩu” vào quy hoạch, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận cho “thê đội sau”, để khi mình đã “hoàn thành nhiệm vụ” nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác thì vẫn có “anh em, chiến hữu” kế tục sự nghiệp hoặc còn có chỗ dựa, nhờ vả về sau.

Cũng có tình trạng “quy hoạch treo”. Đó là những người không đủ tiêu chuẩn cũng đưa vào quy hoạch. Thực chất là để “lấy lòng nhau”, ban phát cho nhau cái chức danh này, chức danh nọ. Cũng có tình trạng quy hoạch cán bộ nhưng không sử dụng, vì thấy những cán bộ đó có năng lực, trình độ để tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị trong suốt quá trình lãnh đạo của nhiệm kỳ hoặc những năm còn tại vị, nên tâm lý cán bộ lãnh đạo không muốn cho các cán bộ đó được đi học, luân chuyển hoặc bổ nhiệm lên chức vụ cao hơn; cứ để cán bộ đó công tác lâu dài ở một vị trí, chức danh nhất định, từ đó dẫn đến làm “xơ cứng, thui chột” động lực phấn đấu và phát triển của các cán bộ có năng lực, trình độ.

Ba là, trong công tác luân chuyển cán bộ
Đó là tình trạng thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch cán bộ, chưa có tiêu chí cụ thể; không xuất phát từ mục đích, yêu cầu nhiệm vụ, mà từ ý muốn chủ quan của một người hoặc của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Một số trường hợp đưa cán bộ đi luân chuyển trong thời gian quá ngắn, chủ yếu để “dán tem” đã đi luân chuyển và kinh qua làm cán bộ chủ chốt ở cấp dưới, tạo điều kiện để bố trí, bổ nhiệm vào các chức vụ chủ chốt ở cấp trên hoặc chức vụ cao hơn.

Không ít những trường hợp được luân chuyển không đúng đối tượng, như không phải là cán bộ trẻ, không nằm trong danh sách quy hoạch, chưa được đào tạo cơ bản và cũng không có khả năng phát triển. Có trường hợp đưa cán bộ đi luân chuyển nhưng nơi có cán bộ đi và nơi nhận cán bộ luân chuyển đến còn băn khoăn, chưa có sự nhất trí cao về người cán bộ đó, nhưng cấp trên chỉ trao đổi qua loa rồi ép xuống. Có trường hợp không thuộc đối tượng đi luân chuyển nhưng được những người có trách nhiệm “giúp đỡ” nên đã biến tướng trở thành cán bộ được luân chuyển để đáp ứng theo yêu cầu của địa phương, đến khi rút về thì nghiễm nhiên lại trở thành cán bộ đã được “dán tem” luân chuyển và được bố trí vào các chức vụ cao hơn. Những trường hợp như vậy đã làm hạn chế đến chất lượng và ảnh hưởng đến chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý của Đảng.

Việc luân chuyển cán bộ đối với một số trường hợp còn có biểu hiện chủ quan, không xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ nên chọn những nơi thuận lợi để đưa người “thân tín” đi và về sau khi hết thời hạn luân chuyển. Tình trạng đó đã dẫn đến bất hợp lý, thậm chí trái ngành, trái nghề, nơi thừa, nơi thiếu cán bộ; vừa không đáp ứng được yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, vừa hạn chế sự đóng góp của cán bộ luân chuyển đối với địa phương nơi cán bộ đến.

Cũng có tình trạng có cán bộ “chạy” để được đi luân chuyển ở địa phương, đơn vị thuận lợi cho quá trình công tác, tiến thân của mình. Trường hợp này là do cán bộ làm công tác tổ chức đã thoái hóa, biến chất, nắm chắc tình hình công tác cán bộ ở địa phương, đơn vị chủ động “bán” hoặc tiết lộ thông tin, tạo điều kiện cho cán bộ đó “chạy” để được luân chuyển đến nơi thuận lợi, có điều kiện nhất để phát triển lên vị trí, chức vụ cao hơn trong một nhiệm kỳ.

Bốn là, trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ
Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đã tranh thủ thời gian trước khi hết nhiệm kỳ hoặc trước khi nghỉ hưu tiến hành tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ một cách dễ dãi, tràn lan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện hoặc không thực hiện đúng quy trình, quy định chung. Không ít trường hợp đã tranh thủ trước khi hết nhiệm kỳ công tác, chuyển công tác khác đã bổ nhiệm, đề bạt con cháu, những người thân quen với mình hoặc người đã “chạy” và coi đó là “chuyện đã rồi”. Đối với lãnh đạo các doanh nghiệp thì tranh thủ trước khi hợp nhất hoặc cổ phần hóa để bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ là người thân trong gia đình cùng “nhóm lợi ích” vào các vị trí quan trọng; ngấm ngầm chia chác, tẩu tán tài sản, bố trí người thân vào những công việc “béo bở”, có nhiều lợi ích để dễ bề thao túng quyền lực và trục lợi.

Một số trường hợp đề bạt, bổ nhiệm hoặc giới thiệu ứng cử để bầu vào các chức danh lãnh đạo, quản lý được “châm trước” hoặc “cho nợ” tiêu chuẩn của chức danh bổ nhiệm và cho phép được “trả nợ” sau. Một số nơi đã bỏ qua hoặc làm tắt một số bước trong quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, dẫn đến thiếu minh bạch, khi có ý kiến phản ánh, cho là “chuyện đã rồi” để rút kinh nghiệm sau...

Có những trường hợp bổ nhiệm, đề bạt cán bộ tuy đã thực hiện đúng quy trình, được thảo luận, bàn bạc trong tập thể, nhưng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, còn thực chất là sự “hợp thức hóa” ý chí của người đứng đầu hay những người chủ chốt. Có không ít trường hợp mặc dù đã thực hiện đúng “quy trình” và bảo đảm nguyên tắc, thủ tục “dân chủ” từ dưới lên, nhưng cuối cùng vẫn là “ý chỉ đạo” của cấp trên, nên không lựa chọn được những người thực sự “có đức, có tài”, đã làm thui chột động lực học tập, rèn luyện, phấn đấu của những cán bộ tốt và tạo nên những dư luận xấu trong nội bộ và đối với những cán bộ được đề bạt.

Không ít người có phẩm chất, năng lực, trung thực, thẳng thắn và tâm huyết, dám đấu tranh với cái sai và bảo vệ cái đúng thì bị một số người có chức, có quyền dèm pha, ghét bỏ, không sử dụng hoặc bố trí vào những nơi để “ngồi chơi xơi nước” hoặc những nơi đầy khó khăn, vất vả; có người thì bị vô hiệu hóa và đẩy đi chỗ khác hoặc cho nghỉ hưu trước tuổi, nhằm tạo ra chỗ trống để bố trí người cùng “dây”, cùng phe cánh thay thế.

“Tư duy nhiệm kỳ” chủ yếu vẫn là tình trạng bổ nhiệm cán bộ không vì năng lực thực tiễn công tác mà vì nể nang, quen biết hoặc vì “nhóm lợi ích”. Chính kiểu “tư duy nhiệm kỳ” như vậy đang khuyến khích những kẻ kém tài, hám danh, hám lợi, nhiều tiền, nhiều quen biết... có nhiều cơ hội, điều kiện để có chức, có quyền.

Công tác tổ chức, cán bộ ở một số nơi đã bị chi phối, các thủ tục, quy trình đề bạt, bổ nhiệm được làm hình thức, để hợp pháp hóa một quyết định không hợp lý, hợp tình của người đứng đầu hoặc một nhóm người bằng cơ chế tổ chức. Khi một ai đó đã vào “tầm ngắm’ thuộc diện quy hoạch, lọt vào “mắt xanh” của cán bộ lãnh đạo hoặc đã “chạy đúng, đầy đủ các cửa” thì bằng mọi giá, người làm công tác tổ chức phải có nhiệm vụ đưa cán bộ đó về đúng đích. Đồng thời với nó là tình trạng “chạy chức, chạy quyền” đã và đang diễn ra ở nơi này, nơi khác. Đây là căn bệnh tiêu cực trong công tác tổ chức, cán bộ, gây bức xúc trong dư luận thời gian qua. Vấn đề này, qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng cho thấy: Một số ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy nhận trách nhiệm để xảy ra tình trạng một số đồng chí tỉnh ủy viên, lãnh đạo sở, ngành ở những năm cuối nhiệm kỳ, chuẩn bị nghỉ hưu mắc “bệnh cuối đời”, trì trệ, xao nhãng công việc, tranh thủ thu vén cá nhân, tranh thủ điều động, bổ nhiệm người thân không đủ tiêu chuẩn, điều kiện... Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng đã chỉ ra biểu hiện này trong khi đánh giá tình hình suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Năm là, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Chúng ta chưa có chiến lược đào tạo cán bộ một cách dài hơi để chuẩn bị cán bộ kế cận một cách có hệ thống mà vẫn còn ở tình trạng chắp vá, dẫn đến sau khi bổ nhiệm lại phải cử cán bộ đi học, hoàn chỉnh các điều kiện vì chưa đủ tiêu chuẩn. Chính vì lẽ đó, ở một số nơi, việc lựa chọn cán bộ đi đào tạo không vì mục đích phát triển lâu dài mà để “hợp pháp hóa” bằng cấp hoặc đáp ứng các yêu cầu trước mắt, như nâng lương, nâng ngạch cán bộ.

Tình trạng “học danh vọng”, tổ chức các lớp học và đăng ký dự học chỉ để hoàn chỉnh hồ sơ cán bộ, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn chức vụ mà chưa chú trọng yêu cầu thực chất, dẫn đến tình trạng “học giả” mà “bằng thật”. Có nơi đẩy những người mình không bằng lòng đi học để ở nhà “dễ làm việc”.

Giải pháp phòng, chống “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức, cán bộ
Trong tình hình hiện nay, “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức, cán bộ xảy ra với tính chất ngày càng tinh vi, mức độ ngày càng nghiêm trọng với những biểu hiện, biến thái khác nhau. Để khắc phục các biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức cán bộ nêu trên, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, có chủ trương, quy định, biện pháp cụ thể, thiết thực để kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, tư tưởng chủ quan, duy ý chí, hoặc tư tưởng cục bộ, địa phương, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Xây dựng môi trường công tác, làm việc lành mạnh, trước hết là trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế của Nhà nước.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có kết quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ; thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với việc thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1-11-2011, của Ban Chấp hành Trung ương, về những điều đảng viên không được làm và Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp để nâng cao khả năng tự đề kháng, chủ động phòng, chống “tư duy nhiệm kỳ” gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm trong cán bộ, đảng viên, trước hết là trong cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu.

Thứ hai, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đi đầu trong đấu tranh phòng, chống “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức, cán bộ, gắn với chống “lợi ích nhóm”, quan liêu, tham nhũng ở địa phương, đơn vị, tổ chức, cơ quan mình trực tiếp lãnh đạo, phụ trách; không bao che, tiếp tay, dung dưỡng, bảo vệ cán bộ cấp dưới có biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ” trong công tác tổ chức, cán bộ. Khắc phục tư tưởng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, ngại va chạm hoặc thỏa hiệp, che giấu khuyết điểm do sợ bị liên lụy đến trách nhiệm của tập thể, của bản thân.

Thứ ba, công khai, minh bạch trong công tác tổ chức, cán bộ.
Hoàn thiện các quy định về công tác tổ chức, cán bộ, quy định rõ chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, bảo đảm không thể lợi dụng “tư duy nhiệm kỳ” trong nhiệm kỳ công tác. Cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác tổ chức, cán bộ để xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu để phát huy hết trách nhiệm của người đứng đầu, không dựa dẫm vào tập thể, không lợi dụng cơ chế tập thể để hợp pháp hóa, thực hiện ý đồ cá nhân. Nghiên cứu xây dựng, ban hành cơ chế công khai, minh bạch trong công tác tổ chức - cán bộ, thi đua - khen thưởng để khắc phục triệt để biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ”, lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực trong công tác này.

Thứ tư, có quy định cụ thể cơ chế quản lý, theo dõi, kiểm soát lợi ích nhóm, người đứng đầu ở các cấp trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, giai đoạn đầu nhiệm kỳ và cuối nhiệm kỳ, hoặc chuẩn bị được điều động, luân chuyển công tác khác. Nếu thấy có biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ” trong quyết định các chủ trương, các vấn đề về công tác tổ chức - cán bộ thì phải có biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời, không để xảy ra hậu quả; trường hợp cần thiết thì phải chủ động chuẩn bị người thay thế để đảm đương chức trách, nhiệm vụ của cán bộ đó. 

Thứ năm, thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ chốt trong hệ thống chính trị một cách khoa học, thiết thực hơn để đánh giá sát, đúng năng lực, trách nhiệm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ để kịp thời điều chỉnh hoặc thay thế cán bộ không đủ khả năng, điều kiện, tín nhiệm thấp. Quy định nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh để giao và quản lý biên chế cán bộ, công chức. Thực hiện đúng quy định về số lượng cấp phó lãnh đạo, quản lý ở các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, phong cách, kỹ năng công tác; kết hợp việc đào tạo, bồi dưỡng với thực hiện luân chuyển để rèn luyện trong thực tiễn. Xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu cấp chiến lược ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước. Gắn chính sách tinh giản biên chế với việc thực hiện cải cách tiền lương, nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ, công chức để phòng, chống “tư duy nhiệm kỳ” gắn với lợi ích nhóm, tham nhũng. Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, chất lượng thi tuyển công chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh. Cơ cấu lại và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, có chính sách và biện pháp đồng bộ để thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu. 

Tập trung củng cố và xây dựng các cơ quan, đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ trong hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ các cấp thực sự “có tâm”, “có tầm”, “có tài”, bảo đảm “trung thành, trung thực, thẳng thắn, trí tuệ, tận tụy, thực tiễn” để góp phần đấu tranh phòng, chống, khắc phục biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ”, “bệnh thành tích” gắn với đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực nói chung và trong công tác tổ chức, cán bộ nói riêng.

Thứ sáu, trong quá trình tham mưu về công tác tổ chức - cán bộ, cán bộ tham mưu phải công tâm, khách quan, trung thực, không được để lọt, lộ thông tin, không được “bán” thông tin để cán bộ trong diện nguồn quy hoạch biết để “chạy” được luân chuyển, điều động đến nơi có nhiều thuận lợi, cơ hội thăng tiến. Trong quá trình thẩm định nhân sự cấp ủy khóa mới hoặc tham mưu, bố trí công việc cho cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý, cán bộ tổ chức không được phép gặp cán bộ dự nguồn cấp ủy, cán bộ dự kiến luân chuyển, điều động. Khi có dư luận hoặc đơn, thư tố cáo, khiếu nại về việc có tiêu cực, tham nhũng trong chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy vị trí công tác thì các cấp ủy phải chỉ đạo cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, làm rõ, kết luận và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

Thứ bảy, mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên, nhất là đồng chí bí thư cấp ủy cần nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân trong việc lựa chọn người lãnh đạo kế tục, tránh chủ quan, hình thức, tránh biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ”. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, bè phái, phe nhóm, cục bộ địa phương, từ việc nhận xét, đánh giá cán bộ đến giới thiệu, thẩm định, xét duyệt nhân sự, chọn và bổ nhiệm cán bộ chính xác./.
Ảnh: Các đại biểu Quốc hội tiến hành bỏ phiếu kín, đánh giá tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá XIV.
Yêu nước ST.

NỮ ANH HÙNG BIẾN MÌNH THÀNH THUỐC N.Ổ


Nữ anh hùng biến mình thành thuốc n.ổ là chị Hồ Thị Kỷ, sinh năm 1949 ở ấp Cây Khô, xã Tân Lợi, huyện Thới Bình, trong một gia đình nông dân nghèo, năm 10 tuổi Hồ Thị Kỷ đã được hướng dẫn đưa thư bí mật, đưa tin, năm 12 tuổi được kết nạp vào đội thanh niên tiền phong, sau đó tiếp tục làm giao liên ở ấp, xã. Năm 1968 chị được kết nạp vào Đoàn Thanh niên.


Hồ Thị Kỷ tham gia trận đầu vào ngày 25/4/1969, dùng m.ìn đ.ánh vào Kho Hậu cần của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 32, ph.á h.uỷ 1 kho đạn, làm cháy 232 căn trại lính và trên 2.000 lít xăng. Hồ Thị Kỷ được tặng bằng khen.


Năm 1969 chị tổ chức nhiều trận đánh biệt động vào thị xã Cà Mau d.iệt á.c ôn và ph.á h.ủy kho tàng v.ũ k.hí, xe của địch, với những thành tích xuất sắc đó chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ngày 03/04/1970 chị đưa 10 kg mìn vào đánh Ty Cảnh sát nhưng tình huống diễn ra ngoài dự kiến, không bỏ lỡ thời cơ chi giả vờ làm quen với địch và kịp ấn kíp m.ìn, một tiếng n.ổ long trời từ chi phát ra d.iệt 27 tên á.c ô.n ( trong đó có 01 sĩ quan M.ỹ ) 03 xe quân sự và bốt đ.ịch bị p.há sập, là trận đ.ánh mà Hồ Thị Kỷ đã anh dũng h.y sinh trong tiếng n.ổ, chị là biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng trên quê hương cách mạng Cà Mau, chị h.y sinh để lại muôn vàn tình thương của nhân dân với người con gái 21 tuổi vì nước quên mình.


Trong mấy năm làm chiến sĩ biệt động, chị đã đánh 6 trận d.iệt 46 tên đ.ịch, ph.á h.ủy nhiều xe, đ.ạn dược, kho tàng của địch.


Với thành tích đó năm 1972 chị được truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Để ghi nhận chiến công oanh liệt của nữ anh hùng, xã Tân Lợi quê hương của chị đã mang tên chị, một trường cấp 3, một đường phố Cà Mau cũng mang tên Hồ Thị Kỷ.