Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

Một Việt Nam với quyền tự do báo chí rộng mở

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).

Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Nhà báo và cơ quan báo chí trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo-với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân-phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.

Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.

Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua.

TT

Nhận diện rõ thủ đoạn và làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch

 

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. 16 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’I, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bà-la-môn giáo, Mặc môn, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bửu Sơn Kỳ Hương10. Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Tiếp tục phát huy vai trò, tác động tích cực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó, Đảng ta nhấn mạnh yếu tố văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; thực hiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộcĐây là mục tiêu trong thực hiện công tác tôn giáo. Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đảng ta đặt mục tiêu của công tác tôn giáo là đoàn kết tôn giáo trong mục tiêu chung đại đoàn kết toàn dân tộc là phù hợp, kế thừa, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phản ánh đúng ý chí, khát vọng của người Việt Nam hiện nay, trong đó có đồng bào có đạo. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người là sự khái quát đầy đủ chủ trương nhất quán của Đảng ta đối với vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ động lắng nghe, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chủ động, kịp thời phát huy những tác động tích cực, hạn chế, phê phán, đấu tranh, xử lý các biểu hiện tiêu cực liên quan đến tôn giáo.

Như vậy, Đảng ta đã kế thừa, bổ sung, tiếp thu những đóng góp quý báu từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nhất là nguyện vọng của đồng bào có đạo, phù hợp với thực tiễn sinh động của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đây là cơ sở định hướng trong nhận thức và thực hiện có hiệu quả công tác tôn giáo, tiếp tục phát huy “các nguồn lực của các tôn giáo” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đồng thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta./.


 

Những luận điệu “nhai đi nhai lại” rất xảo trá, thâm độc

Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...

Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

TT

Đập tan những luận điệu xuyên tạc, lố bịch


Cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử hết sức lố bịch. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã được thế giới (ngay cả những chính khách, tướng lĩnh Mỹ từng trực tiếp tham gia cuộc chiến đó) ghi nhận như một biểu tượng của tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục của phẩm giá con người.

          Khi thực dân Pháp đứng trước nguy cơ bị thất bại ở Việt Nam và Đông Dương, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp. Theo thống kê của BQP Mỹ, tính tới năm 1954, Mỹ đã chi tới 78% chiến phí cho Pháp; đã gửi hàng trăm phi công, cố vấn quân sự để giúp quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ. Thậm chí khi Điện Biên Phủ nguy cấp, Chính quyền Mỹ đã tính đến kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân để cứu nguy cho Pháp nhưng không được Quốc hội đồng ý. Sau khi Hiệp định Giơ/ne/vơ được ký kết, Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm để phá hoại Hiệp định; mặt khác, tìm cách can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Chính quyền Mỹ đã dựng lên cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (ngày 04-8-1964), mà sau này, những người đứng đầu chính giới Mỹ lúc bấy giờ, là Tổng thống Giôn-xơn, Bộ trưởng Quốc phòng Mắc-na-ma-ra đều phải thừa nhận là “sự dối trá tai hại nhất” để mở đầu cho cuộc “thập tự chinh” ở Việt Nam, cho phép Tổng thống Giôn-xơn quyền không giới hạn để ngăn chặn “sự hiếu chiến của Cộng sản”.

Như vậy, cuộc kháng chiến hào hùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là bản hùng ca bất diệt, mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Chiến thắng 30/4 là chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phát huy tinh thần cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta lại vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.


Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 


Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc hiện nay, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống, nhận diện rõ bộ mặt, chiêu trò lố bịch của chúng để tẩy chay, loại bỏ.


 

Không thể phủ nhận sự thật và đảo ngược chân lý


Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 48 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.  Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”. Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”. Đây là những bằng chứng hùng hồn, chúng minh cho sự chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa xuân năm 1975.


 


Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxít-lêninnít vĩ đại của thế giới và của dân tộc Việt nam

 

Những luận điệu xuyên tạc này của các thế lực thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Trên thực tế, nhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh - sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ làm biến đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”. Cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà khoa học và chính khách lớn của thời đại cũng khẳng định giá trị và tầm vóc thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxít-lêninnít vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”(13). Giáo sư Nhật Bản Sing-gô Si-ba-ta đã viết một công trình có tên là “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”. Việc những kẻ chống phá “quay lưng” lại với những bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, họ không xuất phát từ lập luận khoa học, mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Hồ Chí Minh - một chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

 

Đây là quan điểm mang tính phản động về tư tưởng và sự nguy hại của luận điệu trên. Kết luận trên cũng có nghĩa chúng cho rằng “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH-tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. 

Vậy, Hồ Chí Minh có phải là người theo chủ nghĩa dân tộc không? Câu trả lời dứt khoát là “Có”-nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc vô sản-tức là không như các thế lực phản động, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, bất mãn ở trong, ngoài nước vẫn xuyên tạc và cáo buộc. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản. Chính chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa Vô sản đã làm nên sức mạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến Chủ nghĩa Lênin đăng trên Báo Nhân Dân, số 2226, ngày 22/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”.

Đây không chỉ khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn kiên trì theo chủ nghĩa dân tộc vô sản và bản thân Người được nhân loại tiến bộ thừa nhận là chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; mà còn là bằng chứng đanh thép, là cơ sở khoa học để bác bỏ luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh là người đơn thuần theo chủ nghĩa dân tộc. 


Kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh loại bỏ quan điểm hoàn toàn sai trái

 

Đâylà một chiêu trò rất nguy hiểm của các thế lực thù địch. Mới đọc qua có người dễ lầm tưởng, đó là sự đánh giá đúng tư tưởng Hồ Chí Minhnhưng thực chất quan điểm trên không chỉ là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn xuyên tạc, bóp méo, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bởi vì:chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cung cấp cho Người nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.Có thể nói, dù tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, cả tiền đề lịch sử và tiền đề tư tưởng, hội tụ truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Tin và đi theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhưng thấu hiểu đặc tính “mở” của hệ thống lý luận ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tiếp thu theo lối giáo điều, sách vở, không bị trói buộc trong cái “vỏ” ngôn từ mà nắm lấy “cái thần”, cái “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phép duy vật biện chứng.. Với tư duy sáng tạo, Người đã phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên một loạt vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong một thời đại mới và không gian mới. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Người đã làm cho học thuyết Mác - Lê-nin được “Việt Nam hóa”, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Người đã để lại bài học lớn: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “kim chỉ nam” cho hành động cách mạng nhưng không phải là khuôn mẫu, là “linh đan kê sẵn”; nếu biến lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thành “kinh thánh” và công thức sáo mòn thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi thực tiễn không ngừng biến đổi. Vì thế, người trung thành nhất phải là người sáng tạo nhất. Do đó, nền tảng tư tưởng của Đảng được tạo thành bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “thể thống nhất liền khối”, luôn hiện hữu và quyện chặt trong nhau, không thể tách rời.


Chủ nghĩa Mác-Lênin truyền bá vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan

 

Ta phải khẳng định ngay rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan trong quá trình vận động của các yếu tố lịch sử trong và ngoài nước. Cần phải nhớ rằng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, là một nước nô lệ. Trong hơn 80 năm trường nô lệ đó đã có nhiều hệ tư tưởng, nhiều đảng phái tồn tại, thu hút được một bộ phận nhân dân tham gia, hưởng ứng, thậm chí đã có những hành động cụ thể để giành độc lập nhưng đều bị Thực dân Pháp dìm trong biển máu, lý do là không có một đường lối lãnh đạo đúng đắn. Điều này khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong một hoạt động có tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, đó là việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lêninvào nước ta. Dưới sự dẫn lối, soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư ưởng Hồ Chí Minh, trong 93 năm qua, Đảng Cộng sảnViệt Nam từng bước lớn mạnh và phát triển, không chỉ đủ sức lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại mà còn lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hiện nay.


Nhận diện và kiên quyết loại bỏ quan điểm phiến diện, sai trái


Tuy Hồ Chí Minh không có những công trình mang tính chuyên luận nhưng tư tưởng, lý luận không nhất thiết sinh ra từ những cuốn sách dày cộm, ví dụ như tác phẩm của Không Tử, Lão Tử như Luận ngữĐạo đức kinh chỉ là những lời giảng đạo của hai ông, được người đời sau chép lại nhưng ai dám bảo các ông không phải là nhà tư tưởng, sáng tạo học thuyết. Hơn nữa, một người có trí tuệ lỗi lạc uyên thâm như Hồ Chí Minh, muốn viết lý luận kiểu hàn lâm không phải không làm được nhưng với người dân Việt Nam với đại đa số là nông dân và cần phải nắm những vấn đề chính để vận dụng làm cách mạng nên cách nói, cách viết phải dễ hiểu, dễ nhớ vì lý luận là để áp dụng thực tế. Người phê phán: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem”. Do đó, nếu nói không có tư tưởng Hồ Chí Minh thì nói như giáo sư Trần Văn Giàu, “nói rằng không có gì là tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng giống như nói rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là nhanh tay, lẹ chân chìa cái rổ ra hứng quả chín đang rơi; cũng như nói rằng Pháp vốn là người thừa kế truyền thống cách mạng năm 1789 nên vui lòng nhả miếng mồi Đông Dương, cũng như nói rằng Mỹ giàu sụ rồi không thiết nghĩ gì đến Việt Nam nữa, bèn rút nửa triệu quân và 1.000 máy bay về nước cho đỡ mệt và lo… Tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng chỉ đạo trong suốt thời kỳ lịch sử cách mạng và kháng chiến dài nửa thế kỷ”. Tư tưởng đó của Người là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thu được những thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói “nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”


Cứu nước, cứu dân là mục tiêu duy nhất và nhất quán của Hồ Chí Minh trong hành trình bôn ba các châu lục.

 

Nhìn lại lịch sử có thể thấy rõ, nếu chỉ vì “tìm sinh kế” cho cá nhân, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tham gia cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ và chỉ cần tiếp tục theo học các trường bản xứ ở ngay trong nước và trở thành một công chức có cuộc sống thuận lợi trong bộ máy chính quyền thuộc địa. Con đường này rộng mở và ít hiểm nguy hơn rất nhiều so với con đường đi ra nước ngoài với hai bàn tay trắng.

Mục tiêu ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện ở quyết tâm cao độ, dám lựa chọn con đường đầy những chông gai, thử thách, mà còn được khẳng định qua những suy nghĩ, việc làm của Người trong suốt hành trình bôn ba ở nước ngoài.

Làm phụ bếp, công việc rất vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc.

Luôn theo đuổi mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ I họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Hồ Chí Minh đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ. Tuy Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị đếm xỉa đến. Song, nó giúp Hồ Chí Minh “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(9).

Cứu nước, cứu dân cũng là lý do để Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trả lời câu hỏi tại sao gia nhập Đảng, Người nói rõ: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Và cũng trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã gặp được “Luận cương các vấn đề về dân tộc và thuộc địa của Lênin” và từ đó dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.


Chủ nghĩa Mác- LêNin không lỗi thời trong thời đại ngày nay


Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng với việc nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng, với việc khám phá ra những quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang trang bị cho chúng ta những phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thế giới. Thực tế hiện nay, chính trong các nước tư bản vẫn đang phải thừa nhận tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh mới và vẫn đang phải tích cực học tập chủ nghĩa Mác. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”. Chương trình Thời đại chúng ta phát trên sóng phát thành radio 4 của Đài BBC của Anh tổ chức thăm dò với 3 vạn phiếu phát ra: Kết qủa trong số 20 triết gia vĩ đại được đưa ra để lựa chọn, Mác được chọn là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại từ trước đến nay bởi những cống hiến khoa học xuất sắc của ông. Còn theo kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Campridge (Anh) công bố năm 1999. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra ở phố Wall của nước Mỹ, cả thế giới tư bản phải quay trở lại tìm đọc Bộ Tư bản của Mác để mong tìm ra lời giải đáp thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, nên năm 2008 - 2009, Bộ Tư bản của Mác trở thành cuốn sách bán chạy nhất thế giới. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C.Mác mà họ không biết”. Còn các tác phẩm của Lênin vẫn xếp vị trí số 1 và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 thứ tiếng. Như vậy, chính thế giới tư bản chủ nghĩa đã khẳng định chủ nghĩa Mác không lỗi thời trong thời đại ngày nay như một số luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.


Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn luôn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội

 

Đúng là các châu lục khác nhau có những đặc thù khác nhau trong quá trình vận động, phát triển. Nhưng như thế không có nghĩa mỗi châu lục phải có nền toán học, vật lý, hóa học, hay khoa học nói chung riêng biệt. Tại sao các dân tộc khác nhau ở những châu lục khác nhau họ có thể hiểu được các tác phẩm văn học, nghệ thuật, những tác phẩm điện ảnh v.v. của nhau được? Họ hiểu được những điều này là bởi lẽ, mặc dù giữa các dân tộc có sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý nhưng họ đều dựa trên những tri thức khách quan, những quy luật khách quan được phản ánh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh đó. Chính những tri thức khách quan, chính cái quy luật khách quan hay nói khác đi chính cái biện chứng khách quan đã quy định cái biện chứng chủ quan trong đầu óc họ. Các tri thức khách quan, các quy luật khách quan không phụ thuộc vào ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, chỉ phụ thuộc vào nội dung khách quan mà nó phản ánh. Các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán... chỉ làm cho các tri thức khách quan, các quy luật khách quan được phát hiện, trình bày mang thêm sắc thái chủ quan khác nhau mà thôi chứ nội dung khách quan mà chúng phản ánh vẫn là một, là không đổi. Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người. Vì vậy, cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có thể thay thế.


Lên án, loại bỏ quan điểm sai trái, không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

 


 Thứ nhất, về lý luận: Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, những đóng góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì trí thức không phải là một giai cấp, không đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập nào; trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. 

   Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ, có hệ tư tưởng tiên tiến. Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số lượng người  lao động được  đào tạo ở trình độ, tay nghề cao ngày càng nhiều, không ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung cho giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu mà ngyà càng phát triển.

 Do đó, cho dù sự biến đổi kinh tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội, lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Do vậy, quan điểm cho rằng, trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số giai cấp công nhân đã bị phân hóa, bị suy giảm về nhiều mặt không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò lãnh đạo ấy đã chuyển sang trí thức, là quan điểm sai trái, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, đó là chủ ý thổi phồng vai trò của trí thức, kích động đội ngũ trí thức, khơi dậy tham vọng quyền lực, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bằng chứng của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng CNXH.

Bài đấu tranh, phản bác: Cần nhận thức đúng đắn sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu

Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn đánh thắng những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu.

Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.


Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa sự kiện 30/4/1975

 Có một số luận điệu đòi “định danh lại ngày 30/4 cho phù hợp” vì không chấp nhận 30/4 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Họ lý giải một cách xuyên tạc rằng: Gọi ngày 30/4 là “ngày giải phóng” thì mơ hồ vì không thể có miền Bắc đi giải phóng cho miền Nam; gọi là “Ngày thống nhất” thì rất khiên cưỡng vì Việt Nam DCCH và Việt Nam cộng hòa là hai nước khác nhau; gọi là “Ngày hòa bình” sao được vì đất nước đến nay vẫn chưa có hòa bình; gọi là “Ngày hữu nghị” cũng không đúng vì tiếp đó còn đánh nhau với Campuchia và Trung Quốc; không thể gọi là “Ngày độc lập” vì chưa có độc lập, cũng không thể gọi là “Ngày tự do” vì mãi đến năm 2013 Hiến pháp mới dè dặt bổ sung về “quyền con người, quyền công dân”; gọi là “Ngày hòa giải”, “Ngày hòa hợp”, “Ngày nô lệ”, “Ngày quốc hận”, “Ngày đen tối” đều không chuẩn. Từ đó, họ đề xuất gọi 30/4 là “Ngày nói thật” để cho mọi người được nói lên sự thật.

Từ việc phủ nhận ý nghĩa lịch sử của sự kiện 30/4/1975, họ lấn sang phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đổ tội cho Hồ Chí Minh “du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam dẫn đến tình cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt 1954-1975”. Họ hết lời ca ngợi Việt Nam cộng hòa mà không hề nhận thấy bản chất “Cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về giày mả tổ”.

Tất cả những luận điệu trên đều nhằm xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, mỗi chúng ta cần tỉnh táo để không hùa theo luận điệu phản động./. 

Giá trị, ý nghĩa sự kiện 30/4/1975 vẫn còn đó

 Để có chiến thắng ngày 30/4/1975, nhân dân Việt Nam yêu nước chân chính phải đấu tranh kiên cường, bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ.

Ngày toàn thắng 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như một sự kết thúc chiến lược vô song, trở thành biểu tượng cho trí tuệ và tinh thần Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ trên thế giới; giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là kết quả sự hy sinh, nỗ lực to lớn toàn dân tộc trong cuộc đấu trí và đấu lực quyết liệt, lâu dài giữa ta và địch; của sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chỉ huy ở tầm vĩ mô kết hợp với hoạt động chiến đấu cụ thể của từng cán bộ, chiến sĩ ở từng chiến trường, đơn vị. 

Thắng lợi ấy chứng minh rằng, một dân tộc đất không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của Đảng có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, lại được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực đế quốc xâm lược. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, là sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc./. 

Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc lịch sử và thành tựu phát triển của đất nước

 Hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị mang nặng lòng thù hận với dân tộc, với Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra sức nhào nặn, lắp ghép, bóp méo sự kiện, tuyên truyền xuyên tạc ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa; cho rằng cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam là một cuộc chiến tranh vô nghĩa, là nội chiến, là cuộc chiến tranh “nồi da nấu thịt”… Phải khẳng định rằng, đương đầu và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và đội quân tay sai, chư hầu là cuộc một đấu tranh giai cấp quyết liệt. Đây không phải là “nội chiến”, mà về phía địch là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ; về phía ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược để giành và giữ nền độc lập dân tộc.

Bên cạnh việc xuyên tạc lịch sử, truyền thống cách mạng của dân tộc Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động còn phủ nhận những thành tựu của sự nghiệp cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao cho rằng, sau 48 năm thống nhất đất nước, 37 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là “nước tụt hậu, nhân dân còn đói nghèo, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy đồi, xã hội vô kỷ cương…”.

Thực tế qua 48 năm xây dựng đất nước từ hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại và qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới; văn hóa, xã hội và đời sống Nhân dân không ngừng được nâng lên. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Tôn trọng và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống dân tộc, thành quả cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là lương tâm, trách nhiệm, là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Chính vì vậy, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bôi đen truyền thống lịch sử, thành quả cách mạng… chắc chắn sẽ bị xã hội và Nhân dân phê phán, lên án mạnh mẽ./. 

Cán bộ không dám làm sẽ bị thay thế

 

Cán bộ không dám làm sẽ bị thay thế

 

Thủ tướng yêu cầu thay thế hoặc điều chuyển công việc những cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về ngày 30/4/1975

 Mỗi năm, cứ đến ngày 30/4 là trên mạng internet lại xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử về ngày 30/4/1975 của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu, tác động đến tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong giới trẻ.

Là người dân Việt Nam, chúng ta cần hiểu rõ, chiến tranh đã để lại cho đất nước những nỗi đau to lớn; biết bao xương máu các anh hùng đã đổ xuống để giành lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, chúng ta cần nhận thức đầy đủ nguyên nhân vì sao đất nước ta có chiến tranh, vì sao Bắc – Nam bị chia cắt. Đó là do mưu đồ của bọn đế quốc xâm lược, chúng muốn biến dân ta thành nô lệ, biến đất nước Việt Nam phải lệ thuộc vào ngoại bang.

Với truyền thống yêu nước và quật khởi, nhân dân ta không khuất phục trước những áp bức, bất công nên đã đứng lên chiến đấu để giành lại độc lập, tự do. Chúng ta phải chứng minh cho thế giới thấy được nguyên nhân sâu xa thất bại của Mỹ – Ngụy ngày 30/4/1975 là do cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo, trái với đạo lý, bị nhân dân trên thế giới lên án mạnh mẽ. Nhân dân Việt Nam đã trải qua biết bao mất mát hy sinh. Vì vậy, đến dịp kỷ niệm ngày giành được chiến thắng, chúng ta không chỉ vui mừng vì đất nước được độc lập, tự do, vui mừng vì quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp, mà còn tưởng nhớ công lao và tôn vinh những người đã anh dũng hy sinh máu xương cho Tổ quốc, để chúng ta có cuộc sống như hôm nay.

Chiến thắng 30/4/1975 luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam, sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn giúp cho Đảng và nhân dân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính tự lực, tự cường, quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không mơ hồ, mất cảnh giác mà phải nhận thức rõ mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch và phần tử xấu. Nhân dân ta hãy tuyệt đối nêu cao tinh thần cảnh giác, giữ vững niềm tin với Đảng, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kiên quyết không nghe theo kẻ xấu lôi kéo, kích xúi thực hiện những hành vi chống phá, gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương. Hãy chung tay góp phần bảo vệ sự bình yên và hạnh phúc cho nhân dân, tạo điều kiện cho người dân được hưởng trọn vẹn niềm vui trong những ngày nghỉ lễ 30/4./.

Thông tin xuyên tạc lịch sử về ngày 30/4/1975 của các thế lực thù địch

 Những ngày gần đây, trên mạng internet xuất hiện một số bài viết xuyên tạc sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975 và kích động biểu tình của các thế lực thù địch. Đây là những bài viết xuyên tạc hoàn toàn nhằm tác động, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đối với những giá trị lịch sự của dân tộc. Chúng ta cần đấu tranh, lên án mạnh mẽ với những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các đối tượng xấu.

Như chúng ta đã biết: Đại thắng mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là chiến thắng ngày 30/4 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; mở ra kỷ nguyên mới đối với dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước bước vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội để nhân dân ngày càng có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó mãi mãi là sự thật lịch sử vẻ vang không một ai, không một thế lực nào có thể bác bỏ hoặc xuyên tạc được.

Vậy mà, hiện nay, có những thiên kiến lệch lạc, những ngộ nhận, mơ hồ trong sự nhìn nhận, đánh giá sự thật lịch sử mà một số kẻ vong ơn bội nghĩa, phản bội thành quả cách mạng, phủ nhận, xuyên tạc giá trị, ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Chiến thắng 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã viết lên những dòng chữ thiếu hiểu biết như vậy và kích động người dân biểu tình đăng tải lên mạng internet… Những bài viết đó hoàn toàn xuyên tạc, kích động, tiếp tay cho kẻ thù, ngược với trào lưu lịch sử. Chắc hẳn tác giả của những bài viết đó đã cố tình quên sự tàn bạo, phi nhân, tội ác mà thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai của chúng đã gây ra cho người dân Việt Nam.

          Lịch sử đã lùi xa nhưng mỗi người dân Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu Đồng bào cần mãi mãi ghi nhớ rằng: Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, nhân dân Việt Nam luôn thiết tha với hòa bình, khát vọng tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng, vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc mà nhân dân ta buộc phải cầm súng, giương cao khẩu hiệu “Quyết chiến và Quyết thắng” . Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là một thắng lợi của chính nghĩa, đem lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân, đồng thời xóa bỏ một trật tự “bù nhìn” đã lỗi thời. Có được hòa bình như ngày hôm nay, dân tộc ta đã phải trả bằng mồ hôi, nước mắt, xương, máu, và cả tính mạng con người nên chúng ta rất thấm thía giá trị này. Ai đó, vì bất cứ lý do gì, gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chính vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, không nghe những luận điệu tuyên truyền sai trái và sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch, phần tử xấu, cùng nhau đoàn kết, thống nhất, đấu tranh, phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền về ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975; âm mưu, hoạt động lợi dụng sự kiện này của các thế lực thù địch để tiến hành các hoạt động chống phá, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gì trật tự an toàn xã hội./ 

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

 

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí

ở Việt Nam

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân.

ÂM MƯU CHỐNG PHÁ NGÀY 30/4 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

  Những ngày này, khắp mọi miền Tổ quốc đều đang vui mừng, phấn khởi hướng về Kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2023). Thế nhưng, có không ít tổ chức phản động lưu vong, phần tử cực đoan, cơ hội chính trị, chống đối, những kẻ mang trong mình tư tưởng hận thù, tiếc nuối quá khứ hoặc mưu cầu danh lợi vẫn ráo riết thực hiện các âm mưu, hoạt động chống Việt Nam, dưới hai hình thức, thủ đoạn chính sau: Chúng tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước; ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hòa, phủ nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam, sự hy sinh to lớn vì chính nghĩa của dân tộc ta; xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ. Kích động, lôi kéo, xúi giục người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự; kết hợp với việc rải truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Mặt khác, các đối tượng ở bên ngoài còn tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong nước chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, bom xăng... để tấn công các cơ quan công quyền, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng để gây mất an ninh trật tự, khủng bố, phá hoại trong dịp lễ 30/4.

 

        Kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, là công dân Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, chúng ta bày tỏ tinh thần khoan dung, hòa hiếu của một dân tộc có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, bất khuất, yêu hòa bình, nhưng chúng ta không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức với danh nghĩa nào được phép xuyên tạc, bóp méo, bôi đen về Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975. Mỗi chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, lôi kéo hoạt động chống đối, khủng bố, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên môi trường không gian mạng. Tuyệt đối không nghe theo các tổ chức phản động với hình thức tham gia các hội nhóm trái pháp luật trên mạng, không chia sẻ bài viết, hình ảnh của các tổ chức, hội nhóm có nội dung nói xấu Đảng, Nhà nước, bôi nhọ Bác Hồ và lực lượng vũ trang. Khi phát hiện những hoạt động có biểu hiện nghi vấn của những cá nhân, tổ chức, thì báo ngay với cơ quan chức năng để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật./.

Nhà báo và cơ quan báo chí trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch

 

Nhà báo và cơ quan báo chí 

trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch

 

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận

 

Lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận

 

Tòa án nhân dân TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng (sinh năm 1975; trú tại phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội) 6 năm tù và quản chế 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

#ANHHUNGLLVT34

⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân.


Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị-xã hội ở Việt Nam.


Những luận điệu “nhai đi nhai lại” rất xảo trá, thâm độc


Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.


Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.


Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...


Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.


Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.


Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.


Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).


Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).


Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...


Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.


Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.


Nhà báo và cơ quan báo chí trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch


Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.


Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo-với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân-phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.


Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.


Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua.


PGS, TS TRƯƠNG THỊ KIÊN, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

#ST Trường Tồn 

Báo QĐND