Thủ tướng chính phủ: Phải chấm dứt tình trạng cán bộ bộ sợ trách nhiệm
Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023
Thủ tướng chính phủ: Phải chấm dứt tình trạng cán bộ bộ sợ trách nhiệm
“BIẾT ĐỒNG SỨC, BIẾT ĐỒNG LÒNG, VIỆC GÌ KHÓ, CŨNG LÀM XONG”
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 THÁNG 4 NĂM 1963!
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG ĐỊCH LỢI DỤNG DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định: Chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá có thể gây ra nhiều tình huống khác, như: bạo loạn, xung đột vũ trang, lấn chiếm biên giới.
Thực hiện đường lối, quan điểm
chỉ đạo của Đảng là phải ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nhất là đường giao thông, công
trình thủy lợi, trường học, trạm y tế. Đồng thời, xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết
những mâu thẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các điểm nóng, điểm
phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược.
Thường xuyên phải nâng cao năng
lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; tăng cường công tác đối ngoại, tạo môi trường quốc
tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đập tan âm mưu lợi dụng
dân tộc, tôn giáo gây biểu tình, bạo loạn của các thế lực thù địch, sẵn sàng
đánh thắng quân địch phát động chiến tranh xâm lược và phòng
ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển
đảo.
Tăng cường các biện pháp, tiếp tục củng cố, kiện
toàn tổ chức, hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ dân vận theo quy chế lãnh đạo
công tác dân vận của Đảng bộ Quân đội. lựa chọn cán bộ có năng lực, tâm huyết,
kinh nghiệm là người dân tộc thiểu số tại địa phương làm công tác dân vận. Cần thiết
phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ dân vận công tác ở vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, các địa bàn trọng yếu. H.V.T
TÍCH CỰC PHÒNG CHỐNG SỰ CHIA RẼ, BẢO VỆ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Lịch sử dân tộc ta cho
thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm
mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết
điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là
khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố
có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt
Nam”. Đây là mục tiêu các thế lực thù địch luôn âm mưu chia rẽ từ bên trong nội bộ
khối đại đoàn kết dân tộc ta từ bên trong. Thực tiễn trong đại dịch Covid-19 ở miền Nam, khi
Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch trên
địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội đã xuất
hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân
đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt
ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực
lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.
Thực tế cho thấy, hiện
nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu
thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi
chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại
cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ
đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên
truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại
đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế,
khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi,
phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.
Chúng triệt để lợi dụng
những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích
động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi
dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền
thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân
quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp
nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...
Đáng chú ý, chúng tập
trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với
các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công
an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các
khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã
hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những
thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân
tộc.
Nhìn lại sau hơn 36 năm
đổi mới, Nghi quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng
cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy
nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được
quan tâm phát huy đầy đủ”.
Bên cạnh đó, là những vấn
đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và
giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn
hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành
tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại
hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh
lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm
vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu
chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy
giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta./.
VHT.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ
Cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”,
“bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả
nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của
các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng,
phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị,
mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của
họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề
quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo
dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng
viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đề cập đến vấn đề này, thoạt nghe có vẻ giáo
điều, “muôn thuở”, nhưng thực tế không phải vậy. Trái lại, nó thật sự quan
trọng và cấp thiết, nhất là trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế
lực thù địch đang thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” quân đội. Quá trình
tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải coi trọng mọi đối tượng, coi
trọng tính toàn diện; nhưng trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ,
đảng viên và nội dung trọng tâm là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, giáo dục giữ vững bản chất giai cấp công nhân, lý tưởng cách mạng, mục
tiêu chiến đấu cho Quân đội. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững
chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp
đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”,
luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN. Đồng thời, còn
nhằm trang bị “vũ khí luận” cho cán bộ, đảng viên để họ đấu tranh có hiệu quả
với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của
Đảng trong Quân đội.
Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây
dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các
cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then
chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về
mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu
cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên
lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội
của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự
trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần
phải đặc biệt coi trọng công tác này.
Để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ
chức đảng các cấp, cần chú trọng kiện toàn cấp ủy gắn với tổ chức chỉ huy đảm
bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu; gắn xây dựng cấp ủy viên với cán bộ chủ
chốt các cấp; chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên
cả về phẩm chất, năng lực, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình
mới. Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn
kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh
đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương
thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương
châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”,
nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch
các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm. Đồng thời, thực hiện
nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được
làm của Ban Chấp hành Trung ương.
Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công
tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt,
thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện
Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua
Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống,
cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng
khắp và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng
lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động
chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân
đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa
những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó,
phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt
thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm
xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an
toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.
Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường
xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ
quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng,
đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân
trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác
chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ
thực tiễn, nhất là qua Sơ kết thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị
(khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy
Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn
tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu
quả trong thời gian tới. Trong đó, cần coi trọng nâng cao phẩm chất, năng lực
cho chính ủy, chính trị viên để họ hoàn thành tốt chức trách, cương vị được
giao; đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với
người chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực
hiện các mặt công tác, các nhiệm vụ của đơn vị.
Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được
tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là
tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng,
khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn,
thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của
các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ
thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh
vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực
tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình
hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin,
tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc
biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin
được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng,
nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông
tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác.
Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn
tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và
trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy
cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng
và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi
những thông tin xấu độc, trái chiều. Trong thời gian qua, nhìn chung chúng ta
thực hiện khá tốt công tác này, nhưng bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, vô
tình tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.
Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng QĐND vững mạnh
về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.
Quân đội ta đã trải gần 80 năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ
chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về
công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực
tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn
rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về
chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì
vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường
trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được
quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ
góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công
tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới./.
VHT.
THÀNH TỰU VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
Trong
những năm vừa qua các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất
mãn vẫn luôn cố tình phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là
đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước có ý nghĩa lịch sử, đã đạt được những
thành tựu to lớn. Đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi
bật, chính trị - xã hội ổn định bền vững, đời sống nhân dân cả về vật chất và
tinh thần được cải thiện rõ rệt; vị thế quốc gia dân tộc trên trường quốc tế
ngày càng nâng cao.
Thực
tế sinh động, minh chứng thuyết phục bởi thành tựu sau gần 37 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định
tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát
triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục
nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động,
thù địch. Thực tiễn từ những thành tựu đất nước đã đạt được trong công
cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù
hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo
đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, chúng ta luôn khẳng định rằng ở Việt Nam,
không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều
hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của
Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị
quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn
lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa gắn với tinh thần
khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng
mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ
của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực
hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng
chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ
tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề
lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả
tích cực.
Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư,
thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức
năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội
viên và toàn dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và Nhân dân. Củng cố được
lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ
nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã
hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông
tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị,
quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được
phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích
ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.
Những kết quả đó khẳng
định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt
khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng
thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực
và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số
hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số
nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một
số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa có thời điểm chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản
lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và
kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của
đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày
hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với
đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn
nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.
Như vậy, từ thực tiễn những
thành tựu và hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển
của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa
lịch sử, càng khẳng định đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, mô hình
phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không
làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư
tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, đây là luận cứ đanh thép nhất
phản bác những luận điệu xuyên tạc, âm mưu chống phá của các thế lực phản động,
thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua./.
VHT.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÒNG, CHỐNG TÁC PHẨM VĂN HÓA CÓ NỘI DUNG ĐỘC HẠI
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các bộ, ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của các tác phẩm văn hóa, văn nghệ trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người. Bên cạnh đó cần luôn đổi mới tư duy, nhận thức, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu lĩnh vực, đối tượng quản lý để nhận diện, nắm bắt và đánh giá chính xác những hiện tượng sai trái, những tác phẩm có nội dung lệch lạc, độc hại trong đời sống văn hóa, văn nghệ để có những cảnh báo xã hội sớm; kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi, làm lành mạnh môi trường, không gian sáng tạo, tiếp cận và thụ hưởng những tác phẩm văn hóa của nhân dân. Muốn vậy cần tiếp tục triển khai có hiệu quả quan điểm chỉ đạo của Ban Bí thư được thể hiện trong: Thông báo Kết luận số 213-TB/TW của Ban Bí thư về Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học, nghệ thuật; Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 về Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội; Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22-10-2018 về Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các sản phẩm văn hóa không chỉ đem lại môi trường sống lành mạnh, nhân văn, tiến bộ mà còn tích cực góp phần vào công tác xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.
Thứ hai, đối với các cơ quan quản lý nhà nước,
các đơn vị chuyên môn, chuyên ngành cần nghiên cứu, hoàn thiện bổ sung cơ chế,
chính sách và những đạo luật liên quan đến công tác in ấn, phát hành sản phẩm,
loại hình văn hóa; đặc biệt cần tăng cường khâu kiểm tra, giám sát, xử lý sai
phạm. Xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh để các cơ quan, đơn vị liên quan cùng
đội ngũ những người làm văn hóa, văn nghệ và công chúng, độc giả có cơ sở, căn
cứ pháp lý để phân biệt, nhận diện, đấu tranh với những xuất bản phẩm độc hại.
Đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng của các cơ quan chuyên môn, các hội
đồng thẩm định, các Hội văn học, nghệ thuật trong việc lựa chọn, thẩm bình, cấp
phép, tiếp nhận, phổ biến những sản phẩm văn hóa, đặc biệt là những sản phẩm
văn hóa đến từ bên ngoài theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, nhạy bén, thức
thời, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng đa dạng của nhân dân.
Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông
tin hiện nay, vai trò của các cơ quan báo chí truyền thông, của các nhà báo,
nhà văn là rất lớn trong việc định hướng, tuyên truyền dư luận. Để ngăn chặn,
đẩy lùi những tác phẩm có nội dung sai trái, độc hại, ngoài việc ứng dụng những
thành tựu của khoa học kỹ thuật trong việc dựng những “bức tường lửa” thì việc
nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, ý chí cách mạng; trình độ, năng lực hiểu biết sâu
rộng; khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, ứng xử với thế giới bên ngoài của các
nhà báo, nhà văn, nhà xuất bản và các cơ quan thông tấn có ý nghĩa quyết định
đến việc tạo dựng không gian văn hóa trên mạng xã hội một cách lành mạnh, văn
minh, tiến bộ. Cùng với đó, cần tiếp tục thực hiện tốt các đề án, chiến lược,
phong trào do Chính phủ ban hành như Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam, Đề
án phát triển văn hóa đọc, Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống,...
trong đó đặc biệt chú trọng đến việc kiến tạo không gian, môi trường văn hóa
trong các gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư bằng những ấn phẩm văn hóa,
sách báo, phương tiện nghe nhìn phù hợp với lứa tuổi, vùng miền, tạo niềm tin,
sự phấn khởi, đoàn kết trong nhân dân.
Thứ ba, sản phẩm văn hóa do nhân dân sáng tạo
ra, đồng thời nhân dân cũng là người thụ hưởng và chịu sự chi phối của những
sản phẩm đó. Vì thế để có những tác phẩm hữu ích cần chú trọng, quan tâm đến
công tác phát triển đội ngũ, lực lượng sáng tác, đặc biệt là đội ngũ văn nghệ
sĩ, trí thức (dân gian và bác học). Có cơ chế, chính sách đãi ngộ, trọng dụng
người tài trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; đảm bảo vấn đề dân chủ, tự do
trong sáng tạo đi đôi với ý thức trách nhiệm công dân và kỷ luật, kỷ cương của
đất nước. Việc củng cố, tăng cường đội ngũ sáng tác hùng hậu, có chất lượng sẽ
tạo ra những sản phẩm văn hóa tốt, những món ăn tinh thần bổ ích, tạo chất đề
kháng để chống lại những sản phẩm phản văn hóa, độc hại. Bên cạnh đó, mỗi công
chúng tiếp nhận cũng phải không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, tích lũy
kinh nghiệm để nhận diện, phân biệt được đâu là tác phẩm tốt để lựa chọn, tiếp
nhận; đâu là tác phẩm độc hại, có nội dung sai trái để phê phán, loại trừ.
CHỦ ĐỘNG TĂNG CƯỜNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Nghị quyết Đại hội XIII
của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta
trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát
triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng
ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan
hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.
Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát
triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
Trên cơ sở quán triệt
quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn
kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp
cơ bản sau:
Một là, tiếp tục thấu triệt
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy
mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường
đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường
xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn,
bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại,
làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của
Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối
đại đoàn kết trong giai đoạn mới.
Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán
bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của
Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và
hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt
giữa Đảng với nhân dân.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ
chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng
cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận
động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
Bốn là, nâng cao ý thức cảnh
giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các
giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư
tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy
bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các
thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin
của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.
Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp
luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát
thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những
vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận
chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Đảng ta là linh hồn của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy
sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”./.
VHT.
Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo là giá trị bền vững của văn hóa Việt Nam.
Yêu nước, thương người là sự cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, đó là truyền thống dân tộc trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng rạng rỡ trên gương mặt tinh thần của cả dân tộc. Đó cũng là một truyền thống văn hóa, văn hóa chính trị gắn liền với văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn truyền thống của Việt Nam được sản sinh và nuôi dưỡng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hằng nghìn năm cho tới ngày nay vừa anh hùng vừa bi tráng. Cốt cách Việt Nam định hình trong thử thách khắc nghiệt chống thiên tai và chống ngoại xâm, đoàn kết và cố kết cộng đồng, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, bởi sức mạnh của hợp tác và đồng thuận. Sức mạnh ấy chẳng những được quy định thành văn mà còn được tổng kết thành triết lý sống và thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động, sự khẳng định các giá trị. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống có trong mối liên kết giữa Nhà với Làng với Nước, là liên kết cộng đồng, lấy sức mạnh ở tổng thể, trong đó từng cái riêng, đơn lẻ và cá thể được tập hợp và hòa đồng trong cái chung của cộng đồng rộng lớn, lấy tương đồng, cố kết cộng đồng để khắc phục những khác biệt và những xung đột.
Nhà là biểu hiện đầu tiên, là điểm xuất phát và cũng là chỗ trở về trong mục đích hòa đồng để phát triển của Nước.
Làng là sự mở rộng của Nhà và Nước là sự mở rộng và tập hợp của các làng mà thành. Trong tâm thức con người Việt Nam, làng là quê hương, là cái nôi thiêng liêng. Tổ quốc cũng vậy. Nước là đất nước, là nhà nước.
Giá trị và sức mạnh cộng đồng là một nét nổi bật, là một đặc tính truyền thống Việt Nam, trước hết là trong chống thiên tai và sau đó là chống giặc ngoại xâm.
Trong thời hiện đại, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, giá trị và sức mạnh ấy cũng phải phát huy và đồng thời cũng cần khắc phục những hạn chế của chính giá trị này, sao cho cố kết cộng đồng không bao giờ buông lỏng mà tự do cá nhân cũng không thể xem thường. Hài hòa giữa những “cái tôi” với “cái chung” trong phát triển đòi hỏi những tác động sâu xa của dân chủ và sự công phu trong giáo dục văn hóa lối sống, để vừa phát triển hợp lý, chính đáng những cá thể, vừa phát triển lành mạnh cộng đồng xã hội – những tập thể chân chính chứ không phải những cộng đồng trừu tượng, hư ảo, những biến tướng “giả tập thể” của những phường hội, cục bộ, chủ nghĩa địa phương, cát cứ và bè phái.
Đó chính là sự khắc phục những hạn chế có trong “tính lưỡng diện văn hóa” của tâm lý, lối sống truyền thống mà cơ sở kinh tế – xã hội đã sản sinh ra nó chính là nền kinh tế nông nghiệp của xã hội nông thôn với cộng đồng nhưng tiểu nông tư hữu, sản xuất nhỏ. Di tồn này vẫn còn trong xã hội Việt Nam ngày nay vốn chưa được cải tạo hết, từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại chưa hoàn thành. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bao hàm cả xây dựng và cải tạo, cả kế thừa và loại bỏ, đổi mới để phát triển.
Cuộc đấu tranh giữa cái mới tiên tiến với cái lạc hậu, bảo thủ là một cuộc đấu tranh phức tạp và lâu dài. Theo V.I. Lê-nin, thói quen là điều đáng sợ nhất. Yêu nước, thương người, chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn truyền thống là những giá trị văn hóa, những triết lý văn hóa bền vững và đặc sắc nhưng cũng biến đổi khi hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đã thay đổi. Nội dung yêu nước ở thời hiện đại, trong bối cảnh quốc tế hiện nay đã có thêm những biểu hiện mới, yêu cầu mới. Tình cảm thương người, vị tha, nhân ái cũng vậy, nó không chỉ thể hiện trong quan hệ giữa người và người trong cộng đồng, trong sự gắn bó, chia sẻ với số phận chung của dân tộc khi gặp hoạn nạn với những thử thách mất – còn, tự do và nô lệ. Ngày nay, trong kinh tế thị trường, trong phát triển để vượt qua cái nghèo vươn tới giàu có, khi cá nhân và lợi ích cá nhân được đề cao, thậm chí phát triển thái quá thành chủ nghĩa cá nhân cực đoan… thì những giá trị trong văn hóa truyền thống nêu trên không tránh khỏi những thách thức. Quan niệm mới và cách thức giải quyết mới, nếu không rõ ràng, không được hướng dẫn và giáo dục thì những lệch lạc về định hướng giá trị và chuẩn mực giá trị sẽ có thể xảy ra. Nó biểu hiện thành hành vi ứng xử ở những đối tượng nào đó, những nhóm xã hội nào đó, cả thế hệ và lứa tuổi, có thể như một sự suy đồi văn hóa, suy đồi đạo đức.


