Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

 Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.
Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.
Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.
Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.
Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.
Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.
Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.
Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).
Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.
Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.
Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”(4).
Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.
PGS, TS NGUYỄN XUÂN TRUNG, Trưởng khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88
(2) Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh-không thể phủ nhận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2013, tr.60
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.301
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.260
Có thể là hình ảnh về 2 người và đám đông
Tất cả cảm xúc:
1

HƠN 1.250.000 TỜ GIẤY NHƯ THẾ NÀY ĐÃ ĐƯỢC GỬI ĐI KHẮP MỌI MIỀN ĐẤT NƯỚC TRONG SUỐT 30 NĂM (1945 - 1975)

 HƠN 1.250.000 TỜ GIẤY NHƯ THẾ NÀY ĐÃ ĐƯỢC GỬI ĐI KHẮP MỌI MIỀN ĐẤT NƯỚC TRONG SUỐT 30 NĂM (1945 - 1975)

😞😓
Những dòng ghi chép đơn giản, nguệch ngoạc như hy sinh tại... an táng tại mặt trận... lại đè nén hàng triệu triệu trái tim của mỗi gia đình, mỗi người cha, người mẹ, người con .... Có người Mẹ đã nhận 9, 10 tờ giấy như thế....
Và còn hàng triệu người dân vô tội khác hy sinh dưới bo.m đạ:n kẻ thù mà không có được một tờ giấy như thế... bởi chiến tranh đâu phải trò đùa....
Cha ông ta đã ngã xuống để ngày hôm nay chúng ta có được cuộc sống hòa bình như ngày hôm nay.
Vì vậy hãy luôn trân trọng giá trị của hòa bình./.
Có thể là hình ảnh về cuống vé
Tất cả cảm xúc:
2
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Khi phiếu trắng là bánh mì “nuôi” những chiếc loa rè

 Khi phiếu trắng là bánh mì “nuôi” những chiếc loa rè

Không phải đến bây giờ, mà ngay từ cuối tháng 03/2022, câu chuyện Việt Nam bỏ phiếu trắng trong phiên họp lần hai của Đại hội đồng Liên Hợp quốc (LHQ) đối với một Nghị quyết do Ukraine và các đồng minh soạn thảo đã trở thành đề tài “hấp dẫn” để các kênh truyền thông thù địch với nhà nước Việt Nam khai thác.
Từ nhiều năm nay, các hãng truyền thông thù địch với Việt Nam, như: RFI, VOA, BBC Tiếng Việt…luôn “rình rập” rất kỹ mọi động thái đối nội, đối ngoại của Việt Nam.
Các hãng truyền thông này thường xuyên đưa những bản tin xuyên tạc sự thật, hướng lái dư luận hải ngoại và quốc tế về tình hình Việt Nam. Qua đó, thực thi âm mưu dùng thông tin bẩn bôi nhọ uy tín Việt Nam, tận dụng tiếng nói của một số đối tượng cơ hội chính trị, tha hóa, biến chất trong nước lôi kéo người dân vào các kế hoạch diễn biến hòa bình, hậu thuẫn cho âm mưu chống phá chính quyền Việt Nam.
Vì lẽ đó, không hề khó hiểu khi sự việc Việt Nam đưa phiếu trắng, không chọn đứng về phe nào trong cuộc xung đột Nga – Ukraine từ hơn một năm nay đã trở thành miếng bánh mì ngon với cơn đói khát đề tài vu khống của các cơ quan truyền thông nói trên.
Dưới hình thức đăng tải các phát biểu nước đôi, đánh tráo khái niệm của một số “cựu chiến binh” với tên tuổi rất mơ hồ, chẳng thể xác minh, các cơ quan truyền thông thù địch với Việt Nam đã đi một nước cờ hết sức thâm độc, gieo rắc hoài nghi trong nhân dân về chính sách đối ngoại của nước ta. Thậm chí, trong một bài đăng của BBC Tiếng Việt, có hẳn một câu hỏi rằng “nếu một lúc nào đó Việt Nam bị xâm lược, mà các nước bỏ phiếu trắng thì sẽ thế nào“!
Đó hoàn toàn là những luận điệu sai lầm, và lệch lạc. Sự thật là Việt Nam chưa bao giờ đi ngược lại các nguyên tắc đối ngoại của mình, từ ngoại giao cho đến quốc phòng.
Về đối ngoại, hơn 30 năm nay, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương ba khoá VII (6/1992) luôn là kim chỉ nam của ngoại giao Việt Nam. Kim chỉ nam đó là: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”.
Về quốc phòng, Việt Nam luôn kiên định thực hiện nguyên tắc “Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Quay trở lại với câu chuyện bỏ phiếu trắng đối với các nghị quyết liên quan đến xung đột Nga – Ukraine, ta thấy Việt Nam đã hoàn toàn tuân thủ những nguyên tắc bất di bất dịch của mình trong ứng xử với hai đối tác quan trọng, có mối quan hệ truyền thống.
Bằng phiếu trắng, Việt Nam đã chọn không đứng về bất cứ phe phái nào, không liên kết quân sự với một nước hay một nhóm nước để chống lại bên còn lại, và luôn đề cao nguyên tắc bình đẳng, kiềm chế, dùng thương lượng để giải quyết xung đột.
Còn với luận điệu cho rằng bây giờ Việt Nam bỏ phiếu trắng, thì sẽ “há miệng mắc quai” nếu sau này Việt Nam bị xâm lược và cộng đồng quốc tế cũng bỏ phiếu trắng không ủng hộ Việt Nam, thì lại càng nực cười.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay lúc này Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/200 quốc gia và vùng lãnh thổ, duy trì quan hệ quốc phòng tốt đẹp với 80 nước, trong đó có cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đó đều là thành quả của việc kiên trì tuân thủ các nguyên tắc đối ngoại và quốc phòng nhất quán đã nói ở trên.
Đặt lợi ích quốc gia lên cao nhất với mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam hẳn nhiên cố hết sức tránh một cuộc chiến tranh với bất cứ nước nào trong tương lai. Nhưng bằng lịch sử, và tất cả những gì đã trải qua, Việt Nam luôn có chính nghĩa để tin vào chiến thắng của mình.
# PK
Có thể là hình ảnh về 7 người và văn bản cho biết 'NTT STRALEA METMAN E Việt Nam là thành viên có trách nhiệm, đáng tin cậy của Liên Hiệp Quốc'
Tất cả cảm xúc:
1

Mạnh tay với văn hóa ứng xử của nghệ sĩ và giới trẻ trên mạng

 Mạnh tay với văn hóa ứng xử của nghệ sĩ và giới trẻ trên mạng

Cần có những biện pháp mạnh đối với những nghệ sĩ, người có tầm ảnh hưởng (KOLs) có hành vi vi phạm pháp luật, trái thuần phong mỹ tục. Tọa đàm “Thực trạng văn hóa ứng xử trên không gian mạng của nghệ sĩ và giới trẻ - Likeday” đã đưa ra thông điệp nếu không có hành động quyết liệt để nâng cao văn hóa ứng xử của những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội thì sẽ tác động rất lớn đến thế hệ tương lai của đất nước.
Sự kiện do Trung tâm Tổ chức biểu diễn nghệ thuật và sự kiện văn hóa của Nhà hát Lớn Hà Nội thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam Like và Công ty LeBros tổ chức chiều 19-4.
Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia có dân số sử dụng mạng xã hội tích cực nhất trên thế giới với khoảng 76,95 triệu người dùng, chiếm 78,1% dân số. Mạng xã hội không còn chỉ đơn thuần là phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là công cụ hữu hiệu trong việc truyền bá các sản phẩm văn hóa, lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, sáng tạo và phổ biến những giá trị văn hóa mới… Tuy nhiên, mạng xã hội cũng mang đến những tác hại không lường. Theo các chuyên gia, vì những tính năng, tiện ích mà mạng xã hội mang lại, nhiều người không kiểm soát được hành vi và cảm xúc của mình, bỏ bê công việc học tập thay vào đó là lướt web, xem phim, tham gia những hội nhóm tiêu cực. Và từ đó tạo ra những xu hướng mới như chửi bới, lăng mạ, hạ nhục người khác, dùng những từ ngữ thiếu văn hóa và những hành động thiếu suy nghĩ. Vì vậy đã dẫn tới nhiều hệ lụy nghiêm trọng và những hậu quả không thể lường trước được.
Nhà báo Lê Quốc Vinh, Chủ tịch HĐQT Công ty LeBros cho rằng, song song với điều tích cực mà mạng xã hội đem lại thì những ngôn từ trên mạng có khả năng dìm chết một người. Những “rác rưởi” trên mạng xã hội tưởng chỉ để vui chơi, nhưng thực ra nó đang tấn công mọi người. Chia sẻ về những trải nghiệm cá nhân khi chính bản thân mình cũng bị “tấn công” trên mạng xã hội bởi những lời xúc phạm, ông Lê Quốc Vinh cho hay cơn sốc tinh thần càng ngày càng lớn với giới trẻ, bởi họ không có khả năng miễn nhiễm với những tấn công trên mạng. Hậu quả khi bị tấn công bằng ngôn từ và hình ảnh với người trẻ là rất cao.
Chia sẻ báo cáo về hậu quả của giới trẻ khi bị tấn công trên mạng, ông Lê Quốc Vinh cho biết, có khoảng 28% người nghĩ tới tự sát; 41% mắc chứng lo âu, hoảng sợ; 9% nghĩ tới sử dụng rượu bia, bỏ học, hoảng loạn trên môi trường số. “Nhiều comment chửi thẳng tông ti họ hàng, mang hình thức của nhau ra để bêu riếu. Chuyện này ở Việt Nam rất phổ biến. Những ngôn ngữ chợ búa được người sử dụng mạng đang rất thoải mái. Đã có những người bị phá hủy cuộc sống vì những thông tin sự thật trên mạng”, ông Lê Quốc Vinh chia sẻ.
GS Từ Thị Loan, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia chia sẻ bà rất buồn theo khảo sát được công bố của Microsoft cho thấy văn hóa ứng xử của người Việt chúng ta đang dần bị mai một. Điều này đã vô tình đầu độc và tiêm nhiễm cả tương lai của một thế hệ trẻ sau này. Theo GS Từ Thị Loan, nghệ sĩ và giới trẻ là hai đối tượng quan trọng trên không gian mạng. Nghệ sĩ là những người có tầm ảnh hưởng và lan tỏa đến xã hội, còn giới trẻ là lực lượng xuất hiện đông đảo, năng động, dành nhiều thời gian tham gia không gian mạng. Nhờ sức ảnh hưởng này, họ có thể kiếm được những khoản tiền lớn từ mạng xã hội. Trên không gian mạng, nghệ sĩ có thể công bố tác phẩm của mình, đưa đến công chúng những sản phẩm sáng tạo nhanh chóng. Cùng với đó, có nhiều nghệ sĩ đã sử dụng mạng xã hội để làm công tác thiện nguyện, công tác xã hội, tuyên truyền, lan tỏa những hành động đẹp. Nhưng môi trường mạng cũng là con dao hai lưỡi. Nếu không có hành động quyết liệt để nâng cao văn hóa ứng xử của những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội thì sẽ tác động rất lớn đến thế hệ tương lai của đất nước.
Tất cả cảm xúc:
1

Đại tướng với vấn đề phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội.


🇻🇳Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, con người bao giờ cũng có vai trò quyết định mọi thắng lợi của chiến tranh cách mạng, phát huy nhân tố con người là một tất yếu quan trọng trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người và vũ khí, xem con người là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh, trang bị vũ khí là nhân tố quan trọng không thể thiếu được” [1; tr 196]. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: “Người trước, súng sau”, “vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng” [2, tr.248], trong nhận thức và thực tiễn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam. Con người-chủ thể trực tiếp của sức mạnh chiến đấu chính là cán bộ và chiến sĩ (CB, CS) quân đội. Trong đó, nhân tố con người là quyết định-đó là những yếu tố đặc trưng về phẩm chất, năng lực và hoạt động tích cực, sáng tạo của CB, CS trong mọi nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội.
Quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ ra các phương thức để phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nguồn gốc, nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành và chiến thắng của LLVT nhân dân ta. Có sự lãnh đạo của Đảng, LLVT nhân dân ta mới có bản chất cách mạng tốt đẹp, bản chất giai cấp công nhân, mới trở thành LLVT thực sự của nhân dân, mới có mục tiêu chiến đấu và đường lối xây dựng đúng đắn, mới có điều kiện để phát huy sức mạnh, chiến thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ" [1; tr 178].
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Sức mạnh vô địch của LLVT nhân dân bắt nguồn trước hết từ bản chất cách mạng, từ ưu thế chính trị tinh thần của nó” [1; tr 177]. “Quân đội cách mạng phải có ý chí chiến đấu gang thép, tinh thần sẵn sàng quên mình vì nước rất cao.” [3, tr.213]. Không có tinh thần chiến đấu thì không thể có nghị lực cách mạng sáng tạo, không thể có hành động chiến đấu tích cực, không có cơ sở để phát huy sức mạnh của các yếu tố vật chất, kỹ thuật, nghệ thuật tác chiến.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: “Yếu tố cơ bản nhất là yếu tố chính trị, tinh thần, là sự giác ngộ của quân đội về lý tưởng cách mạng, về mục tiêu chiến đấu, về mục đích chính trị của chiến tranh, là tinh thần chiến đấu của CB, CS.” [2; tr.212]. Có như vậy mới đứng vững trước thử thách, vượt qua mọi khó khăn ác liệt của chiến tranh, phát huy được uy lực của vũ khí, vận dụng sáng tạo phương pháp tác chiến, phát huy được sức mạnh của tổ chức để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Chính vì vậy, “Công tác chính trị... có vai trò hết sức trọng yếu trong mọi hoạt động của lực lượng vũ trang; nó là linh hồn, là mạch sống, là nguồn sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân” (1; tr 181). Để LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, phải tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Một vấn đề rất quan trọng trong xây dựng quân đội về chính trị là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật. “Đề cao kỷ luật phải đi đôi với mở rộng dân chủ... Có mở rộng dân chủ, chúng ta mới phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của đông đảo CB, CS, tập trung được trí tuệ của mọi người để giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp trong xây dựng và chiến đấu”.
Để phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu quân đội, theo Đại tướng phải thực hiện tốt huấn lệnh quân sự nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho CB, CS quân đội. “Để giành được thắng lợi trong chiến đấu, LLVT còn phải được huấn luyện đầy đủ, phải có trình độ chiến thuật, kỹ thuật ngày càng cao, làm chủ được mọi binh khí kỹ thuật” [1; tr 207]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quán triệt: Dù tinh thần chiến đấu cao, nhưng trình độ trang bị kỹ thuật kém, tổ chức bộ đội không hợp lý, phương pháp tác chiến không đúng thì cũng không tạo được sức chiến đấu mạnh, yếu tố tinh thần không được phát huy thật đầy đủ để biến thành sức mạnh vật chất to lớn, đánh thắng địch trên chiến trường. Do vậy, “phải có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi và vững vàng về chính trị để làm nòng cốt trong việc sử dụng, quản lý, cải tiến, phát minh các trang bị, kỹ thuật hiện đại”.
Bồi dưỡng, nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học và nghệ thuật quân sự cho các cán bộ, chỉ huy và các chiến sĩ quân đội. “Khoa học và nghệ thuật quân sự là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân và của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc” [6, tr.35].
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Vũ khí trang bị là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng của sức chiến đấu của LLVT, là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh quân sự. Muốn tăng cường sức chiến đấu của LLVT thì nhất thiết phải không ngừng cải tiến trang bị.[1; tr 196].
Phát huy nhân tố con người trong quân đội phải gắn liền với việc không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho CB, CS để họ có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CB, CS để họ yên tâm công tác; phải thực hiện sản xuất ở địa phương để có thể tự túc về lương thực, thực phẩm về nhu cầu sinh hoạt và chiến đấu, đảm bảo nhu cầu của chiến trường [1; tr.246]. Cần phải tăng cường cơ sở vật chất phục vụ chiến đấu để CB, CS tự tin hơn, tăng cường sức mạnh chiến đấu.
Có thể thấy, với những luận điểm khoa học về phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vai trò quyết định của nhân tố con người trong trong sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Thực tiễn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ở thế kỷ 20 đã chứng tỏ vai trò của nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, từ đó góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nghiên cứu tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về phát huy nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội có ý nghĩa thiết thực để chúng ta vận dụng, phát triển trong sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay./.
VB9-ST