Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC CHỐNG THAM NHŨNG

 

Bằng những lập luận chặt chẽ, logic, sâu sắc, chắt lọc, đúc kết từ thực tiễn phong phú, với tinh thần kiên định, vững vàng, bản lĩnh, trọng trách và tâm huyết người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư đã lý giải một cách rất khoa học, nêu ra những kết quả nổi bật và những vấn đề căn bản trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Phòng, chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng ta, Nhà nước ta nói riêng và các Nhà nước trên thế giới nói chung. Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Đảng ta xác định: “tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN trực thuộc Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo.
Nhìn lại sau 10 năm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập (01/02/2013 -01/02/2023), công tác phòng, chống tham nhũng đã được nâng tầm, mục tiêu được thực hiện khá thành công cùng với thời gian. Qua chừng ấy năm, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những kết quả to lớn, vạch trần được nhiều vụ việc lớn, kỷ luật và xử lý hình sự đối với nhiều cá nhân thoái hóa biến chất. với phương châm “không có vùng cấm”, không loại trừ một ai, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý.
Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong 10 năm qua đã được đồng chí Tổng Bí thư đánh giá, đúc kết lại trong Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”.
Vừa qua, tại Hà Nội, Ban Nội chính Trung ương và Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư. Cuốn sách rất có giá trị, gồm những bài phát biểu, bài nói chuyện, kể cả những chỉ đạo của Tổng Bí thư, thể hiện rõ được ý chí, nguyện vọng, đường lối mà Đảng ta đã, đang và tiếp tục triển khai thực hiện. Những bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy sắc bén, nhãn quan chính trị vượt trội của Tổng Bí thư với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và với tinh thần “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây” như Bác Hồ đã từng chỉ dạy, điều đó thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự nghiêm minh của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần củng cố niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Cuốn sách thể hiện tầm nhìn, trí tuệ sáng suốt, sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, toàn diện đầy sức thuyết phục của Tổng bí thư; từ đó góp phần làm sáng rõ tư duy lý luận của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuốn sách đã nhận được sự chú ý, đón nhận đặc biệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Công trình được kết cấu gồm ba phần, với hơn 600 trang và có 111 bức ảnh. Tựu chung, cuốn sách đã trả lời bốn câu hỏi lớn: Bản chất, biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực là gì? Vì sao phải kiên định, kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực? Muốn chống phải làm gì, làm như thế nào? Chúng ta đã làm được gì và sắp tới phải làm như thế nào? Đây là những vấn đề hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Phần thứ nhất: Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; gồm bài tổng quan Ðấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược!; bốn bài phát biểu kết luận tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022; nội dung phát biểu kết luận tại các phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cuộc họp thường trực Ban Chỉ đạo do đồng chí làm Trưởng ban.
Phần thứ hai: gồm 14 bài viết, bài phát biểu tiêu biểu về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng từ những năm đầu đổi mới (1986) đến nay và tám bài về rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trong đó có những bài được viết từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước.
Phần thứ ba: tập hợp 96 ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và các chính khách, học giả nước ngoài ủng hộ và thể hiện niềm tin sâu sắc vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Bằng những lập luận chặt chẽ, logic, sâu sắc, chắt lọc, đúc kết từ thực tiễn phong phú, với tinh thần kiên định, vững vàng, bản lĩnh, trọng trách và tâm huyết người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư đã lý giải một cách rất khoa học, nêu ra những kết quả nổi bật và những vấn đề căn bản trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc và nhân văn; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng; tăng cường xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng; kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng phòng chống tham nhũng,…đồng thời xác định vấn đề căn cơ trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phòng ngừa từ xa, từ sớm mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đặc biệt là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, tức là trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.
Trong thời gian tới, cuốn sách của Tổng Bí thư cần được tiếp tục phổ biến rộng rãi đến từng cơ sở đảng, các chi bộ đảng và quần chúng nhân dân, trở thành tài liệu thường trực cho những người lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân có thể đọc, tham khảo và triển khai thực hiện những lời đã viết, đã nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ thực tiễn thời gian vừa qua. Đồng thời, cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Trong đó, tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng chống tham nhũng, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Thứ hai, tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo hành lang chính trị, pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ, bảo đảm công tác phòng chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng chống tham nhũng trong nội bộ Đảng, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ; hình thành hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng chống tham nhũng.
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, liêm khiết, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tăng cường quản lý, kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên, công chức để kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.
Thứ tư, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được vận hành công khai, minh bạch.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vi; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý.
Thứ sáu, tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phòng chống tham nhũng.
Trên đây là những biện pháp căn bản góp phần triển khai, thực hiện tốt công cuộc chống tham nhũng mà Đảng và Tổng Bí thư đặc biệt quan tâm trong bối cảnh hiện nay. Công cuộc chống tham nhũng - “giặc nội xâm” ở nước ta chỉ thành công khi toàn bộ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu các cấp ủy đảng gương mẫu, nâng cao ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tu dưỡng đạo đức, lối sống, một lòng một dạ vì lợi ích chung của nhân dân và toàn dân tộc. Công cuộc đó cũng đòi hỏi Đảng ta tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung sát sao, thống nhất; sự vào cuộc của các cơ quan chức năng với tinh thần liêm chính, công tâm, minh bạch; và dưới sự giám sát chặt chẽ của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt những lời căn dạy của Tổng Bí thư - người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng, công cuộc chống tham nhũng ở nước ta sớm đạt kết quả tốt đẹp, đưa đất nước ta phát triển hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các nước anh em như điều Bác Hồ hằng mong muốn./. #HY
Tác giả: Thiếu tướng, TS. Nguyễn Như Lôi
Phó Giám đốc, Học viện Chính trị Công an Nhân dân.
Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Có thể là hình ảnh về đồ chơi trẻ em và sách
Tất cả cảm xúc:
2

PHẦN NHIỀU DO GIÁO DỤC MÀ NÊN


Sinh thời, có một nhà giáo khi gặp Bác Hồ đã báo cáo: “Báo cáo Bác, trường của cháu còn một số em học sinh hư...”. Nghe đến đây, Bác cười hiền và nói: “Bác chữa lại là trường của cháu còn một số học sinh chưa ngoan, chúng ta không có trẻ em hư”.
Câu chuyện dung dị nói trên không chỉ thể hiện lòng nhân ái, khoan dung bao la của Bác Hồ mà còn phản ánh quan điểm sâu sắc của Người về giáo dục trẻ em. Người quan niệm:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Thiết nghĩ, nhân lúc bàn về cách giải quyết một số vụ việc xảy ra trong các nhà trường thời gian gần đây, các bậc cha mẹ và các nhà giáo cần quán triệt một lần nữa quan điểm, phương pháp giáo dục trẻ em của Bác Hồ. “Trẻ em chưa ngoan” là do phương pháp giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội chưa tốt. Dư luận ủng hộ những hình thức kỷ luật với ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm cùng các thầy giáo, cô giáo có liên quan, nhưng cũng cho rằng, phải có hình thức xử lý thỏa đáng với các bậc cha mẹ vì thiếu trách nhiệm để con em mình “chưa ngoan”. Về trách nhiệm của xã hội, đây không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục hay ngành văn hóa, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong xây dựng đạo đức xã hội. “Tiên học lễ, hậu học văn” là quan điểm giáo dục rất đúng đắn của ông cha ta, đặc biệt đối với bậc học tiểu học, trung học. Vậy nhưng, giáo dục trong gia đình và nhà trường hiện nay nặng về học kiến thức chứ chưa coi trọng đúng mức vấn đề học làm người.
Hiếm có lãnh tụ chính trị nào như Bác Hồ, Người đã viết hàng trăm bài báo, bài thơ, bài văn về đề tài giáo dục trẻ em. Bác dạy: “Cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập”. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Trên nhiều diễn đàn, người ta đang tranh luận về những phương pháp tiên tiến, hiện đại giáo dục trẻ em. Tôi cho rằng, thấm nhuần những lời dạy của Bác Hồ, kế thừa những ưu điểm trong cách giáo dục truyền thống của ông cha là phương pháp căn bản nhất để trẻ em trở thành những con ngoan, trò giỏi của gia đình và xã hội.
Tất cả cảm xúc:
1

LỜI CẢNH TỈNH CHO NHỮNG KẺ CỐ TÌNH LỢI DỤNG TỰ DO NGÔN LUẬN

 


Tòa án nhân dân TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng (sinh năm 1975; trú tại phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội) 6 năm tù và quản chế 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
Bản án nghiêm minh này cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước.
Theo nội dung cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 13-6-2018 đến 31-12-2020, bị cáo Nguyễn Lân Thắng đã trực tiếp tham gia trả lời phỏng vấn các trang mạng, đăng tải lên internet nhiều video có nội dung tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong đó có 11 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; 8 nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; 4 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...
Ngoài ra, bị cáo Thắng còn tàng trữ 2 tài liệu dạng sách có 3 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, 14 nội dung tuyên truyền thông tin bịa đặt, 12 nội dung xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...
Theo Điều 117 Bộ luật Hình sự, người nào có một trong những hành vi sau nhằm chống Nhà nước sẽ bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân hoặc có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây chiến tranh tâm lý.
Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 10-20 năm; người chuẩn bị phạm tội này bị phạt tù 1-5 năm. Căn cứ vào quy định trên, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên mức án với bị cáo Nguyễn Lân Thắng là phù hợp.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, Nguyễn Lân Thắng đã bị xử lý nhiều lần về các hành vi liên quan đến tuyên truyền bịa đặt, sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; từng bị tạm giữ vì có hành động phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tưởng sau khi bị xử lý theo quy định của pháp luật, Thắng sẽ ăn năn, hối cải, nhưng đối tượng này lại “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục có các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình là: Thắng đòi giải tán Quốc hội vì không đáp ứng yêu cầu xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp; kêu gọi “phản đối Quốc hội thông qua sửa đổi Hiến pháp năm 1992”; lập fanpage “Hội những người không đồng ý Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1992 sửa đổi”... trên internet, đặc biệt là trên Facebook, Twitter...
Ngoài ra, Nguyễn Lân Thắng còn kích động, kêu gọi người dân không đi xem bắn pháo hoa; kêu gọi người dân phải dùng cái chết để đấu tranh như cách tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức; đối tượng còn cực đoan đến mức thù ghét bất cứ ai mặc áo có gắn cờ Việt Nam. Đặc biệt, Thắng nhiều lần xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm tạo sự chú ý của cộng đồng mạng. Vì hành vi này, nhiều lần Thắng đã bị người dân kéo đến tận nhà yêu cầu phải xin lỗi...
Để lôi kéo “con nhang đệ tử”, đồng thời tạo sự tác động lớn đối với dư luận, quá trình hoạt động chống phá, Nguyễn Lân Thắng luôn tìm cách “đánh bóng” bản thân để mọi người lầm tưởng mình là nhà báo tự do. Đi đâu Thắng cũng kè kè chiếc máy ảnh để sẵn sàng chớp những khoảnh khắc, hình ảnh phản cảm, tiêu cực, sau đó “thêm mắm thêm muối” nói xấu chế độ, quy chụp, phỉ báng chính quyền.
Cứ ở đâu có sự kiện "nóng", thu hút sự quan tâm của dư luận là Thắng có mặt, đưa tin tiêu cực, hô hào, kích động. Có khi, do thiếu “sự vụ”, Nguyễn Lân Thắng sẵn sàng áp dụng chiêu thức “Chí Phèo”, liều lĩnh xông vào cơ quan chức năng để chụp hình, tán phát thông tin sai lệch, nói xấu lực lượng vũ trang, điển hình như vụ vu khống Công an trại Lộc Hà đánh người...
Qua những vụ việc đó, “hư danh” của Thắng càng nổi, tạo được sự quan tâm, chú ý của các đối tượng, trang mạng chống đối, “lề trái”. Được đà, Thắng càng ảo tưởng mình là “vĩ nhân”, nhiều lần trả lời các đài, báo để huênh hoang “phán” về cái gọi là "sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhân quyền"... Chứng kiến các hành vi vi phạm pháp luật của Nguyễn Lân Thắng, không ít người dân yêu nước mong muốn cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm minh đối tượng này để răn đe, cảnh tỉnh cho những kẻ đang có hành vi tương tự, từ đó dọn bớt những thông tin “rác” trên mạng xã hội.
Như vậy, xâu chuỗi các hoạt động của Nguyễn Lân Thắng, có thể khẳng định đây là đối tượng chống phá Nhà nước có chủ đích, trong thời gian dài, với biểu hiện ngày càng ngang nhiên, quyết liệt, không có sự ăn năn, hối cải.
Chính vì vậy, việc Tòa án nhân dân TP Hà Nội tổ chức xét xử, tuyên phạt mức án nghiêm minh đối với Nguyễn Lân Thắng là hết sức cần thiết. Qua đó thể hiện thông điệp hết sức rõ ràng: Phản biện xã hội để đất nước tốt đẹp, văn minh hơn là cần thiết, đáng trân trọng. Song, nếu xúc phạm, bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá Nhà nước thì rõ ràng vi phạm pháp luật, không thể dung tha. Mong rằng, sau phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Lân Thắng, những đối tượng đang chống phá Nhà nước sẽ tỉnh ngộ, không lợi dụng tự do ngôn luận để làm điều sai trái.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'S f t Be ẢO TƯỞNG quyền lực trên mạng xã hội'
Tất cả cảm xúc:
1

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 


Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân.
Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị-xã hội ở Việt Nam.
Những luận điệu “nhai đi nhai lại” rất xảo trá, thâm độc
Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.
Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...
Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.
Một Việt Nam với quyền tự do báo chí rộng mở
Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.
Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).
Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).
Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...
Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.
Nhà báo và cơ quan báo chí trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch
Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo-với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân-phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.
Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.
Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua.
Có thể là hình ảnh về điện thoại
Tất cả cảm xúc:
1