Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

ĐẤT NƯỚC THOÁT KIẾP NÔ LỆ NHƯNG NHIỀU NGƯỜI VẪN NẰM TRONG VŨNG LẦY TĂM TỐI CỦA TƯ TƯỞNG VONG QUỐC NÔ!

 

Nước Việt Nam chúng ta nằm dưới sự cai trị của chế độ Phong kiến nhiều năm, kể từ ngày Pháp nổ súng đánh vào cửa biển Sơn Trà - Đà Nẵng năm 1858 và chính thức mất nước năm 1884. Nhà Nguyễn với chính sách "bế quan tỏa cảng", dẫn đến không theo kịp đà phát triển của khoa học, kỹ thuật, đất nước dần lạc hậu và bị xâm lược như mỗi lẽ tất yếu của chân lý thuộc về kẻ mạnh. Vậy nên dễ hiểu khi bị xâm lược và trở thành thuộc địa của Thực dân Pháp một thời gian dài. Mà bản chất của thực dân là bóc lột thuộc địa và chế độ ngu dân, cái ngu dân để trị ấy, có vẻ ám ảnh mãi không thôi. Hiện nay một bộ phận người dân vẫn mang tư tưởng tự nhục, không phải vì họ không có học, thiếu nhận thức mà là vì tư tưởng me Tây, sính ngoại đã ngấm vào máu thịt của nhiều tông tộc, truyền lại cho con cháu họ. Dần dà, vào thời hội nhập, chịu ảnh hưởng của "truyền thông phương Tây" cũng như "báo chí kền kền" trong nước, một thảm họa gọi là "văn hóa tự nhục" từ đó mà sinh ra.
Vũ Trọng Phụng, ông vua phóng sự đất Bắc là người để lại cho đời nhiều tác phẩm kinh điển. Số Đỏ lột tả bản chất của những kẻ mang tiếng là dân trí thức có chút của cải, đọc dăm tờ lá cải, học theo vài thứ văn hóa méo mó do Pháp đưa sang rồi tự xem mình là thượng đẳng, chê bai văn hóa truyền thống. Hay làn sóng văn minh phương Tây cưỡng ép đã tạo nên những sự thay đổi lố lăng, kệch cỡm với đủ trò giả trá, mị dân mà xóm Thị Cầu (Kỹ nghệ lấy Tây) là ví dụ minh họa cho sự biến đổi đầy chua chát đó. Những tưởng những thứ đó đã được cuốn trôi theo vũ bão của phong trào cách mạng, của thắng lợi huy hoàng khi đất nước đánh tan ách đô hộ, xâm lược của ngoại bang. Nhưng không, thứ tư duy quái thai, vong bản đó vẫn tồn tại và hiển hiện thường xuyên trên các diễn đàn, ngay trong tư tưởng của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam.
Ngày nay, tuy trình độ dân trí tăng cao nhưng hệ lụy của chế độ ngu dân của Pháp còn ảnh hưởng đến tận bây giờ. Nhiều người trong số chúng ta vẫn mang tư duy nô lệ, tự xem văn hóa phương Tây là thượng đẳng và chê bai văn hóa cổ truyền, nâng cao Tây lên mây xanh và tự dè bĩu, khinh miệt chính đồng bào mình. Áo dài được xem là Quốc phục của người Việt Nam qua tiến trình phát triển của nền văn minh Hồng Lạc, thế nhưng khi đất nước mong muốn bảo tồn văn hóa truyền thống thì đám lều báo, báo lá ngón lại bỉ bôi, phì cả ra ngoài theo cái bỉu môi dài thườn thượt khi có vận động viên mang áo dài trong một cuộc thi chạy ở Huế.
Họ cho như thế là phản cảm, là xấu xí. Thế nhưng, khi người Anh ăn lông ở lỗ, trần truồng trước cung điện Alexandra thì "những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng" thuộc báo Tuổi Trẻ cho đó là "khoả thân vì nghệ thuật". Tâng bốc, ca ngợi hết lời. Như thể cô Tuyết trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng được tiếp cận với áo cooc sê với các mốt kiểu mới như "ởm ờ", "hãy chờ một phút" hay hân hoan, vui mừng kiểu bà Phó Đoan được Tây phong cho "tiết hạnh khả phong", cho dù bà Phó Đoan "trinh tiết" cũng ngang hàng với kỹ nữ lầu xanh. Chao ôi! Đất nước đã giải phóng, thống nhất lâu rồi nhưng tư tưởng me Tây, sính ngoại và tự nhục về văn hoá dân tộc của một bộ phận không nhỏ người dân xứ An Nam thì vẫn còn cần có một "trận mưa rào" để xoá sạch vết nhơ nhớp khó gột rửa đó.
Vũ Trọng Phụng có đội mồ sống dậy cũng chỉ biết ngửa mặt lên trời mà than rằng: một lũ vong bản, một lũ vong quốc nô, một bọn lai căng, một lũ bội tình. Nói như cụ Phan Chu Trinh là cần phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đưa ánh mặt trời chói lọi để xoá hết mây mù u tối của tư duy nô lệ./.
Cre: Lão chăn bò.
Có thể là hình ảnh về 1 người
Tất cả cảm xúc:
12

KẾ LY GIÁN – CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI


Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: Chúng đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột ý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác.

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid.  Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.

Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bất ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết.

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền.

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc.

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm.

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho TBT Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo.

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và TBT Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng sản sau khi Hồ Chủ tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, ai cũng có những sai lầm, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi TBT Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam.

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

ST


BẾP HOÀNG CẦM - HUYỀN THOẠI RA ĐỜI TỪ CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH 1952.


Trong chiến dịch Hòa Bình (1951-1952)có một sáng tạo không thể không nhắc đến, đó là bếp Hoàng Cầm.
Theo một số tài liệu ghi chép, người phát minh ra loại bếp này chính là Thượng sĩ Hoàng Cầm (1916 - 1996) quê ở Nam Định, là Tiểu đội trưởng nuôi quân thuộc Sư đoàn 308, Đại đoàn quân Tiên Phong.
Khi đơn vị tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chiến dịch Hòa Bình vào năm 1952, chiến sỹ Hoàng Cầm tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội bị thương vong nhiều, sức khỏe giảm sút, điều kiện ăn uống không đảm bảo.
Tình hình chiến tranh ngày càng khốc liệt, bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt.
Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn vì ban đêm thấy lửa, ban ngày thấy khói. Rất nhiều thương vong của bộ đội xuất phát từ việc khói bốc lên giữa rừng, máy bay địch phát hiện đã trút bom đạn xuống.
Tổ anh nuôi của Hoàng Cầm và nhiều đơn vị khác phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi máy bay địch tới thì dập lửa, dội nước, nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp tai họa. Đang đun, dập lửa, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn ban đêm, ban ngày cơm nguội lạnh, bộ đội ăn không đảm bảo sức khoẻ.
Hoàng Cầm đã trăn trở ngày đêm suy nghĩ phải làm một cái gì đó giúp cho đồng đội giảm bớt thương vong. Một buổi sáng dạo bên bờ suối, nhìn làn khói lượn lờ quanh mái bếp, Hoàng Cầm chợt nảy ra sáng kiến làm một kiểu bếp có thể nấu nướng mọi thứ ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện.
Sau nhiều ngày miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp và nhiều lần làm thử nhiệm, chiến sĩ Hoàng Cầm đào hàng chục cái bếp khác nhau, với những kiểu bếp khoét sâu vào trong lòng đất có nhiều nhánh dẫn khói giống như hang chuột. Làm xong anh đặt nồi lên từng bếp, chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói vẫn phảng phất bay lên.
Không nản chí, Hoàng Cầm lại hì hục đào hàng chục cái bếp khác. Lần này Hoàng Cầm đào các đường dẫn khói chẽ ra nhiều nhánh và dài gấp đôi. Trên rãnh dẫn khói rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu, trên lợp nilon hoặc lá vừa để đồ, vừa che ánh lửa và có hầm chứa khói, hút lửa mạnh hơn.
Cuối cùng, Hoàng Cầm đã tạo ra một kiểu bếp như ý, bếp lò khoét vào sườn đồi hoặc đào sâu xuống với những đường rãnh giống như râu mực từ bếp lò bò đi khá xa, trên rãnh được lát bằng cành cây và phủ đất ẩm tạo thành những ống thoát khói. Từ trong lò tuôn ra, khói tỏa vào khắp các rãnh, bốc lên gặp lượt đất ẩm, bị lọc và cản lại, lan ra là là trên mặt đất, thoảng nhẹ nhàng như làn sương buổi sớm.
Kiểu bếp này ngay sau đó được phổ biến rộng rãi đến các đơn vị và được anh em nuôi quân hoan nghênh. Bếp do Hoàng Cầm sáng tạo rất phù hợp với bộ đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối, không sợ máy bay địch phát hiện. Bộ đội có cơm nóng, canh ngọt. Mỗi khi ém sát địch, anh nuôi vẫn nổi lửa đêm ngày.
Tháng 10/1952, đơn vị đã quyết định lấy tên người chiến sỹ sáng tạo ra để đặt tên: Bếp Hoàng Cầm.
Với những ưu thế đặc biệt nên ngay sau khi ra đời trong Chiến dịch Hòa Bình, bếp Hoàng Cầm đã trở nên phổ biến trong các đơn vị, đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và những năm kháng chiến chống Mỹ sau này. Với sáng kiến này, khi đó, bộ đội đã được ăn cơm nóng, có nước nóng để uống trong mùa đông. Các viện quân y dã chiến có nước nóng để sát trùng dụng cụ y khoa...
Bắt đầu từ chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), bếp Hoàng Cầm đã trở thành huyền thoại./.
Có thể là hình ảnh về 2 người
Tất cả cảm xúc:
10

ĐÁP LỜI MẤY ANH EM BA QUE XỎ LÁ KHI CÁC BẠN CHO RẰNG "VIỆT NAM ĐÁNH MỸ NHƯNG BÂY GIỜ LẠI LÀM ĂN VỚI MỸ, SANG MỸ SINH SỐNG VÀ HỌC TẬP"

 

Mấy ngày nay công việc bận rộn nhưng tôi cũng không quên "ghé mắt trong ngang" sang nhà của Việt Tân. Thấy các bạn có bài viết cho rằng "Việt Nam đánh đuổi Mỹ nhưng hiện nay đưa con cháu sang Mỹ định cư"....Tiện đây tôi đây cũng để mấy lời gọi là "khai dân trí" cho các bạn:
Thứ nhất: Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm qua và trong bối cảnh hiện nay trên tinh thần khép lại quá khứ đau thương của 02 dân tộc, hướng đến tương lai và hiện nay quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển thành quan hệ đối tác chiến lược (Hoa Kỳ còn đang thúc giục Việt Nam sớm đẩy quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược toàn diện kia kìa); Việt Nam chào đón người Mỹ đến với quốc gia tươi đẹp và yêu chuộng hòa bình trên cơ sở hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng thể chế chính trị, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, đóng góp cho sự nghiệp chung vì sự phát triển của hai nước, vì hoà bình của nhân loại. Điều này khác xa với việc quân đội chính quy Hoa Kỳ đến Việt Nam 1965 để xâm lược và nuôi dưỡng bọn bán nước VNCH chống lại dân tộc Việt Nam. Người Mỹ yêu chuộng hoà bình đến Việt Nam bao giờ cũng được đón tiếp nồng hậu! Hiện nay Việt Nam chúng ta sẵn sàng mở rộng vòng tay đón chào bè bạn năm châu, bốn biển trong đó có Hoa Kỳ đến với đất nước hùng anh và văn hiến ngàn đời này bằng "hoa hồng và đại bác chào mừng" chứ không còn là AK 47 và những tràng đại bác để vùi đầu giặc trong biển lửa hờn căm kiểu 1965 khi người Mỹ chính thức đưa quân đội của mình và chư hầu đổ bộ lên biển Đà Nẵng để xâm lược nước ta.
Thứ Hai: các bạn cho rằng Việt Nam đánh Mỹ nhưng bây giờ lại đưa con, cháu sang Mỹ định cư và học tập: thưa với các bạn đu càng tụt quần và cả đám "dâm thú" trong và ngoài nước thân mến! Các bạn phải hiểu rằng Hoa Kỳ là quốc gia mà đại đa số là những người đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới, Hợp chủng quốc cơ mà; họ mang theo cả tinh hoa của dân tộc họ để gộp thành một hợp chủng quốc đa văn hoá, đa sắc tộc, đa dạng và phong phú về mọi mặt. Là quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ tiên tiến nhất thế giới, là nơi quy tụ trí tuệ của nhân loại (không chỉ riêng của người Hoa Kỳ).
Con em Việt Nam đến Hoa Kỳ học tập và sinh sống cũng là lẽ đương nhiên; tuy nhiên muốn nhắc cho các bạn nhớ rằng người Việt Nam đến Mỹ hiện nay là quang minh chính đại, nghĩa là đàng hoàng với tâm thế của những người công dân của một dân tộc tự do, độc lập và yêu chuộng hòa bình, sánh bước ngang hàng với người Mỹ, ngẩng cao đầu bước vào cửa chính; khác xa so với việc phải đu càng máy bay trực thăng và cướp thuyền của dân vượt biên đến với nước "Mẹ" của VNCH để xin tỵ nạn sau ngày 30/4/1975 nhé các bạn. Nước Việt, người Việt và nước Mỹ, người Mỹ hiện nay là "ngồi chung mâm", bước sánh đôi, chúng ta sang Mỹ là "thẳng chân mà bước, ngẩng đầu mà đi"; điều này nó khác hoàn toàn với cái đám lưu vong đang tử thủ ở vùng 5 chiến thuật, các bạn là những kẻ chỉ biết cúi đầu, bò sang Mỹ bằng đầu gối để cầu mong bố Mỹ rủ lòng thương mà cho tị nạn! Gớm, tốt phúc lắm đấy, thoả lòng một kiếp nhân sinh kính thờ ngoại bang! Khuyên các bạn đừng bao giờ nói như thế nữa nghe chưa? Nhục lắm đấy./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Năm nào cũng chửi MỸ, căm thù Mỹ vậy mà đứa nào cũng cho con cháu qua MỸ học và sinh sống!'
Tất cả cảm xúc:
20

TIẾC CHO MỘT NHÂN TÀI!

 TIẾC CHO MỘT NHÂN TÀI!

Ông Nguyễn Quang Tuấn (Tuấn “tim”) giám đốc bệnh viện Bạch Mai trong phiên tòa sáng nay. Chân đi đôi dép tổ ong, mái tóc bạc phờ phạc, rất khó để người ta nhận ra ông Tuấn "tim" - một nickname như sự thừa nhận một đôi tay vàng trong làng phẫu thuật tim.
Ông Tuấn từng là một bác sĩ giỏi, rất giỏi không chỉ của bệnh viện Tim mà còn ở trong khu vực. Từng giành giải nhất Nhân tài đất Việt lĩnh vực y tế với đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông (đặt stent)”, biến viện Tim là cơ sở tầm cỡ của châu lục và thế giới.
Đáng nhẽ, ông chỉ nên dừng ở góc độ một chuyên gia, chứ đừng trở thành "nhà quản lí". Bởi vì là một bác sĩ giỏi sẽ rất khác một giám đốc giỏi. Bác sĩ, anh chỉ cần đối mặt với vấn đề chuyên môn, còn giám đốc - anh phải đối mặt với vô vàn thứ, từ chuyên môn đến đấu thầu, quản lý nhân sự đến quản lý tài sản công,...
Chẳng ai, từ công an đến ngành y tế có thể vui mừng khi một bác sĩ giỏi phải sống nốt những tháng ngày trong đời ở trong tù. Nếu ở bên ngoài trại giam, anh ta đã có thể cứu được hàng trăm người bệnh nhân nữa. Nhưng pháp luật là nghiêm minh, mọi sai lầm phải trả giá, dù anh có bàn tay vàng, là bác sĩ đầu ngành, công dân ưu tú Thủ đô.
Tài và đức, nó phải đi cùng với nhau, không thể khác được.
Có thể là hình ảnh về 7 người
Tất cả cảm xúc:
405