Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

GIỮ VỮNG AN NINH CHÍNH TRỊ GẮN VỚI XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI

 

Để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tạo nên sự đồng thuận về nhận thức trong nhân dân: Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thế thống nhất, gắn chặt bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân với bảo vệ chế độ; bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn chặt với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ chế độ bao hàm cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, làm cơ sở cho sự đồng thuận về hành động.

Giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là điều kiện căn bản để xây dựng đất nước; sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Đề cao yêu cầu chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chống chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Thực hiện biện pháp này, một mặt phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tích cực, chủ động của các tổ chức quần chúng; mặt khác, phải tăng cường vai trò của chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về các hoạt động và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước phải dựa vào các tổ chức chính trị của quần chúng, tạo điều kiện cho các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả; đồng thời kiên quyết trấn áp những tổ chức và lực lượng phản cách mạng, các hoạt động phá vỡ khối đoàn kết toàn dân.

 

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TÔN GIÁO VỚI XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Dân tộc luôn là vấn đề có vị trí chiến lược đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp đối với mỗi quốc gia và cả toàn cầu. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta và chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, sức mạnh và đã được thử thách trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua hàng nghìn năm lịch sử. Các dân tộc có ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa và trình độ phát triển khác nhau. Tính khác biệt tạo nên sự phong phú, đa dạng. Nhưng bản thân nó cũng sẽ tạo nên sự phân biệt nếu quan hệ dân tộc không được giải quyết tốt, từ đó tác động ảnh hưởng đến nền quốc phòng, an ninh.

Quan tâm đặc biệt phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào Khmer, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, hoàn chỉnh hệ thống cầu, đường nối liền từ các huyện đến các xã, thôn nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội, giao lưu vận chuyển hàng hóa kết hợp chính sách giải quyết đầu ra cho nông sản.

Cần có cơ chế ưu tiên bảo đảm nguồn lực để thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo đối với vùng dân tộc Khmer, nhất là các chính sách đã ban hành. Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, trong đó ngân sách nhà nước là chủ yếu bên cạnh việc tăng cường thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp vào địa bàn vùng dân tộc thiểu số. Xem xét tăng định mức cho đầu tư phát triển, bố trí nguồn vốn đặc thù hỗ trợ địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Giảm các nội dung chính sách hỗ trợ nhỏ lẻ, tập trung nguồn vốn triển khai hiệu quả những chính sách trọng tâm, chiến lược. Thống nhất cơ chế lồng ghép các nguồn vốn của chương trình, dự án, chính sách đối với địa bàn thuộc vùng dân tộc, tránh chồng chéo, trùng lắp và dàn trải nguồn vốn. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, có cơ chế đặc thù về cấp phát, thanh toán. Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao hiệu quả chính sách, tránh thất thoát, lãng phí.

PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị-xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, bằng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, do các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền tiến hành. Diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đối với Việt Nam nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang chế độ tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào nước ngoài.

Căn cứ vào điều kiện thực tế nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới để các cấp, các ngành trong tỉnh, huyện đề xuất xây dựng các văn bản mới, chính sách mới đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng để xây dựng các quy chế phối hợp liên ngành; ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất, nhằm thống nhất nhận thức, trách nhiệm của từng cơ quan, ban, ngành của tỉnh trong thực hiện phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Để phòng chống hiệu quả diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trong tình hình mới, ngoài các giải pháp về chính trị, kinh tế, quốc phòng an ninh, thì vấn đề bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách, các văn bản pháp quy liên quan đến phòng chống diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ có vị trí vai trò quan trọng. Bởi vì, trong quá trình thực hiện, nhiều cơ chế chính sách, văn bản quy phạm pháp luật đã lạc hậu, không phù hợp và thiếu đồng bộ; Hệ thống chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo có những điểm hạn chế, bất cập, chồng chéo gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng sự sơ hở trong cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước, của các cấp chính quyền để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Chủ động phối hợp với các lực lượng nâng cao chất lượng mọi mặt, đặc biệt là năng lực vận động quần chúng, chủ động bám cơ sở, bám dân để nắm và quản lý tình hình, bảo vệ vùng bin, đảo, kịp thời phát hiện bọn phản động, thù địch bên ngoài thâm nhập, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ.

NHẬN THỨC KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG XIII

 

Trên cơ sở tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm 2010-2020, Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm 2021 - 2030 đã xác định quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh là phù hợp với tình hình, điều kiện trong nước và quốc tế. Đó là: Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; giữ vững an ninh chính trị; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân” và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp “Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm.

Theo quan điểm trên thì vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và hoạt động đối ngoại; với những điểm nổi bật so với văn kiện Đại hội XII của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; đó là: Đại hội XII của Đảng chỉ xác định “Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội” trong nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội 5 năm (2016-2020); đồng thời chỉ đề cập đến các lĩnh vực cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, với ba nhiệm vụ là “Phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần”.

Đại hội XIII của Đảng đã phát triển sự kết hợp đó không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ, giải pháp mà thành quan điểm chỉ đạo; đồng thời, nội dung đã mở rộng và toàn diện hơn, được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và hoạt động đối ngoại; có sự gắn kết nhiệm vụ “trung tâm”, nhiệm vụ “then chốt” với nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” trong chỉnh thể thống nhất; trong đó, con người được xác định rõ hơn là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước với quan điểm “do con người, vì con người”.

 

KHÔNG NGỪNG NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI

 

Xây dựng quân đội về chính trị làm cơ sở để xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng; yếu tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội nhân dân nhằm bảo đảm cho quân đội mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, thể hiện đầy đủ, sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính quốc tế, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt, chấp hành nghiêm, kết hợp nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội nhân dân Việt Nam; đổi mới và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng; kiên quyết đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Các cơ quan, đơn vị thường xuyên quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và cuộc vận động “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Nâng cao hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị trong quá trình xây dựng và chiến đấu của quân đội; đặc biệt quan tâm xây dựng và phát huy nhân tố chính trị-tinh thần; chăm lo xây dựng các tổ chức, các lực lượng quân đội vững mạnh; thực hiện tốt công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội; kết hợp xây dựng quân đội về chính trị với xây dựng các yếu tố tạo thành chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội; phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị-xã hội và của nhân dân đối với xây dựng quân đội.

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ, BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

 

Tình hình trong nước xuất hiện nhiều vấn đề về chính trị, nội bộ mà các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài có thể lợi dụng để đẩy mạnh hoạt động gián điệp. Nội bộ ta bộc lộ một số vấn đề tồn tại và yếu kém. Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gia tăng trong nội bộ; nhiều tổ chức Đảng cơ sở buông lỏng tính kỷ luật; tình trạng suy thoái đạo đức, tham nhũng diễn ra nghiêm trọng; nội bộ một số ban, ngành mất đoàn kết; lòng tin của một bộ phận quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng giảm sút. Các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài thời gian qua đã tập trung nhằm vào số đối tượng này để lôi kéo, tác động, hướng lái hoặc tuyển lựa làm cơ sở gián điệp, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

Công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, còn bị buông lỏng và tồn tại nhiều sơ hở, thiếu sót, để xảy ra nhiều vụ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên các lĩnh vực còn bộc lộ nhiều hạn chế, sơ hở. Đáng chú ý là nhiều dự án có yếu tố nước ngoài, phức tạp về an ninh - chính trị được triển khai ngay tại các vùng chiến lược; các dự án kinh tế trọng điểm, hoạt động biên mậu dọc biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia chưa được quản lý chặt chẽ, phát hiện nhiều dấu hiệu nghi vấn có sự phá hoại, hướng lái của cơ quan tình báo nước ngoài. Ngoài ra, công tác quản lý hoạt động xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài còn sơ hở và nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp; đường mòn, lối mở tuyến biên giới trên bộ chưa được quản lý chặt chẽ; việc xét duyệt, quản lý hoạt động của các đoàn, đối tượng lâm thời chưa sát; công tác quản lý người nước ngoài tại các địa phương chưa được tiến hành thường xuyên; nhiều địa bàn có hoạt động phức tạp của người nước ngoài chưa được quản lý tốt.

Bên cạnh đó, điều kiện, khả năng, trình độ khoa học - kỹ thuật mới phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia còn hạn chế, trong khi đây là thế mạnh hoạt động của nhiều cơ quan tình báo nước ngoài. Mặc dù được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Cơ chế quản lý nhà nước, kiểm soát của ta còn nhiều sơ hở, bị phụ thuộc lớn vào nước ngoài như: về tỷ lệ thiết bị lõi hạ tầng viễn thông; hệ thống điều khiển tự động mạng lưới điện quốc gia và các thiết bị điện tử. Tình trạng này đặt Việt Nam đứng trước rất nhiều nguy cơ về an ninh thông tin, an ninh mạng trước khả năng bị nước ngoài xâm nhập, kiểm soát.

BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ "trọng yếu thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm tình hình thế giới, khu vực, trong nước để lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng: nền quốc phòng toàn dân được tăng cường, củng cố; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả từ bên ngoài và bên trong về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới và tiếp tục được Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc là cần thiết.

Từ những vấn đề trên cho thấy, nếu Đảng không giữ được bản chất cách mạng; không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức và không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đất nước đi lên. Để thực hiện thắng lợi chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới phải thực hiện có hiệu quả những nhóm giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; về tự phê bình, phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên; về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; về cơ chế chính sách. Đặc biệt cần tích cực ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cấp Trung ương đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện biện pháp này, phải tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục chính trị, tư tưởng và công tác quản lý, sử dụng cán bộ; đổi mới cơ chế, chính sách để lựa chọn, thu nạp những người tài đức phục vụ đất nước, kiên quyết loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy cơ quan Nhà nước; đồng thời có thiết chế ngăn chặn sự tùy tiện, lạm quyền làm sai pháp luật của cán bộ; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng thành tích ai cũng nhận, khuyết điểm thì không.

 

BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA VẤN ĐỀ HỆ TRONG TRONG CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Bảo vệ an ninh quốc gia thực chất là cuộc đấu tranh cùng lúc với nhiều loại đối tượng cả trong nước và ngoài nước; các loại đối tượng này hoạt động vừa bí mật vừa công khai trắng trợn, bằng nhiều phương thức thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tinh vi nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại và che đậy bản chất. Để đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia phải được tiến hành bằng nhiều hình thức, biện pháp với sức mạnh to lớn. Bảo vệ an ninh quốc gia chịu sự tác động, chi phối trực tiếp của tình hình quốc tế, tình hình trong nước, nhất là diễn biến tình hình kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều diễn biến đa dạng, phức tạp, khó lường. Do vậy, trong bảo vệ an ninh quốc gia phải luôn chủ động nắm chắc, dự báo sát, đúng tình hình, nhất là những tình huống phức tạp có thể xảy ra để chủ động đối phó trong mọi tình huống bị động bất ngờ.

Tập trung bố trí lực lượng, phương tiện và triển khai đồng bộ các biện pháp công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất trên từng địa bàn, tuyến, lĩnh vực nhằm giành thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm. Quan tâm chăm lo, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, thực sự liêm chính, trọng dân, gần dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân. Nâng cao tiềm lực cơ sở vật chất, kỹ thuật, khoa học, công nghệ cho lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia, nhất là các đơn vị tham mưu, trực tiếp chiến đấu, Công an xã bảo đảm đủ sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Thường xuyên rà soát, hệ thống hóa các văn bản pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự, phát hiện những quy định không còn phù hợp để kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân.

Chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về nhận thức, tư duy mới trong bảo vệ an ninh quốc gia mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ ra, làm rõ nội hàm vấn đề an ninh con người, vấn đề “thế trận lòng dân” gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân, tạo cơ sở vững chắc đề ra và tổ chức thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm an ninh, quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

MỞ CỬA HỘI NHẬP PHẢI GẮN VỚI GIỮ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ

 

Thực hiện chính đường lối đổi mới, mở cửa, tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của  nước ta đã ở vị thế chưa từng có trong lịch sử. Nền kinh tế phát triển ổn định, an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, Việt Nam có quan hệ rộng rãi với các nước, các tổ chức quốc tế, là thành viên có uy tín và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, uy tín lãnh đạo của Đảng được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, cần phải bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ thì phát triển đất nước mới bền vững.

Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, các bộ, ban, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm trao đổi, phối hợp thường xuyên giữa các ban, bộ, ngành liên quan trong phân tích, đánh giá, xử lý thông tin về cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Đông Nam Á, Biển Đông và trên trường quốc tế.

 Bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ. Rà soát, bổ sung và bảo đảm việc chấp hành nghiêm các quy định, quy chế, quy trình công tác của cấp ủy, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp về quản lý cán bộ, đảng viên, phát ngôn của đảng viên, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ. Phát huy vai trò của tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với số đảng viên vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, kỷ luật phát ngôn và vi phạm nguyên tắc Đảng, những cán bộ đảng viên có suy thoái về tư tưởng tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Cung cấp thông tin, vận động, tranh thủ, đồng thời coi trọng củng cố chứng cứ, xử lý theo quy định của pháp luật đối với số văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư, cán bộ hưu trí có tư tưởng bất mãn, nhất là số đã “tự chuyển hóa” thành đối tượng phản động hoặc bị đối tượng phản động lôi kéo, lợi dụng. Thường xuyên củng cố tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, nhất là những nơi có “điểm nóng”, giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trong nội bộ, liên quan đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, đình công, lãn công.                          H.V.T

SẴN SÀNG LÀM CHỦ TÌNH HUỐNG KHỦNG BỐ BẰNG TÁC NHÂN SINH HỌC!

         Ngày 30-1-2023, Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW “Về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới”.

Nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng, đó là: “Chủ động ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; xử lý chất độc hóa học; bảo đảm an ninh sinh học trong nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Vũ khí sinh học là vũ khí dựa trên đặc tính gây bệnh hoặc truyền bệnh của các tác nhân sinh học gây dịch giết hại hàng loạt đối với người, động vật, thực vật. Khủng bố bằng vũ khí sinh học hay khủng bố sinh học (bioterrorism) là những hành động làm phát tán có chủ đích các yếu tố sinh học gây hại như vi khuẩn, virus, các độc tố từ vi khuẩn, nấm độc... tạo ra một loại bệnh dịch cho người, vật nuôi với phạm vi sát thương rộng, không giới hạn về không gian, thời gian và rất khó phát hiện.

Một vụ tấn công khủng bố bằng tác nhân sinh học có thể gây ra tác hại rất lớn; đe dọa sức khỏe, tính mạng của một nhóm người, của cư dân trong một vùng; gây tổn thất về kinh tế do các chi phí xử lý nguồn bệnh, do thiệt hại trong nông nghiệp từ dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, cây trồng; giảm chất lượng sản phẩm nông nghiệp và gây khó khăn cho tiêu thụ sản phẩm; làm suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh học và ảnh hưởng đến ổn định kinh tế, chính trị, xã hội...

Lịch sử nhân loại đã ghi nhận nhiều vụ khủng bố bằng tác nhân sinh học gây hậu quả nghiêm trọng, là nỗi kinh hoàng của nhiều quốc gia, trong đó người dân phải chịu đựng những hậu quả quá sức tưởng tượng. Hiện nay, nhiều tác nhân sinh học có nguy cơ cao bị các tổ chức khủng bố sử dụng. Cùng với đó, ngành công nghệ sinh học ngày càng phát triển tạo ra các loại vũ khí sinh học mới có tính sát thương mạnh, nguy hiểm hơn và khó kiểm soát, đe dọa an ninh, an toàn của nhiều quốc gia.

Những năm qua, Binh chủng Hóa học đã chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về ứng phó với các tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, xu hướng phát triển vũ khí sinh học; kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp ứng phó với những tình huống có thể xảy ra. Binh chủng đã chủ động đề xuất và tham gia soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong đó có vũ khí sinh học, như Nghị định số 81/2019/NĐ-CP ngày 11-11-2019 của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Dự án Luật Phòng thủ dân sự... Tham mưu cho Chính phủ, Bộ Quốc phòng thực hiện các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Công ước Vũ khí sinh học (BWC), Công ước Vũ khí hóa học (CWC), Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT)... Qua đó, xây dựng, phát triển, từng bước hiện đại hóa lực lượng phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân (CBRN), đầu tư phương tiện, trang thiết bị phát hiện tác nhân sinh học từ các quốc gia phát triển. Binh chủng thường xuyên tổ chức huấn luyện, diễn tập về phòng, chống tình huống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân; tham mưu, diễn tập phòng, chống các tác nhân sinh học tại các cửa khẩu do Quân đội quản lý; diễn tập phòng thủ dân sự ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, bức xạ, hạt nhân... theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng.

Có thể khẳng định, công tác ứng phó với các tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học và chiến tranh sinh học của Binh chủng Hóa học những năm qua đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường an ninh, an toàn để xây dựng, phát triển đất nước, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, các hoạt động phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong đó có vũ khí sinh học diễn ra dưới nhiều hình thức dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh đe dọa an ninh, an toàn các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Lợi dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, một số quốc gia đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học vào nhiều lĩnh vực và không loại trừ việc nghiên cứu, phát triển vũ khí sinh học có hiệu lực chiến đấu cao, các chất độc sinh học kiểu mới (được gọi là chất độc hóa học thế hệ 3) không nằm trong điều khoản cấm của các công ước quốc tế; trong đó ưu tiên nghiên cứu, phát triển các loại vi khuẩn, các loại nấm mới phá hoại tiềm lực kinh tế đối phương, nghiên cứu các loại virus gây dịch bệnh làm mất sức chiến đấu, gây tử vong đối với con người; ngoài ra còn nghiên cứu, phát triển vũ khí gene, vũ khí sinh thái, vũ khí hóa-sinh... Mặt khác, chủ nghĩa khủng bố quốc tế còn tìm mọi cách sở hữu công nghệ sinh học với mục đích sản xuất vũ khí giết người hàng loạt là nguy cơ không thể xem thường.

Trong bối cảnh đó, Binh chủng Hóa học quán triệt sâu sắc, chủ động triển khai có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định, nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, gìn giữ hòa bình, phát triển bền vững, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Binh chủng tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu, đó là: Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; chống tư tưởng và hành động chủ quan, song cũng không hoang mang, dao động trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh. Binh chủng tập trung nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình an ninh sinh học trên thế giới, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các biện pháp ứng phó, xử lý nhanh chóng, kịp thời, chính xác, trong đó chú trọng tham mưu, đề xuất các giải pháp đối phó cũng như trong xây dựng, phát triển lực lượng, vũ khí trang bị, huấn luyện, kế hoạch tác chiến của Binh chủng một cách chủ động, tích cực.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng được binh chủng triển khai, đó là làm tốt công tác xây dựng lực lượng, trang bị, bảo đảm sẵn sàng ứng phó với các tình huống địch, đối tượng khủng bố sử dụng vũ khí sinh học, tác nhân sinh học; tăng cường hợp tác quốc tế, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học. Cùng với đó, Binh chủng tiếp tục tham mưu với các cấp xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng, chống phổ biến vũ khí sinh học, ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Theo: Báo QDND./.





Yêu nước ST.

SÁNG MÃI PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 Chiều 20/4, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa huyện Mường Lát (Thanh Hóa) cho biết, một số cán bộ của Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) huyện Mường Lát phát hiện một nữ sinh bị đuối nước, liền nhảy xuống sông Mã cứu vớt, đưa cháu vào bờ, thực hiện các biện pháp sơ cứu ban đầu kịp thời.

Thông tin ban đầu, vụ việc xảy ra khoảng 17h30’ ngày 19/4. Theo đó, sau khi tan học, em V.T.D (SN 2007), dân tộc Mông trú tại Bản Pù Ngùa (xã Pù Nhi, Mường Lát), đang là học sinh lớp 10 Trường THPT Mường Lát cùng một số bạn học rủ nhau ra sông Mã (khu vực gần cầu Mường Lát) tắm. Do nước sông chảy xiết, D. đã bị đuối sức và nước cuốn trôi.

Vào thời điểm trên, 4 cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy quân sự huyện gồm: Thiếu tá Nguyễn Đức Trọng, Thiếu tá Cao Văn Thành, Thiếu tá Lê Văn Lợi và Thượng úy Lương Văn Tuấn đi bộ thể dục ngang qua phát hiện sự việc.

Ngay lập tức, các cán bộ nêu trên đã nhảy xuống sông để cứu cháu bé vào bờ. Tuy nhiên, sau khi được đưa vào bờ, cơ thể cháu đã tím tái và ngưng thở.

Trong lúc nguy cấp, 4 cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy quân sự huyện đã tìm mọi cách để sơ cứu ban đầu cho cháu D. Sau 15 phút nỗ lực chữa ngạt, cơ thể cháu D. ấm dần lên, nhịp tim đập trở lại và được đưa Bệnh viện Đa khoa huyện để tiếp tục theo dõi, điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Huy Văn – Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Mường Lát cho biết, nữ sinh D. được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Rất may, các cán bộ Ban Chỉ huy quân sự huyện đã sơ cứu, chữa ngạt kịp thời.

“Bệnh nhân đã tỉnh táo và trả lời được, thông khí phổi đã được trên 92%. Hiện, các y bác sỹ đang tiếp tục điều trị kháng sinh phòng bội nhiễm, nhiễm trùng phổi và phục hồi não ổn định”, bác sỹ Văn thông tin.

YÊU CẦU TRUNG QUỐC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

 Tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao chiều 20/4, trả lời câu hỏi phóng viên về đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ ngày 1/5-16/8, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Đoàn Khắc Việt nói rõ: 

Cái gọi là "Lệnh cấm đánh bắt cá" này đã xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế được xác định theo Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc 1982.

Lập trường của Việt Nam đối với cái gọi là "Lệnh cấm đánh bắt cá" mà Trung Quốc đơn phương ban hành trái phép ở Biển Đông là nhất quán và đã được khẳng định rõ trong các năm qua.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng biển của Việt Nam, không làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông.

SỰ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY SÁCH VIỆT NAM 21/4!

     Lịch sử của “Ngày hội đọc sách” được ra đời từ hơn 80 năm trước ở Tây Ban Nha, vào ngày 23/4, người ta yêu mến tặng nhau những cuốn sách kèm theo những đóa hoa hồng và bất cứ ai mua sách sẽ được tặng kèm theo một bông hồng đẹp. Từ đó hằng năm, truyền thống tốt đẹp này được người Tây Ban Nha phát triển thành “Ngày hội đọc sách” trên các đường phố. Sau đó hoạt động văn hóa có ý nghĩa này lan rộng ra nhiều nước ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi dưới nhiều hình thức như: Tuần lễ đọc sách, Ngày Sách, Tuần lễ thư viện. Từ năm 1995, tổ chức UNESCO đã chính thức chọn ngày 23 tháng 4 hằng năm là Ngày Sách và Bản quyền thế giới. 

Trên thế giới lễ hội sách, ngày hội đọc sách đã và đang mang lại những giá trị đích thực và hiệu quả hết sức to lớn. Hằng năm, hoạt động này đã thu hút sự chú ý, quan tâm của hàng triệu người đọc, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà quản lý ở mỗi nước; bất kể già, trẻ, gái, trai; bất kể mọi thành phần giàu, nghèo trong xã hội. Đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay thì việc tổ chức các Ngày sách và Văn hóa đọc càng góp phần khẳng định: Sách và văn hoá đọc mãi mãi trường 

Nhận thấy tầm quan trọng của văn hóa đọc, ngày 24/2/2014, Chính phủ đã quyết định lấy ngày 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc phát triển kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người. 

Ngày sách Việt Nam là sự kiện văn hóa quan trọng đối với những người yêu sách và cả cộng đồng xã hội. Góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc. Là dịp để tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội. Tôn vinh người đọc và những người tham gia sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ sách. Đồng thời, nó còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam.

Việc lấy ngày 21/4 là ngày Sách Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là thời điểm ra mắt cuốn sách đầu tiên của Việt Nam là cuốn “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh – tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Việt được in bởi những người thợ in Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác giả lớn, một Danh nhân văn hóa, các tác phẩm của Người có giá trị không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn được bạn bè quốc tế đón nhận. Việc chọn ngày Sách Việt Nam gắn với một tác phẩm nổi tiếng của Người sẽ có ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Bên cạnh đó, tháng 4 còn là thời điểm diễn ra Ngày sách và Bản quyền Thế giới (23/4), nhằm tôn vinh văn hóa đọc, khuyến khích mọi người dân thế giới khám phá niềm yêu thích đọc sách. Việc tổ chức ngày Sách Việt Nam vào dịp này thể hiện sự hội nhập của văn hóa đọc Việt Nam với văn hóa nhân loại, sẽ hấp dẫn và lôi cuốn độc giả./.
Yêu nước ST.

CHUYỆN VỀ CUỐN SÁCH ĐỘC NHẤT TRỞ THÀNH BẢO VẬT QUỐC GIA

 

Từ năm 2014, ngày 21/4 được chọn là ngày Sách Việt Nam, với ý nghĩa quan trọng. Đây là thời điểm ra mắt cuốn “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Việt được in bởi những người thợ in Việt Nam…
Xuất bản phẩm tiếng Việt đầu tiên do người Việt in
Sau khi rời bến cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911, Người đã đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi và châu Mỹ để học hỏi, “xem cho rõ” để “trở về giúp đồng bào tôi”. Khác với những người Việt Nam yêu nước cùng thời, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc coi trọng việc vận động làm chuyển biến nhận thức, xây dựng đường lối cách mạng hơn là bắt tay ngay vào phát động những cuộc khởi nghĩa, những cuộc nổi dậy chống chính quyền thực dân cướp nước khi chưa chín muồi.
Sau khi tham gia Ðảng Xã hội Pháp, đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Versaille họp tại Paris (Pháp) sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc; đòi quyền tự quyết cho dân tộc ta. Tiếp đó, Người viết nhiều sách, báo bằng tiếng Pháp, tố cáo với nhân dân Pháp và thế giới về những t.ội á.c của chế độ thực dân đối với các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã sung sướng đến rơi nước mắt khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin. Ðây là sự kiện quan trọng, là bước ngoặt trong quá trình nhận thức để tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc.
Và con đường cứu nước ấy lần đầu tiên được trình bày dưới quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”. Ðây là xuất bản phẩm cách mạng đầu tiên do chính những người thợ in Việt Nam làm ra bằng phương pháp rất thô sơ nhưng chứa đựng những tư tưởng lớn của thời đại mà ngày nay, sau 96 năm vẫn mang tính thời sự cho chúng ta học tập và làm theo.
“Đường Kách Mệnh” là tác phẩm tập hợp các bài giảng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925 - 1927. Cuốn sách được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và xuất bản thành sách năm 1927.
Theo PGS.TS Phạm Xanh, người có nhiều năm nghiên cứu lịch sử cận đại, sau khi xuất bản, tác phẩm “Đường Kách Mệnh” được bí mật đưa về Việt Nam. Về theo đường bộ, cuốn sách đã được Nguyễn Công Thu (sau khi dự khóa học của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu) đưa về Việt Nam theo đường Lạng Sơn. Về theo đường thủy, cuốn sách được Nguyễn Lương Bằng - một giao liên bí mật của ta khi đó làm việc trên tàu Sông Pô, tuyến Quảng Châu - Hải Phòng đưa về. Với sự khéo léo, ông đã đưa “Đường Kách Mệnh” về Việt Nam an toàn, và bàn giao lại cho những người có trách nhiệm làm tài liệu tuyên truyền và chuyển đi các nơi.
Trong hồi ký của lão thành cách mạng Nguyễn Văn Hoan, ông viết rằng chính ông Nguyễn Lương Bằng đã giao “Đường Kách Mệnh” cho ông tại ngôi nhà số 191 phố Hàng Cấp, thành phố Nam Định, để từ đó tỏa đi khắp vùng Sơn Nam Hạ (Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam).
Ở Hà Nội, “Đường Kách Mệnh” còn được in lại để có thêm tài liệu tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Năm 1927, “Đường Kách Mệnh” theo đường biển về Sài Gòn, rồi được chuyền đi các tỉnh Nam Kỳ... Thời đó, thực dân Pháp cấm các tài liệu liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, nếu phát hiện ai tàng trữ, sử dụng và truyền bá các tài liệu của Nguyễn Ái Quốc đều bị đưa ra tòa và bị phạt tù. Do đó, cuốn “Đường Kách Mệnh” đã được “ngụy trang” bằng nhiều cách, như ở An Giang, cuốn sách được ngụy trang dưới hình thức kinh Phật. Bên ngoài sách có tựa là Đạo Nam kinh, nhưng bên trong là nội dung tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Và cuốn sách trở thành cuốn “cẩm nang” gối đầu giường của thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam, chỉ đường cho những người cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…
Một di sản quý báu còn mãi hơi thở thời đại
GS.TS Hoàng Chí Bảo, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, người đã có gần 50 năm nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp của Bác Hồ nhấn mạnh, điểm độc đáo của “Đường Kách Mệnh” ở chỗ, tuy là một tác phẩm lý luận, nhưng Bác đặt vấn đề về tư cách - đạo đức của người cách mệnh lên ngay từ những trang đầu của cuốn sách. Tức là, phải trung thành với lý tưởng và mục tiêu. Phải kiên định với sự nghiệp đấu tranh. Và nhất là phải giữ chủ nghĩa cho vững và ít lòng ham muốn về vật chất.
Từ khi Đảng còn chưa ra đời, Bác đã nhìn nhận rõ yếu tố quan trọng là cách mạng muốn thành công thì ngoài đường lối chính trị, ngoài lý tưởng mục tiêu ra, một vấn đề hết sức hệ trọng là đạo đức của người cách mệnh, đạo đức của Đảng cách mệnh. Nhất là khi ở vị trí cầm quyền, Bác nhấn mạnh, người cách mệnh phải ít lòng ham muốn về vật chất, có bản lĩnh chống chủ nghĩa cá nhân, chống giặc nội xâm, phải có đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư thì mới toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp cách mạng, vì sự nghiệp phục vụ nhân dân.
GS. TS Hoàng Chí Bảo khẳng định, trong “Đường Kách Mệnh” có cả giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị văn hóa - nhất là văn hóa chính trị. Đây chính là giá trị bền vững, có sức sống ảnh hưởng sâu rộng lâu dài trong sự nghiệp của chúng ta hiện nay và mai sau. Trong nội dung “Đường Kách Mệnh”, Bác còn đặt vấn đề là phải rất chú trọng trong ứng xử với người, với việc, với tổ chức đoàn thể. Bác đặc biệt nhấn mạnh từ nghiêm túc: Với mình thì nghiêm, với người thì rộng lòng khoan thứ, với tổ chức thì giữ nguyên tính tổ chức.
Cũng theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, Đảng ta đang tận dụng triệt để những điều Bác viết để xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghĩa là, bây giờ xây dựng Đảng không chỉ về tư tưởng, chính trị, tổ chức như trước, mà phải xây dựng Đảng đặc biệt về đạo đức và văn hóa.
Đạo đức ấy chính là đạo đức cách mạng cần - kiệm - liêm - chính của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Văn hóa đó là văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ, văn hóa pháp quyền. Và văn hóa ứng xử tinh tế giữa cán bộ đảng viên công chức với người dân, trên tinh thần trọng dân (kính trọng, lễ phép với nhân dân), trọng pháp (tôn trọng luật pháp của Nhà nước pháp quyền)...
Chúng ta phải làm thế nào để vận dụng được tư tưởng của Bác vào đường lối chính sách chiến lược phát triển cán bộ, vào trong cơ chế, để đưa được người tài giỏi, có đức độ vào trong bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể. Đồng thời, phải loại bỏ cán bộ thoái hóa biến chất, làm tổn hại thanh danh của Đảng - đó là yêu cầu bức xúc mà nhân dân đặt ra hiện nay.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc bằng việc tuyên truyền cách mạng, tinh thần yêu nước của nhân dân ta và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế thông qua sách, báo.
Trở lại sự ra đời của cuốn sách, theo Tiến sĩ Chu Ðức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, thì tổng số học viên dự các lớp huấn luyện lúc bấy giờ khoảng 75 đồng chí. Ðó là những hạt giống cách mạng quý báu, những người đọc đầu tiên của xuất bản phẩm lịch sử Ðường Kách mệnh. Bằng nhiều cách khác nhau như in sao hoặc tuyên truyền miệng, những tư tưởng của tác phẩm đã được các học viên phổ biến rộng rãi đến quần chúng cách mạng, góp phần đắc lực vào cuộc vận động thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ngay sau đó. Tác phẩm được lưu truyền nguyên vẹn đến ngày nay thật sự là một di sản quý báu của lịch sử cách mạng hiện đại. Ðiều đó cũng chứng tỏ những giá trị tư tưởng của tác phẩm đã vượt qua thách thức của thời gian, những thăng trầm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế để khẳng định tầm vóc và sự đúng đắn của “Ðường Kách Mệnh” mà dân tộc ta đã lựa chọn.
Cuốn “Đường Kách Mệnh” do lão đồng chí Nguyễn Văn Hoan, nguyên Viện trưởng Viện công tố phúc thẩm Hà Nội sưu tầm được và tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ngày 26/7/1959 (ông Đặng Xuân Thiều Vụ trưởng Vụ bảo tồn - Bảo tàng đã ký nhận trong hồ sơ). Cũng theo Hồi ký của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.182, cuốn sách này do chính ông đem về Việt Nam vào khoảng mùa thu năm 1927, và phát cho nhiều đồng chí của ta đang hoạt động ở khắp nơi.
Hiện cuốn “Đường Kách Mệnh” hiện vật gốc - đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lại có một đời sống riêng, lịch sử riêng đặc biệt thú vị. Đi kèm với cuốn “Đường Kách Mệnh” hiện vật gốc này, có kèm một tờ giấy rời (tờ trình) viết bằng chữ Nôm, do một Phó lý ở một xã thuộc huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương viết. Nội dung tờ trình viết, vào năm Bảo Đại thứ 5, ngày 29 tháng Hai (tức là ngày 28/3/1930), tay Phó lý bắt được cuốn sách cấm tại nơi ông ta cư trú, và xin nộp cuốn sách lên tri huyện Thanh Hà. Quan tri huyện Thanh Hà đã tiếp nhận và đóng triện lên đó…
Bảo vật quốc gia đợt 1, năm 2012
Theo các nhà nghiên cứu, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác giả lớn, một Danh nhân văn hóa. Các tác phẩm của Người có giá trị không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn được bạn bè quốc tế đón nhận. Việc chọn ngày Sách Việt Nam gắn với một tác phẩm nổi tiếng của Người sẽ có ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Bên cạnh đó, tháng 4 còn là thời điểm diễn ra Ngày sách và Bản quyền Thế giới (23/4), nhằm tôn vinh văn hóa đọc, khuyến khích mọi người dân thế giới khám phá niềm yêu thích đọc sách. Việc tổ chức ngày Sách Việt Nam vào dịp này thể hiện sự hội nhập của văn hóa đọc Việt Nam với văn hóa nhân loại, sẽ hấp dẫn và lôi cuốn độc giả.
Hiện nay Bảo tàng Lịch sử quốc gia còn lưu giữ một trong số ít những bản in đầu tiên năm 1927 của cuốn sách “Đường Kách Mệnh”. Bản in này được công nhận là Bảo vật quốc gia đợt 1, năm 2012.
Báo Pháp luật Việt Nam
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
14