Kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2023), tối ngày 23/4, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật "Ngày vui thống nhất" tại Trung tâm nghệ thuật Âu Cơ (Hà Nội).
Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023
ÔN LẠI TRANG SỬ HÀO HÙNG QUA CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU NGHỆ THUẬT "NGÀY VUI THỐNG NHẤT"
Vì sao các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta?
ần đây, ở Việt Nam xuất hiện một số tổ chức được gọi là “tôn giáo”, có tôn chỉ, mục đích hoạt động đi ngược lại đường hướng của Đảng, Nhà nước, với mục đích chống phá cách mạng nước ta. Tại sao họ lại lợi dụng tôn giáo, coi đó là “chiêu bài” nguy hiểm để hiện thực hóa mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo1. Những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo trong nước và các tổ chức quốc tế đồng tình hưởng ứng và thừa nhận2. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Trong 15 năm qua, cả nước đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, nâng cấp được 7.916 cơ sở thờ tự, v.v. Đồng thời, coi trọng củng cố mối quan hệ đoàn kết lương - giáo, cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thôn, bản, địa phương vững mạnh, giàu đẹp, văn minh, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thế nhưng, các thế lực thù địch đã không chỉ phủ nhận kết quả đó, mà còn lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai. Vậy tại sao họ lại lợi dụng tôn giáo để chống phá chúng ta? Điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng, mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Phương thức của chúng là tập hợp, liên kết lực lượng lấy danh nghĩa tôn giáo, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ lương - giáo, tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để dễ bề can thiệp vào công việc nội bộ của ta.
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, việc các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta là do tôn giáo nói chung, ở Việt Nam nói riêng có những đặc điểm mà chúng có thể khoét sâu, khai thác.
Trước hết, sự đối lập về thế giới quan của tôn giáo và thế giới quan duy vật biện chứng trong nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở để chúng lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với tôn giáo. Thế giới quan của tôn giáo là thế giới quan “lộn ngược”; “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”3. Tính chất duy tâm, thần bí của tôn giáo đối lập với khoa học, thế giới quan duy vật biện chứng của hệ tư tưởng Mác – Lê-nin.
Lợi dụng sự đối lập này, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng, chủ nghĩa xã hội không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo, từ đó tạo ra khoảng cách, sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực xã hội chủ nghĩa để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời, tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện âm mưu hình thành “Ủy ban liên tôn đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo”, thành lập tổ chức “Liên tôn chống cộng”. Nếu nhìn nhận phiến diện thì đúng là có sự đối lập giữa thế giới quan tôn giáo và thế giới quan cách mạng của Đảng. Sự đối lập đó không có nghĩa là phải xóa bỏ tôn giáo, mà đòi hỏi có cách nhìn sâu sắc, toàn diện, lịch sử, cụ thể hơn. Chúng ta cần hiểu rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo tất yếu đồng hành cùng dân tộc. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chưa bao giờ có tư tưởng xóa bỏ, kỳ thị hay áp bức tôn giáo mà luôn nhất quán nhận thức: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch, nhất là các luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cho rằng Đảng, Nhà nước ta kỳ thị tôn giáo.
Thứ hai, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng nước ta. Mục tiêu chỉ được chuyển hóa thành kết quả khi có lực lượng thực hiện. Vì thế, các thế lực thù địch đã coi tôn giáo là chiêu bài để lợi dụng, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng, chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự xuất hiện và biến đổi của tôn giáo bao giờ cũng gắn với nguồn gốc về nhận thức, kinh tế - xã hội và tâm lý. Cũng như nhiều quốc gia khác, tôn giáo ở Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển dựa vào các yếu tố: tâm linh; sự giới hạn nhận thức của con người trước thế giới; sự sợ hãi, bất lực trước tự nhiên rộng lớn, bí ẩn; sự tuyệt vọng về bệnh tật mà y học chưa vươn tới; cuộc sống khó khăn, túng quẫn về kinh tế, v.v. Khai thác những vấn đề đó, các thế lực thù địch dựng lên cái gọi là “tôn giáo”, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu lúc sa cơ, lỡ vận, v.v. Với niềm tin được đền bù hư ảo do tôn giáo đem lại, các tín đồ bị ràng buộc bởi thứ được gọi là giáo lý, giáo luật, thực hiện nghi thức “tôn giáo” và những điểm tương đồng khác, hòng tạo ra sự gắn kết chặt chẽ, lâu bền giữa những người cùng tín ngưỡng. Sự gắn kết này tạo ra sức mạnh to lớn của một cộng đồng người và nó khác biệt với các cộng đồng người khác do tín ngưỡng, dẫn đến chia rẽ, mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư, giữa người có đạo và không có đạo. Nguy hiểm hơn là khi khối cộng đồng người này bị mê hoặc, cuồng tín và hoạt động theo phản xạ tự nhiên, không tuân thủ chính sách tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện vô điều kiện theo sự chăn dắt của bọn chủ mưu.
Thứ ba, triệt để tận dụng những bất cập, sơ hở của các cấp chính quyền trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để kích động quần chúng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các địa phương. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vẫn còn những tàn dư của chế độ xã hội cũ. Quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, những thành tựu là cơ bản, song khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết trong quản lý, điều hành xã hội, nhất là ở cơ sở. Đây là khoảnh đất trống mà các thế lực thù địch lợi dụng tổ chức lực lượng trực diện chống phá đường lối đổi mới đất nước. Điển hình là việc xả thải gây ô nhiễm môi trường của Công ty Formosa (Hà Tĩnh), giải tỏa đền bù đất tại 42 Nhà Chung, Nhà thờ Thái Hà, dựng thánh giá, nhà nguyện trái phép ở giáo xứ Đồng Chiêm (Hà Nội), Đồng Hới (Quảng Bình), giải tỏa Chùa Liên Trì (Thành phố Hồ Chí Minh) và gần đây là các vụ việc phức tạp tại giáo phận Vinh, Kon Tum, v.v.
Được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, một số linh mục, chức sắc tôn giáo lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động giáo dân chặn đường giao thông, biểu tình, gây rối, đập phá tài sản và tấn công lực lượng chức năng. Có người cho rằng, đây chỉ là những hành động, việc làm đơn giản, bột phát nhất thời, nhưng thực chất phía sau là cả những ý đồ đen tối, kế hoạch hết sức sâu xa, nham hiểm, được tính toán kỹ lưỡng, nhằm gây tiếng vang, tạo cớ, can thiệp vào các vấn đề: dân chủ, nhân quyền, v.v. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, thận trọng, tỉnh táo, xử lý mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, bảo đảm đúng pháp luật, phù hợp với đặc điểm, giáo lý, giáo luật tôn giáo và không để mắc mưu kẻ địch.
Thứ tư, dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo để phát triển tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn hết sức khó khăn. Đây là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch phát triển tôn giáo. Theo thống kê, từ năm 1980 đến nay, nước ta có khoảng 80 “tôn giáo mới”, hiện tượng tôn giáo mới, đạo lạ, tà đạo với nhiều nguồn gốc khác nhau, như: Tà đạo Hà Mòn, Pơkhăp Brâu, Dương Văn Mình, “Tâm linh Hồ Chí Minh”, Long Hoa Di Lặc, Hội thánh đức chúa trời mẹ, v.v Những thứ gọi là “tôn giáo” này hình thành trên cơ sở tiếp thu giáo lý của các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống với hình thức lắp ghép hỗn dung và thoát khỏi phạm vi ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống. Trong đó, nhiều tôn giáo được tổ chức nhằm lôi kéo, tập hợp quần chúng nhân dân chống phá cách mạng, gây rối trật tự, an ninh xã hội, như: “Tà đạo Vàng Chứ”, “Hội thánh đức chúa trời mẹ”, “Pháp luân công”. Nguy hiểm hơn, chúng còn lôi kéo, lập ra một số loại hình tôn giáo riêng cho người dân tộc thiểu số, như: “Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên; “Phật giáo riêng của người Khơme”,… nhằm “tôn giáo hóa” vùng dân tộc thiểu số, tập hợp lực lượng, khống chế quần chúng, kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị - xã hội, hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền và cao hơn là gây mâu thuẫn, xung đột dân tộc, tôn giáo tại các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tiến tới phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trên cơ sở nhận thức rõ những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nêu trên, thời gian tới, để tiếp tục đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: (1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. (2) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo. (3) Chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo vững mạnh về mọi mặt; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bà con giáo dân. (4) Chủ động nhận diện và đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.
Những đặc điểm trên, là cơ sở quan trọng để nắm bắt được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta; xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.CST
“CẢNH GIÁC TRƯỚC MỘT SỐ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY”
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, theo số liệu thống kê cho thấy tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự.
Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013.
Một là, chúng tăng cường hoạt động tôn giáo trái quy định pháp luật, chống đối lại các cơ quan chức năng; lôi kéo, kích động quần chúng nhân dân công khai chống đối chính quyền. Khi nhận thấy các cơ quan chức năng phát hiện xử lý thì chúng lại xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, lôi kéo các tín đồ đấu tranh với các cán bộ thực thi pháp luật. Không dừng lại ở đó, chúng còn sử dụng mạng Internet, các trang mạng xã hội để Live stream trực tiếp để phát tán các hình ảnh, hoạt động của cơ quan chức năng khi làm nhiệm vụ.
Điển hình một số vụ việc phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xảy ra thời gian vừa qua, được dư luận rất quan tâm như: vụ các linh mục Đặng Hữu Nam (Quản xứ Phú Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Lê Công Lượng (Quản xứ Xuân Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An) đã kích động, lôi kéo các tín đồ, chức sắc, nhân dân tham gia biểu tình gây rối, chống chính quyền; thậm chí có linh mục còn công khai nói xấu chế độ, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Hai là, chúng lợi dụng quan hệ tôn giáo để móc nối với các thế lực thù địch ở nước ngoài. Chúng cho rằng chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi “tự do” tín ngưỡng và “tự do” thờ phụng; nhà nước ta còn cấm đoán một số tôn giáo, không cho phép hoạt động, sinh hoạt, tuyên truyền. Từ đó, chúng liên kết với các tổ chức thù địch nước ngoài, nhận được từ họ sự viện trợ về mặt kinh tế và hậu thuẫn tinh thần nhằm phục vụ ý đồ sử dụng tôn giáo hình thành lực lượng lật đổ thể chế chính trị ở Việt Nam.
Ba là, lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.
Điển hình như việc tổ chức thành lập trái phép cái gọi là “nhà nước Đềga” tại Tây Nguyên năm 1999; việc kêu gọi các vùng đồng bào dân tộc Kmer theo Phật giáo Nam tông, ly khai, thành lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong” hoặc tại các vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc các đối tượng phản động, thù địch lợi dụng, phát triển cơ sở trong đạo Tin Lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu điểm nhóm đạo Tin Lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…
Bốn là, chúng lợi dụng những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo, quá trình thực thi công vụ của lực lượng chức năng, tham nhũng, lãng phí… để xuyên tạc, lôi kéo, kích động biểu tình; tạo ra sự “nhiễu loạn thông tin”, tâm lý nghi ngờ, bán tín, bán nghi, nhất là gây nên sự bất mãn trong quần chúng tín đồ và các tổ chức tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước.
Năm là, chúng tăng cường các hoạt động phá hoại tư tưởng, tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ nhằm kích động mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là sự đối lập về hệ tư tưởng, giữa những người “vô thần” và những người “hữu thần”. Nó là đại diện cho thế giới quan của những người theo tôn giáo và thế giới quan của những người cộng sản; chúng xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đàn áp, tiêu diệt những người theo tôn giáo. Điều này, khiến cho một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết lầm tưởng, nghe theo, từ đó tạo tâm lý chống đối chính quyền.
Trong thời gian tới, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động lưu vong và các phần tử cơ hội chính trị trong nước tiếp tục lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước với sự gia tăng về cấp độ, tính chất và quy mô bằng những thủ đoạn thâm độc. Do vậy, mỗi chúng ta hãy hết sức cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước; kiên quyết không nghe theo kẻ xấu lôi kéo, kích động, xúi giục thực hiện những hành vi chống phá, gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương./. CST
TUỔI XUÂN GỬI LẠI CHIẾN TRƯỜNG
Một thời tôi lính Trường Sơn
Phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay
TCCS - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, soi đường cho mọi công việc nói chung, trong đó có công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để Đảng càng văn minh, nhân văn, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc giá trị đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay.

1- Từ lâu văn hóa đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi quốc gia - dân tộc, mỗi con người. Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị chân, thiện, mỹ có giá trị soi đường cho các hoạt động, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng,... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1). Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, theo đó văn hóa cũng là nền tảng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”(2). Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”.
Sức mạnh điều tiết của văn hóa không chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức, ứng xử trong quan hệ cộng đồng, quan hệ con người với con người, hay trong bản thân mỗi con người, không chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự hài hòa cụ thể, mà cao hơn, văn hóa còn phát huy tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ lớn, tạo nên sự phát triển cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa các lĩnh vực quan trọng của đời sống, của mỗi quốc gia - dân tộc.
Thực chất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hệ giá trị văn hóa điều tiết, tác động tích cực đến sự chính danh, trong sạch, vững mạnh của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Văn hóa thẩm thấu, chi phối công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hệ giá trị của văn hóa là tổ hợp của yếu tố truyền thống, kết hợp với yếu tố hiện đại và sự kết tinh tinh hoa văn hóa thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc nên càng phải tạo lập hệ giá trị văn hóa trong Đảng để xây dựng, củng cố, nâng cao bản lĩnh, tầm trí tuệ, sức mạnh nội sinh, khả năng tự đề kháng, kiến tạo xây dựng mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay.
Hệ giá trị văn hóa trong Đảng thể hiện ở một số nội dung, như: 1- Bản lĩnh vững vàng của Đảng trước những khó khăn, thử thách; 2- Xác định đúng quyết sách chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững; 3- Mục tiêu, lý tưởng của Đảng luôn hướng đến chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác; 4- Đạo đức của Đảng, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên luôn là “công bộc” tận tụy phục vụ nhân dân; 5- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Do đó, các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên phải nắm vững nội dung của hệ giá trị văn hóa trong Đảng để phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nêu cao tính đảng, trách nhiệm trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện, phát huy vai trò hạt nhân chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đạt tới tầm cao của văn hóa, của đạo đức, văn minh,... thì Đảng cầm quyền sẽ hiệu quả, trường tồn, phát huy tốt vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(3). Đây được coi là mẫu số chung, giá trị phổ quát đặt ra cho các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nỗ lực phấn đấu để Đảng ta luôn biểu trưng cho đạo đức, văn hóa, lương tâm, danh dự của cả dân tộc. Đó là cơ sở để nhân dân tin yêu Đảng, ủy thác vai trò lãnh đạo chính trị cho Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay.
2- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong Đảng - yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của Đảng. Đầu tư cho xây dựng văn hóa trong Đảng thực chất là đầu tư cho công tác xây dựng Đảng, nâng tầm văn hóa, đạo đức của Đảng. Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tác động tích cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với đất nước, dân tộc, phát triển đúng định hướng.
Công tác xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết được Đảng ta quan tâm xây dựng, phát huy tính dân chủ, dựa trên những căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cuộc sống, thuận lòng dân. Cấp ủy các cấp đã coi trọng khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức phối hợp hành động chặt chẽ nên chủ trương, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xác định rõ quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải pháp sát hợp với tình hình thực tiễn. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26-6-1992, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999, của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII đã ban hành các nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” (Kết luận số 21-KL/TW). Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định Đảng ta luôn kiên định, kiên quyết, kiên trì và tập trung trí tuệ, tâm sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được những kết quả tích cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững phẩm chất, tư cách của người đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được khắc phục thì sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc(4)...
Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa thành các tiêu chí phù hợp với thực tiễn của từng đảng bộ để giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5).
Các tổ chức đảng đã quan tâm xây dựng văn hóa, từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác; xây dựng đoàn kết, thống nhất, phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả,... đến hành vi ứng xử có văn hóa với nhân dân trong thực thi công vụ của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng quán triệt, tổ chức thực hiện. Các quy định về công tác cán bộ ngày càng đồng bộ, chặt chẽ hơn, làm cơ sở để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã bổ sung những nội dung mới, chỉ ra tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Công tác kiểm tra, giám sát đã có những đổi mới về nội dung, phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; kiên quyết kiểm tra, kết luận, thi hành kỷ luật một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thực tế, giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang(6).
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng. Do đó, khâu chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số tổ chức đảng thiếu quyết liệt, biểu hiện chùng xuống, chất lượng, hiệu quả thấp. “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(7).
Thực tiễn cho thấy, “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8).
Một số tổ chức đảng chưa chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức nên chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm, bổn phận, lòng tự trọng, ý thức, tinh thần phục vụ nhân dân, sự miễn dịch với tham nhũng, tiêu cực. Một số tổ chức đảng xem nhẹ công tác tự phê bình và phê bình, tiến hành một cách hình thức, chưa quyết liệt, hiệu quả thấp; chưa chú trọng xây dựng văn hóa phê bình. Một số cấp ủy có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ địa phương trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.
Mặc dù việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy có chuyển biến tích cực, nhưng “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(9).
Trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn có tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội(10). Đây là phản văn hóa, cần nhận diện, khắc phục, đẩy lùi trong thời gian tới, góp phần làm lành mạnh, nâng cao chất lượng công tác cán bộ.
Những hạn chế trên có nguyên nhân, như một số tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đúng vai trò, tính cấp thiết của xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; một số cấp ủy năng lực tổ chức, kiến tạo, tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng còn hạn chế, thiếu chủ động, thiếu những cách làm sáng tạo; một số cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm yếu, chưa thực sự tiên phong, gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức, văn hóa.

3- Để phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên về xây dựng văn hóa trong Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(11). Cần nhận thức rằng, xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng tác động biện chứng, làm tiền đề cho nhau; xây dựng Đảng là cơ sở, điều kiện của chỉnh đốn Đảng, ngược lại chỉnh đốn Đảng góp phần làm cho công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả hơn. Văn hóa thẩm thấu tác động đến năm mặt của công tác xây dựng Đảng, từ việc xác định đúng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; xây dựng đạo đức của Đảng - đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, yếu tố văn hóa góp phần giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được hệ giá trị chân - thiện - mỹ, thức tỉnh lương tâm, phân biệt được đúng, sai để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và hoàn thiện nhân cách. Coi nhẹ yếu tố văn hóa sẽ làm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dễ lệch chuẩn, sai phạm ở một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên.
Công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, thực chất là tác động văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân để phấn đấu, rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết và yêu cầu, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”(12). Giáo dục, rèn luyện phải thông qua giao nhiệm vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ để từng đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn, nhiệm vụ được giao để phấn đấu, rèn luyện; đồng thời, các tổ chức đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp nhau phát huy ưu điểm, khắc phục những nhận thức, hành vi chưa đúng, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(13). Từ chiều sâu bản chất của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, phải hướng vào phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người còn căn dặn: “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(14). Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải đối chiếu, “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện nhân cách, tiến bộ trưởng thành. Tự soi, tự sửa chính là bản lĩnh văn hóa của người cộng sản, dám nhận diện “thứ giặc trong lòng” để đấu tranh loại bỏ. Đây là cuộc chiến cam go, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, dũng cảm mới có thể chiến thắng, vượt qua.
Giáo dục, tác động từ góc độ văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên thấu cảm, lan tỏa tình yêu thương đồng chí. Tinh thần nhân đạo, nhân văn là bản chất của Đảng ta; là mạch nguồn xuyên suốt của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở lô-gíc nội tại để Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(15). Do đó, mọi sự kèn cựa, đố kỵ, ganh tỵ ở một số cán bộ, đảng viên sẽ được nhường chỗ cho tình thương và lòng nhân ái. Tiếp tục tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ những điều nhỏ nhất, bình dị nhất. Đây cũng là kênh để cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phấn đấu, rèn luyện, không chủ quan, tự mãn, bằng lòng với kiến thức, kết quả phấn đấu của mình.
Song hành với coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cần gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, “thứ giặc trong lòng không mang gươm, mang súng”, dễ dàng làm tha hóa nhân cách, đưa người ta đi xuống dốc. Từ thực tiễn lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).
Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có khát vọng cống hiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(17). Hiệu quả văn hóa thẩm thấu đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy. Trước bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ phải tích cực học tập nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, trình độ kiến thức các mặt, xây dựng tầm nhìn biện chứng để đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; đủ sức kiến tạo tổ chức thực tiễn có hiệu quả.
Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ phải thâu thái được yếu tố văn hóa, bởi đó là hệ điều tiết để nâng cao nhận thức, hành vi, năng lực tổ chức hành động luôn vì lợi ích của Đảng, của tập thể và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, trong sạch về nhân cách, nói không với tiêu cực, tham nhũng, luôn lắng nghe, học hỏi, gần gũi với nhân dân. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Gương mẫu là tiêu chí, thước đo văn hóa của người cán bộ. Thực tế cho thấy, khi cán bộ đã “nhúng chàm”, mất uy tín thì chất lượng lãnh đạo, quản lý hạn chế, thậm chí bất lực. Bởi vậy, cần “coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hóa không chạy chức, chạy quyền”(18). Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần coi trọng xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, rèn luyện, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”(19). Trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ cần thực hiện tốt “6 dám” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,... Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã đề cập đến văn hóa từ chức, do đó, đã đến lúc cán bộ có sai phạm, khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao phải có bản lĩnh xin từ chức - đó là dũng khí, lòng tự trọng của cán bộ. Đây là vấn đề bình thường trong công tác cán bộ. Qua đó, kịp thời bổ sung những cán bộ có phẩm chất, tài năng đảm nhận các công việc của tổ chức phân công, không để khoảng trống quyền lực trong lãnh đạo, quản lý. Để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, nâng cao tính chuyên nghiệp, đủ khả năng làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế, từng cán bộ phải nỗ lực, phấn đấu; đổi mới mạnh mẽ các khâu của công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý.
Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát quyền lực.
Đây là giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Các tổ chức đảng cần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng (cấp ủy, ban thường vụ, sinh hoạt đảng bộ, sinh hoạt chi bộ) nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Sinh hoạt đảng phải đi vào thực chất, bài bản, bảo đảm nguyên tắc, phong phú về nội dung, hình thức sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy phải nâng cao tính đảng, tính chuyên nghiệp trong điều hành sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong tranh luận, thảo luận, gắn với kỷ luật, kỷ cương. Có phát huy dân chủ mới giúp cho cấp ủy có thêm thông tin, tri thức, kinh nghiệm để đưa ra các quyết định chính xác, hợp lòng dân. Cần tạo ra không gian văn hóa trong tổ chức đảng để đảng viên hiến kế, chia sẻ, đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng tổ chức đảng.
Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng ta khẳng định, không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(20). Công tác kiểm tra, giám sát là công cụ hữu hiệu để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; qua đó, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, phòng tránh các khuyết điểm, sai phạm. Ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhằm kịp thời giáo dục, ngăn chặn các khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, không để các dấu hiệu vi phạm từ chưa nghiêm trọng đến nghiêm trọng, từ một người liên quan đến nhiều người. Ủy ban kiểm tra cần hướng vào kiểm tra những điểm nóng, người đứng đầu, những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhằm giáo dục, cảnh báo cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, như tham nhũng, tiêu cực, thao túng quyền lực... Xây dựng văn hóa kiểm tra công tâm, khách quan, minh bạch, giáo dục, răn đe, đúng người, đúng việc, không gây oan sai, thể hiện thấu tình đạt lý, tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, coi trọng việc giám sát, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm. Quyền lực phải được “nhốt trong lồng” thể chế, cơ chế. Đây là biện pháp mạnh cần được tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”(21).
Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Nhân dân là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(22). Do đó, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của nhân dân. Đây là vấn đề mang tính quy luật, sống còn của Đảng. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(23). Yếu tố văn hóa chính là sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tôn trọng, cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, khắc phục, sửa chữa những góp ý đúng đắn của nhân dân. Bởi, tầm trí tuệ, tai mắt của nhân dân rất tinh tường, nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đảng viên khá chính xác; ai có trách nhiệm, làm việc có hiệu quả, ai làm tắc trách, quan liêu, nhũng nhiễu dân đều được nhân dân đánh giá. Vì vậy, xác lập cơ chế để thu thập, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức cần thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần kết hợp các kênh góp ý, như nhân dân trực tiếp góp ý, phản ánh, thông qua hội nghị góp ý phê bình cho cán bộ, đảng viên thông qua hòm thư góp ý hoặc thông qua tổ chức đại diện, như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng... Đây là cơ sở để tổ chức đảng có thêm thông tin, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, xây dựng tổ chức đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiệu quả, nhất là trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động hiện nay.
Cần khẳng định, sự hiện diện của văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, nội tại, mang tính quy luật, do đó đặt ra cho toàn Đảng, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tính đảng, lương tâm, danh dự, trách nhiệm của người cộng sản để phấn đấu, rèn luyện. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”(24); để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc./.
Để nâng cao hơn nữa tính chủ động trong công tác đấu tranh phòng chống hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch, các cơ quan chức năng, cấp ủy các cấp thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, tiếp tục quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các tôn giáo, giữa người theo đạo và không theo đạo, chống tư tưởng kì thị, chia rẽ, cực đoan tôn giáo.
Hai là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và thực hiện tốt chính sách tôn giáo; tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho khu vực có đông đồng bào theo đạo; tranh thủ phát huy vai trò chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tôn giáo, tạo những hạt nhân quy tụ tín đồ sinh hoạt tôn giáo lành mạnh; cô lập, phân hóa, hạn chế ảnh hưởng của số chức sắc tôn giáo cực đoan.
Ba là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đối với công cuộc xây dựng đất nước, những tiến bộ về dân chủ, nhân quyền trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Vạch trần âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá nước ta. CST
Người cao tuổi - Lực lượng quan trọng góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
TCCS - Người cao tuổi có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như ước nguyện sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của dân tộc Việt Nam.

Người cao tuổi trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc là di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước, trọng nghĩa, khoan dung, đoàn kết, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Đảng luôn xác định “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và luôn đề cao vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành phương châm hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, và thực sự, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy cao nhất để dân tộc ta đi đến thắng lợi trong các thời kỳ lịch sử.
Năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, diễn ra từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5, tại Khuổi Nậm, Pắc Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do. Một trong những lực lượng đầu tiên Bác nghĩ tới là các phụ lão, trong vai trò đầu tàu, dẫn dắt con cháu trong sự nghiệp cứu nước, xây dựng đất nước hưng thịnh. Người luôn coi người cao tuổi (NCT) là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” viết năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phủ trì”(1).
Nhất quán với tư tưởng đề cao vai trò của NCT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng ý nghĩa Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần thành “Truyền thống Diên Hồng” của dân tộc Việt Nam; qua đó, khẳng định vị trí, vai trò của NCT trước những sự kiện liên quan đến vận mệnh của dân tộc. Trong bài viết “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn”, đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 1-10-1960, Người chỉ rõ: “Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân tộc ta và riêng của các cụ phụ lão ta. Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, liền hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ”(2).
Người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Những đóng góp của người cao tuổi trên mọi lĩnh vực trong thời gian qua
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là chủ trương lớn của Đảng ta. Hiện thực hóa chủ trương đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đã chỉ rõ định hướng chính sách đối với NCT: “... xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe, quan tâm hơn đến người cao tuổi về y tế, hưởng thụ văn hóa, nhu cầu được thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội, nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước. Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi. Phát huy vai trò Hội Người cao tuổi Việt Nam”(3).
Qua 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, cả nước hiện có trên 12,5 triệu NCT, hơn 6,5 triệu NCT đang trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, trong đó có 400.000 NCT đạt danh hiệu làm kinh tế giỏi; NCT đóng góp hơn 11 triệu ngày công, gần 3.500 tỷ đồng, hiến 25 triệu m2 đất để xây dựng đường giao thông, kênh mương, nhà văn hóa, trường học, cơ sở y tế... góp phần xây dựng nông thôn mới. 64% số hội viên khuyến học là NCT; 660.000 NCT tham gia công tác đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, tổ hòa giải ở cơ sở; trên 300.000 NCT tham gia các tổ an ninh nhân dân, phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự ở cơ sở, cung cấp cho lực lượng công an 200.000 nguồn tin có giá trị, giúp đỡ 90.000 người tái hòa nhập cộng đồng. Người cao tuổi phối hợp giải quyết có hiệu quả hàng chục nghìn vụ mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân. Cả nước có trên 77.000 câu lạc bộ của NCT ở cơ sở với nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thu hút trên 2,5 triệu NCT tham gia. Đặc biệt, Hội đã thành lập 5.500 câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, thu hút trên 275.000 NCT tham gia. Mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được các tổ chức, cộng đồng trong nước, ngoài nước đánh giá cao và đã đoạt giải Nhất “Sáng kiến vì một châu Á già hóa khỏe mạnh”.
Hội Người cao tuổi Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội đã không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp và phát triển hội viên; tham gia, đề xuất xây dựng và hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là ở cơ sở; tích cực hưởng ứng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc triển khai phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao - Gương sáng” đã động viên hàng vạn NCT ở cơ sở tham gia công tác đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Trong đó, NCT luôn chủ động tham gia đóng góp ý kiến tâm huyết, trung thực, thẳng thắn với tinh thần trách nhiệm cao trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở.
Hội NCT các cấp đã vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tài trợ hàng vạn suất quà, xây mới hàng nghìn ngôi nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, chăm sóc người có công với nước. Hằng năm, thông qua Tháng hành động vì NCT Việt Nam, Hội đã vận động được các nguồn lực xã hội chung tay chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn, NCT thuộc hộ nghèo, cận nghèo, NCT là đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng khó khăn, góp phần giảm chênh lệch giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, từ nhiều năm nay, NCT được chăm sóc ngày càng tốt hơn; hằng năm, có hơn 1,1 triệu NCT được chúc thọ, mừng thọ; trên 3 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, 4 triệu NCT được khám sức khỏe định kỳ; trên 95% số NCT có thẻ bảo hiểm y tế (nhiều địa phương đã hỗ trợ 100% số NCT).
Từ “Truyền thống Diên Hồng” cho đến các phong trào, mô hình tiêu biểu “Người cao tuổi mẫu mực”, “Tuổi cao - Gương sáng”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng dòng họ không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “Người cao tuổi tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Người cao tuổi làm kinh tế giỏi” hiện nay, đã ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của NCT trong các hoạt động tập hợp lực lượng, góp phần lan tỏa chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NCT và tổ chức hội NCT Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đúng như Bác Hồ nói: “Tuổi cao chí khí càng cao”. Người cao tuổi nước ta thực sự là vốn quý của dân tộc, là lực lượng quan trọng của đất nước, là rường cột của gia đình và xã hội Việt Nam. Người cao tuổi của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam không chỉ là những người lao động cần cù, sáng tạo, góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, mà còn là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã trực tiếp góp phần làm nên lịch sử của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với 18 chữ vàng mà Trung ương Đảng tặng cho NCT Việt Nam: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Một số hạn chế, bất cập trong công tác người cao tuổi hiện nay
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, giải pháp thực hiện những nội dung của Nghị quyết số 23-NQ/TW đối với NCT ở một số đơn vị còn hạn chế. Nhận thức, tư tưởng của NCT về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc còn chưa đồng đều, có lúc, có nơi chưa nhất quán. Có trường hợp NCT chưa thực sự nêu gương, một số cán bộ hội chưa sâu sát quần chúng nhân dân, chưa phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; do vậy, chưa xây dựng được niềm tin, uy tín trong nhân dân. Một số chính sách, chế độ đối với NCT còn dàn trải, cào bằng, chưa theo kịp thực tiễn; đời sống một bộ phận NCT còn khó khăn cả về vật chất và tinh thần, thậm chí có trường hợp NCT còn bị bạo hành, ngược đãi, cho nên chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, nguồn lực NCT theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Những người từ 60 tuổi trở lên chiếm gần 12% tổng dân số vào năm 2019 và dự báo đến năm 2050, sẽ tăng lên hơn 25%. Đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đặc biệt, quá trình quá độ từ già hóa dân số đến dân số già của Việt Nam diễn ra chỉ trong vòng 20 năm, trong khi ở các quốc gia phát triển thì quá trình này kéo dài hàng trăm năm.
Trước những khó khăn, hạn chế, thách thức đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần nâng cao nhận thức, tư tưởng trong các cấp, các ngành, các địa phương: Người cao tuổi là lực lượng chính trị quan trọng, là nguồn lực để phát triển đất nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, các cấp, các ngành, các địa phương cần có chủ trương, chính sách, pháp luật và chương trình ứng phó với vấn đề già hóa dân số và phải coi NCT là nguồn lực, trên cơ sở tôn trọng quyền, để tạo động lực trong quá trình phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục phát huy vai trò của người cao tuổi trong giai đoạn mới
Thứ nhất, các cấp hội chủ động xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình... Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi”(4); trên cơ sở đó, phát huy vai trò của NCT một cách phù hợp; khuyến khích NCT tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Các cấp hội bám sát các nhiệm vụ trọng tâm, chương trình công tác của Hội, đẩy mạnh thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ địa phương, Nghị quyết Đại hội VI Hội Người cao tuổi Việt Nam. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức, tư tưởng về công tác NCT, hoạt động của hội NCT. Nắm bắt kịp thời tư tưởng, đời sống, nguyện vọng của NCT, đặc biệt là NCT có hoàn cảnh khó khăn; phối hợp phòng ngừa, ngăn chặn, không để xảy ra các vụ, việc ngược đãi, bạo hành NCT.
Thứ hai, các cấp hội nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ và phát triển hội viên. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương trong kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ hội; nghiên cứu, đề xuất chính sách, chế độ đối với cán bộ hội ở các cấp. Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức hội cơ sở; đổi mới nội dung sinh hoạt đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của hội viên và NCT; thu hút ngày càng đông NCT tham gia tổ chức hội và các phong trào do Hội tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, phát huy mạnh mẽ vai trò của NCT trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình phối hợp giữa hội NCT với các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các địa phương, góp phần phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của NCT tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đa dạng nội dung, phương thức, loại hình chăm sóc NCT; phát huy vai trò nòng cốt của Hội trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi”, phấn đấu để NCT được sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc trong gia đình và xã hội, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, góp phần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong bối cảnh, xu thế mới, để kịp thời ứng phó với quá trình già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, tận dụng các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phấn đấu NCT được hưởng tuổi già trong sự tôn trọng và bảo đảm an sinh xã hội, cần quan tâm một số nội dung sau:
Một là, Trung ương sớm tổng kết Chỉ thị số 59/CT-TW, ngày 27-9-1995, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, “Về chăm sóc người cao tuổi”, và ban hành chỉ thị mới về bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT trong tình hình mới.
Hai là, Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi; Chính phủ sớm ban hành chính sách về người cao tuổi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ba là, các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò của NCT và hội NCT; các cấp ủy, chính quyền địa phương cần nâng cao nhận thức, tư tưởng về vị trí, vai trò và sự đóng góp của NCT và tổ chức hội NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
.jpg)