Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Trong suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định đại đoàn kết dân tộc là phương thức, là sức mạnh và là mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Với tư tưởng ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập và xây dựng đất nước từng bước đạt mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh''. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa, giá trị chính trị quý báu của Việt Nam trong thời đại mới.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh của cách mạng Việt Nam và tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng về tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng trong nước, từ sức mạnh của các lực lượng xã hội, các tổ chức chính trị đến sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên nguồn lực tổng hợp nhằm hiện thực hóa mục tiêu cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết, trong đó có đại đoàn kết dân tộc, là một nội dung cơ bản, trung tâm của chính trị Việt Nam hiện đại. Người viết: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Người xây dựng trên nền tảng đúc rút trí tuệ nhân loại cổ, kim, Đông, Tây về tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng; trên cơ sở tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử cách mạng Việt Nam và nhiều cuộc cách mạng trên thế giới; và nhất là dựa trên những suy tư rất sâu sắc của Người, ở tầm triết học, về bản chất con người, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới, phương thức sống và hoạt động của con người..., nói cách khác trên nền tảng nhân sinh quan cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, mà Người trước hết là “nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp” - như chính Người khẳng định, trong đó tư tưởng và thực hành đại đoàn kết dân tộc, lý luận và thực tiễn đại đoàn kết dân tộc liên hệ chặt chẽ với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn và là trung tâm dẫn dắt quá trình tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng trong thực tiễn. Tư tưởng đại đoàn kết, trong đó đại đoàn kết dân tộc là vấn đề hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tính đến khi đứng trước những vấn đề lớn mà cách mạng đặt ra. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, với tư tưởng và vai trò thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ; kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc cùng với khối đại đoàn kết dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng là một di sản vô cùng quý báu cho Đảng ta và dân tộc ta. Trong bối cảnh hiện nay, khi mục tiêu được Đảng ta đưa ra trong Đại hội XIII của Đảng là: “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” đang đặt ra mạnh mẽ, thì việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, khai thác, vận dụng một cách sáng tạo những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc.
Để giải quyết những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc tổng kết lịch sử. Khi tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, Người đúc rút một quy luật: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi”. Đây là quan điểm rất quan trọng, mang tính nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, theo đó, việc lực lượng lãnh đạo cách mạng chú trọng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, việc các tầng lớp nhân dân tích cực, chủ động tham gia khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó chính là nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với quy luật.
Nhìn vào các phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân Việt Nam suốt nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX và phong trào đấu tranh của nhân dân nhiều nước thuộc địa chống lại chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ, nguyên nhân khiến cho hầu hết các phong trào đó, dù nổ ra với tinh thần anh dũng, sẵn sàng h.y s.inh của nhân dân, nhưng đều thất bại, là do bị chia rẽ và cô lập, các lực lượng yêu nước không được tập hợp và tổ chức lại thành một khối đoàn kết vững chắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành thời gian nghiên cứu kinh nghiệm các cuộc cách mạng lớn nổ ra trên thế giới như cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ và cách mạng Nga, từ đó đúc rút ra những chỉ dẫn quan trọng về đại đoàn kết dân tộc. Người còn đi sâu nghiên cứu nhiều tư tưởng, học thuyết của các nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ, như M. Gan-di, Tôn Trung Sơn..., và đặc biệt, đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhờ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có được cơ sở lý luận khoa học để luận giải sâu sắc về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, nhận thức đúng đối tượng đại đoàn kết và cách thức tiến hành đại đoàn kết dân tộc.
Trên tất cả những cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của đại đoàn kết dân tộc:
Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là một trong những vấn đề gốc của cách mạng. Nếu giải quyết thành công vấn đề này thì các vấn đề khác cũng sẽ có điều kiện để giải quyết thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ “điểm mẹ” để diễn đạt quan điểm này. Người viết: Đoàn kết là “điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”.
Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là phương thức để tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ sức mạnh của toàn thể dân tộc, góp phần quyết định đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... nhờ sức đại đoàn kết mà cách mệnh thành công... nhờ sức đại đoàn kết mà kháng chiến sẽ thắng lợi”; “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”.
Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là chiến lược hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất cứ giai đoạn nào của cách mạng, đại đoàn kết dân tộc luôn phải được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm giải quyết trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, “Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết. Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối, chiến lược đại đoàn kết dân tộc và lãnh đạo hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân tích cực thực hiện đường lối chiến lược đó, làm cho đại đoàn kết dân tộc trở thành một hiện thực đầy sức sống trong cách mạng Việt Nam.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối tượng đại đoàn kết dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. Trong bài nói chuyên tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc (tháng 1-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Có thể thấy, ý nghĩa chữ “đại” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc chính là biên độ của đại đoàn kết được mở rộng tối đa, là đoàn kết với mọi đối tượng có thể đoàn kết được.
Vấn đề đặt ra là, đó là những đối tượng nào?
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định các đối tượng của đại đoàn kết bằng phương pháp rất khoa học. Theo Người, dân tộc không phải là một “cộng đồng tưởng tượng”, mà là một cộng đồng hiện thực của những con người hiện thực. Để nhận diện đúng cộng đồng ấy, Người tiếp cận cộng đồng dân tộc bằng nhiều “lát cắt” khác nhau: giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, vùng miền,... Tùy từng “lát c.ắt” sẽ chia cộng đồng dân tộc thành những lực lượng xã hội khác nhau, với những đặc điểm về nhu cầu, lợi ích, tâm lý, thái độ,... riêng cùng những mối quan hệ đặc thù. Điều cần lưu ý là, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa một lát cắt hay quan hệ nào. Trái lại, áp dụng nhiều “lát c.ắt” để nhìn sâu vào cái bộ phận, nhưng không dừng ở cái bộ phận mà đi tới cái toàn thể, tức là để nhìn đối tượng đại đoàn kết trong tính chỉnh thể, trong tính tổng hòa khách quan vốn có, theo đúng quan điểm của C. Mác: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nhận diện một đối tượng đại đoàn kết không phải chỉ trên một phương diện nào đó, chẳng hạn dân tộc hay tôn giáo, mà trong tính tổng hòa đan xen của nó: cùng một đối tượng đại đoàn kết, vừa là con người dân tộc, vừa là con người giai cấp, vừa là con người tôn giáo, vừa là con người lứa tuổi... Cách tiếp cận toàn diện như vậy giúp chủ thể tìm ra những điểm chung để hóa giải các quan hệ khác biệt, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các đối tượng đại đoàn kết. Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích để nhận diện sâu về đối tượng đại đoàn kết trên các phương diện khác nhau và lấy đó làm cơ sở để tổng hợp, để đại đoàn kết là cách tiếp cận độc đáo của Người, vừa khoa học, vừa rất văn hóa, độc đáo, đặc sắc và hiệu quả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa lát c.ắt nào, nhưng từ góc nhìn chung của đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh điểm chung xuyên qua những khác biệt của các thành viên trong cùng một quốc gia - dân tộc, đó là những giá trị liên quan đến lợi ích chung của dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để Người khẳng định rằng, dù giai cấp, tộc người, tôn giáo, vùng, miền khác nhau, dù là trong nước hay nước ngoài..., nhưng là người Việt Nam, thì đều có những lợi ích chung có thể chia sẻ, vì thế, đều có thểvà cần thiết tham gia khối đại đoàn kết dân tộc để phấn đấu cho lợi ích chung. Trong bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam khi đó, lợi ích chung ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt là “yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, yêu thống nhất”, hay “thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”,... Hình ảnh “con Lạc, cháu Hồng”, “con dân nước Việt” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên chính là hiện thân cho những giá trị chung trong mỗi đối tượng đại đoàn kết. Rõ ràng, nói đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, ở đây, tuyệt nhiên không phải là một khẩu hiệu đơn thuần, mà là một chính sách dân tộc, một cương lĩnh hành động được xây dựng trên cơ sở nhận thức khoa học và mang tính khoan dung văn hóa rất sâu sắc.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc.
Để có thể thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Thứ nhất, quán triệt nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị”, trước hết phải “cầu đồng”, tức là phải tìm ra cái “đồng” mà các bên chia sẻ, lấy đó làm điểm quy tụ để đại đoàn kết.
Cái “đồng” đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là lòng yêu nước chân chính trong mỗi con người Việt Nam. Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi rời Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Phông-ten-nơ-b-lô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Thừa nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng, thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc, đó chính là quan điểm nhấn mạnh cái “đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tiếp cận các đối tượng đại đoàn kết.
Cái “đồng” đó còn là những quyền lợi chính đáng khác mà mỗi con người, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào..., cũng hướng đến. Nói cách khác, cùng với “độc lập”, thì “tự do”, “hạnh phúc”, “cơm ăn”, “áo mặc”, “học hành”,... cũng là những giá trị chung cần được quan tâm và là điểm tựa để quy tụ, đoàn kết mọi lực lượng xã hội khác nhau vào một sự nghiệp chung.
Tìm ra cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa, dựa vào cái chung để hóa giải những khác biệt, mâu thuẫn riêng, đó là triết lý rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
Thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” thì không chỉ “cầu đồng”, mà còn phải “tồn dị”, tức là phải chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt, miễn là không tổn hại đến cái chung. “Tồn dị” thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng, hay nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “khoan hồng đại độ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tôi cả quyết cam đoan rằng Chính phủ và đồng bào ta sẽ hết sức khoan hồng đại độ. Chẳng những để cho những người đó cải quá tu tâm, quay về với Tổ quốc, mà lại sẵn sàng trọng dụng họ, nếu những người đó có tài nghệ. Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hòa thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán”. Có khoan hồng đại độ, thì mới có đại đoàn kết, đó cũng là một triết lý đại đoàn kết rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khoan hồng đại độ không chỉ thể hiện cái tâm, mà còn thể hiện cái tầm của chủ thể đại đoàn kết. Hình ảnh thể hiện của tinh thần khoan dung chính là sông to và biển rộng: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”. Cái tâm và cái tầm chủ thể đại đoàn kết dân tộc trái ngược hoàn toàn với sự “nhỏ nhen”, hẹp hòi, định kiến, càng xa lạ với lối ứng xử “b.áo th.ù b.áo o.án”. Tinh thần khoan dung, độ lượng, hay khoan hồng đại độ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự chính là tinh thần khoan dung văn hóa, mang tính nhân văn, nhân đạo cực kỳ sâu sắc.
Thứ hai, thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” nói trên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần được đặt trên nền tảng niềm tin đối với con người. Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng”. Thiện hay ác đó không phải là “tính sẵn”, mang tính tiên thiên, mà do trình độ phát triển của xã hội quy định, do sự tập nhiễm của con người khi sống trong xã hội chưa thực sự đạt đến trình độ văn minh. Thiện hay á.c đó cũng không phải là nhất thành bất biến, mà biến đổi tùy thuộc vào giáo dục, theo nghĩa là giáo dục từ phía xã hội, cũng như tự giáo dục của mỗi con người. Lực lượng lãnh đạo cách mạng cần phải có niềm tin vào sự tồn tại của cái thiện trong mỗi con người, và khả năng nảy nở, phát triển của nó nếu được tác động đúng hướng, đúng cách, và thái độ cần có của lực lượng lãnh đạo xã hội là phải làm cho cái thiện “nảy nở như hoa mùa Xuân” và cái á.c “mất dần đi”. Lòng yêu nước chân chính, những định hướng giá trị tốt đẹp, như “ấm no”, “tự do”, “hạnh phúc”,... trong mỗi con người Việt Nam chính là cái thiện, và vì thế cần có niềm tin và thái độ ứng xử tích cực đối với cái thiện đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Không được b.áo th.ù b.áo o.án. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ. Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe. Tuyệt đối không được dùng cách kịch liệt”. Có thể thấy, niềm tin không chỉ đầy tính khoa học, mà cũng cực kỳ nhân văn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cái thiện và năng lực hướng thiện của con người là một triết lý nhân sinh cực kỳ quan trọng, là một bệ đỡ cho hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc một cách thành công. Đó cũng là một nguyên tắc thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất. Có như vậy, mới tập hợp và phát huy được cao độ sức mạnh của mỗi thành viên trong khối đại đoàn kết tạo nên tổng hợp lực cho cách mạng. Để làm được điều đó, ngoài niềm tin và thái độ đúng, còn cần đến cách ứng xử phù hợp. Trừ b.ọn “V.iệt gi.an b.án n.ước”, tr..ừ b.ọn “ph.át x.ít th.ực d.ân”, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “những á.c qu.ỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ”, thì “đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”. Khi nói đến cách ứng xử để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh thường dùng những chữ “thật thà”, “chân thành”, “thân thiết”, “thân ái”, “yêu quý”, “kính trọng”, “giúp đỡ”,... Người viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước. Chúng ta phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện”. Người còn chỉ dẫn: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng ch.ết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”,... Như vậy, dù góc tiếp cận nào: trong đảng hay ngoài đảng, chủng tộc hay giai cấp, thì để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, đều cần có cách ứng xử phù hợp, và cách ứng xử đó có thể khái quát là “cách Thiện”: cách Thiện để tạo ra cái Thiện, để làm cho những mầm Thiện nảy nở như hoa mùa Xuân. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc còn nhiều nội dung rất phong phú, sâu sắc. Những quan điểm đó chứa đựng những giá trị quan trọng đối với sự nghiệp củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Có thể khái quát là:
Một là, đại đoàn kết toàn dân tộc đã, đang và sẽ luôn là một quy luật chi phối sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Để có thể xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn phải được đặt lên hàng đầu, phải là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, và trực tiếp là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi trọng vai trò của đại đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải thực sự coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị.
Hai là, luôn quán triệt quan điểm mở rộng tối đa khối đại đoàn kết dân tộc. Trong xã hội mở và biến đổi nhanh chóng hiện nay, các lực lượng xã hội cấu thành dân tộc rất đa dạng, nhiều khác biệt. Tuy nhiên, dù đa dạng và nhiều khác biệt đến mấy, luôn cần nhìn nhận đó là các lực lượng cần tập hợp vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần mở rộng các hình thức tập hợp, tổ chức các lực lượng xã hội và có cơ chế để thu hút, quy tụ các hình thức đó vào trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thực sự là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với các cấp độ tổ chức chặt chẽ và cơ chế hoạt động hiệu quả. Muốn vậy, Mặt trận phải rất thực chất và đầy sức sống, vừa rất thống nhất, vừa đa dạng và sinh động.
Ba là, để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh xã hội phân hóa, phân tầng mạnh mẽ hiện nay, nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” càng hết sức quan trọng. Việc phát hiện và khơi dậy những giá trị, lợi ích chung, cũng như việc chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt sẽ khó khăn hơn, nhưng không thể không thực hiện. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải làm sao để các đại diện trong Mặt trận thật sự đại diện được cho sự đa dạng trong xã hội, đồng thời phải có cơ chế để sự đa dạng tương tác và tồn tại trong mục tiêu thống nhất. Tinh thần căn bản cần quán xuyến ở đây chính là dân chủ và pháp quyền.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu lớn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó phải là nền “pháp quyền nhân nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà có học giả gọi kỷ nguyên hiện nay là kỷ nguyên của văn hóa, do đó, cách thiện càng là một đòi hỏi về cách ứng xử đối với các lực lượng xã hội khác nhau trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng khái niệm “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm”, nhưng Người nhiều lần chỉ dẫn về việc “bày lẽ phải”, “nói phải”, “thuyết phục”,... trong ứng xử với các đối tượng đại đoàn kết. Ngay đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức vừa là thành viên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Đó không có gì khác hơn là ứng xử theo cách thiện, là phát huy sức mạnh của sự thuyết phục, là sử dụng sức mạnh mềm.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được tổ chức và hoạt động “theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên” cần và có điều kiện vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ: LẠI QUỐC KHÁNH - Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tạp chí Cộng sản

ĐIỀU CHỈNH LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN LINH HOẠT QUA CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG XUÂN LỘC.


Trận tiến công quân địch ở thị xã Xuân Lộc mùa xuân 1975 thể hiện cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng, quyết liệt giữa ta và địch.
Trong đó, về nghệ thuật chiến dịch, nổi bật là ta chủ động tổ chức và sử dụng lực lượng tác chiến linh hoạt, sáng tạo, từng bước phát huy hiệu quả trong quá trình chiến đấu.
Nắm chắc tình hình địch, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng bộ binh, tập trung toàn bộ xe tăng, pháo binh tiến công thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và Sư đoàn 18, nếu địch tan rã thì nhanh chóng đánh chiếm thị xã Xuân Lộc, tỉnh lỵ Long Khánh (nay là TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). Căn cứ vào kế hoạch tác chiến, ta tổ chức lực lượng thành 3 bộ phận: Bộ phận thứ nhất gồm Sư đoàn Bộ binh 7 (Quân đoàn 4) được tăng cường 12 xe tăng, 2 pháo 85mm, 2 cối 160mm, tiến công hướng chủ yếu, từ phía đông thị xã Xuân Lộc. Bộ phận thứ hai gồm Sư đoàn Bộ binh 314 (Quân đoàn 4) được tăng cường một tiểu đoàn pháo phòng không hỗn hợp (37mm và 57mm) và pháo binh Quân đoàn 4 chi viện hỏa lực, tiến công trên hướng thứ yếu từ phía bắc thị xã. Bộ phận thứ ba gồm Sư đoàn Bộ binh 6 (Quân khu 7) tiến công trên hướng phối hợp, chia cắt địch ở Đường số 1 (đoạn ngã ba Dầu Giây).
Theo kế hoạch, ngày 9-4-1975, bộ đội ta bắt đầu tiến công Xuân Lộc. Trên hướng chủ yếu, ta tiến công căn cứ Sư đoàn 18, bị địch ngăn chặn quyết liệt nên phải chuyển hướng tiến đánh hậu cứ Chiến đoàn 52 địch. Trên hướng thứ yếu, ta nhanh chóng đánh chiếm các khu thông tin, cố vấn Mỹ, cảnh sát, bảo an và khu chợ. Khi ta tiến công vào dinh tỉnh trưởng thì bị địch đánh chặn dữ dội. Qua thực tiễn chiến đấu cho thấy, việc ta tập trung lực lượng lớn đánh cùng một lúc vào các mục tiêu ở trong thị xã là không phù hợp, do ta chưa dự tính được sự phát triển phức tạp của các tình huống, địch đã tăng cường lực lượng, củng cố thế phòng thủ vững chắc ở các vị trí chiếm đóng.
Lúc đầu, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng lực lượng theo cách đánh “lấy tiêu diệt địch bên ngoài là chính, tạo thế bao vây cô lập Xuân Lộc rồi dứt điểm sau”. Khi địch hoang mang, dao động, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng lực lượng linh hoạt, kịp thời theo cách đánh đã thay đổi, từ đánh địch ở phía ngoài chuyển vào đánh địch ở trung tâm thị xã Xuân Lộc trước. Thế nhưng, trong vài ngày đầu chiến đấu, ta sử dụng lực lượng đánh lớn cùng lúc vào trung tâm thị xã trước chưa phù hợp. Vì thế, ta chỉ để lại một bộ phận nhỏ lực lượng giữ những khu vực đã chiếm ở thị xã và kiềm chế, nghi binh địch, còn đại bộ phận lực lượng chuyển ra vòng ngoài, dùng pháo binh tầm xa bắn phá, khống chế sân bay Biên Hòa, không để địch chi viện cho Xuân Lộc. Theo chủ trương đó, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh, mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế, nghi binh địch, còn phần lớn lực lượng chiến dịch rút ra phía ngoài củng cố, khẩn trương tạo thế và lực mới để đánh địch.
Với việc tổ chức và sử dụng lực lượng linh hoạt theo cách đánh sáng tạo, bộ đội ta đã nhanh chóng tiêu diệt Chiến đoàn 52, diệt gọn một tiểu đoàn pháo, một chi đoàn thiết giáp, giải phóng chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Đường số 1 (đoạn Xuân Lộc-Bàu Cá), Đường số 20 (đoạn Túc Trưng-ngã ba Dầu Giây). Tiếp đó, trong hai ngày 16 và 17-4, ta sử dụng lực lượng đánh bại các đợt phản kích của địch từ Biên Hòa lên, giữ vững ngã ba Dầu Giây. Đây là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng đánh vào chỗ hiểm, nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng thủ của địch ở vòng ngoài, buộc địch phải đưa lực lượng đến ứng cứu, tạo thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng ngoài công sự. Trong khi đó, ở thị xã, ta tập trung lực lượng tiến công đánh thiệt hại nặng hai Chiến đoàn 43 và 48 (Sư đoàn 18) và diệt một bộ phận quân dù địch. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, 20 giờ ngày 20-4-1975, địch ở Xuân Lộc vội vã rút chạy. Ta chuyển sang truy kích, nhưng do phát hiện và sử dụng lực lượng truy kích chậm, nên chỉ diệt được một bộ phận sinh lực địch. Thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được giải phóng.
Thắng lợi tại Xuân Lộc có ý nghĩa chiến lược to lớn, đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng của Quân đội ta. Về nghệ thuật tổ chức lực lượng, ta tổ chức lực lượng quy mô cấp quân đoàn bố trí thành 3 bộ phận trên 3 hướng (chủ yếu, thứ yếu, phối hợp) thực hành Chiến dịch Xuân Lộc thắng lợi. Về nghệ thuật sử dụng lực lượng, ta tập trung lực lượng quy mô quân đoàn, tạo ưu thế hơn địch (gồm 3 sư đoàn bộ binh, toàn bộ lực lượng pháo binh, pháo cao xạ, xe tăng, công binh, thông tin và các đơn vị bảo đảm khác); đồng thời sử dụng lực lượng sáng tạo, linh hoạt khi chuyển hóa lực lượng kịp thời thay đổi cách đánh (từ đánh địch ở bên ngoài chuyển sang đánh địch ở trong thị xã; khi địch ngoan cố chống cự quyết liệt, ta lại rút lực lượng ra ngoài đánh địch, thực hành bao vây thị xã, khiến Xuân Lộc bị chia cắt với Sài Gòn, buộc địch phải rút chạy khỏi thị xã) kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công Xuân Lộc.
Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP (nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự)
Báo QĐND
Quân giải phóng đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy, tháng 4-1975. Ảnh tư liệu
Có thể là hình ảnh về 1 người
Tất cả cảm xúc:
8

XUYÊN TẠC SỰ THẬT LỊCH SỬ DỊP KỶ NIỆM NGÀY LỄ LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC


Từ xuyên tạc, bôi bẩn lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi xét lại quá khứ oai hùng của dân tộc, các thế lực thù địch đã lộ nguyên hình là những kẻ phản bội Tổ quốc.
Thực trạng này đã và đang diễn ra với đủ những hình ảnh, thông tin bịa đặt, sai sự thật mà các phần tử xấu trong nước, các hội nhóm, tổ chức phản động ngoài nước tung lên không gian mạng nhằm chống phá Nhà nước ta.
Phỉ báng lịch sử
Hàng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4, trên một số trang mạng xã hội lại xuất hiện những bài viết cố tình tô vẽ những quan điểm sai trái. Một số trang mạng ở nước ngoài gọi ngày 30-4 bằng những từ mang tính thù hận như: “Ngày quốc hận”, “Tháng tư là tháng vo gạo bằng nước mắt”, “Mùa quốc hận, tháng tư đen”… Ở trong nước, một số đối tượng cũng hùa theo, lập các tài khoản đưa lên những bài viết có nội dung sai sự thật, ca ngợi những phần tử chống đối là những “anh hùng dân tộc”, các tổ chức phản động là “duy nhất có thể thay đổi chế độ cộng sản ở Việt Nam”…
Trong các đối tượng trên, có thể kể đến tài khoản Facebook “Phi kim” của đối tượng Lê Thị Kim Phi (63 tuổi, ngụ huyện Tân Phú, tỉnh An Giang). Đối tượng này kết bạn với một số tài khoản là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân ở Mỹ cầm đầu và tự xưng là “tổng thống”.
Sau đó, Lê Thị Kim Phi thực hiện “nghi thức” giẫm đạp lên di ảnh của lãnh tụ Việt Nam trước khi được kết nạp trở thành thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đối tượng này thường xuyên có các bài viết ca ngợi “Tổng thống Đào Minh Quân”, cổ xúy cho hành động chống phá của các thành viên trong tổ chức phản động này. Trong một clip của Đào Minh Quân vận động bầu cho mình làm tổng thống, có đoạn xuyên tạc sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Lê Thị Kim Phi hùa theo với lời bình xúc phạm, không đúng sự thật. Tháng 7-2021, Lê Thị Kim Phi bị khởi tố, bắt tạm giam và Toà án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt 6 năm tù giam vì “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Từ năm 2018 đến nay, trong các cuộc vận động “trưng cầu dân ý”, phát hành “đồng tiền gia bảo” của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Đào Minh Quân thường rêu rao đã nộp đơn lên Tòa án quốc tế với hơn 300 trang tài liệu kiện “Chế độ cộng sản Việt Nam” và “Tàu cộng” về một loạt “hành động tàn bạo” mà y gọi là “tội phạm chiến tranh”. Y hùng hồn tuyên bố sẽ thắng trong vụ kiện lịch sử này với số tiền được bồi thường là 36.000 tỷ USD. Trong đó, 15.000 tỷ USD, y sẽ tặng Chính phủ Hoa Kỳ, 21.000 tỷ USD tặng hết cho nhân dân Việt Nam. Đào Minh Quân còn nhiều lần tuyên bố sẽ về Việt Nam triệt thoái Đảng và Nhà nước ta và đứng ra tiếp nhận trọng nhiệm gánh vác sứ mệnh xây dựng chế độ Việt Nam dân chủ, phát triển (!?).
Cũng với chiêu bài tương tự, tổ chức khủng bố “Triều Đại Việt” do Ngô Văn Hoàng Hùng (70 tuổi tại Tiền Giang, quốc tịch Ca-na-đa), tự xưng là “Tổng tư lệnh”, thường xuyên lên mạng xã hội kêu gọi người dân “đứng lên đấu tranh đòi quyền sống”. Y còn tuyên bố mạo nhận bản thân và một số thành viên cộm cán trong tổ chức của mình là hậu duệ đời thứ 6 của vua Tây Sơn, có sứ mệnh giải phóng quê hương khỏi chế độ cộng sản. Phương thức hoạt động mà “Triều Đại Việt” đưa ra là bạo động vũ trang với phương châm “đốt sạch, giết sạch, phá sạch, cướp sạch” và hỗ trợ tiền, chỉ đạo số cơ sở trong nước tiến hành các hoạt động khủng bố, kích động người dân xuống đường biểu tình bạo loạn, cướp chính quyền…
Phủ nhận lịch sử là có tội với dân tộc
Những kẻ như trên không hiểu gì về lịch sử dân tộc, hoặc cố tình đánh tráo sự thật và phủ nhận lịch sử Việt Nam bằng những luận điệu xuyên tạc, thiếu căn cứ. Điều này thấy rõ qua những bài viết của một số kẻ phản bội dân tộc tung lên mạng xã hội trong những dịp kỷ niệm các ngày lịch sử của dân tộc, với những luận điệu như: “Không cần đấu tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh”, “Đánh Pháp, đuổi Nhật, kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa”, “Cộng sản Việt Nam làm theo mưu đồ của các nước lớn”…
Những luận điệu này ngay lập tức đã bị các nhà nghiên cứu lịch sử ở trong nước và ngoài nước phẫn nộ, lên tiếng phản đối. Trong số đó có nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang, đã phản ứng qua bài viết với nội dung: “Trừ khi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác kéo quân đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu sai trái đòi xét lại lịch sử của những kẻ phản bội, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, nghĩa sĩ trong các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược từ năm 1858-1954 đều là vô nghĩa hay sao? Và hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao? Những ai còn có cách hiểu và suy nghĩ theo những luận điệu sai trái này là tỏ ra vô ơn đối với hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam trường tồn”.
Một sự thật khác mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội tìm cách phủ nhận là những thành quả phát triển của đất nước ta qua nhiều thập kỷ vừa qua. Trong đó phải kể đến sau 47 năm đất nước hoàn toàn thống nhất và 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thay đổi vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, đất nước phát triển không ngừng, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, đủ đầy và đang thực hiện khát vọng vươn lên trở thành quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Mọi luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử với những định kiến lệch lạc, những âm mưu, dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch và cả những ngộ nhận, mơ hồ trong nhìn nhận, đánh giá lịch sử thiếu khách quan, khoa học là đi ngược lại tiến trình lịch sử của dân tộc và sự phát triển của đất nước.
“Để thực hiện mục tiêu chống phá tư tưởng, việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc trên không gian mạng là hoạt động phổ biến hiện nay của các hội nhóm, tổ chức phản động với hàng loạt tin, bài, hình ảnh, video clip bịa đặt, cắt ghép lan truyền với tốc độ nhanh trên các trang mạng Facebook, YouTube, TikTok, Zalo, Blog, diễn đàn, website. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch để thực hiện mưu đồ hèn hạ này, trong đó có lịch sử dân tộc Việt Nam”.
ST
Ảnh: Công an huyện Trà Cú (tỉnh Trà Vinh) khởi tố và bắt tạm giam Thạch Rien (61 tuổi, ở Trà Cú) về hành vi thường xuyên đăng tải, chia sẻ biểu tượng, tài liệu liên quan đến tổ chức phản động ở nước ngoài.
Có thể là hình ảnh về 4 người

VIẾT CHO NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC VÌ "GIẤC MƠ MỸ"!

         Theo thông tin mới nhất, đối tượng Phạm Thanh Nghiên đã bị trục xuất khỏi Việt Nam và đã xin được định cư bên Mỹ. Vậy là ước mơ nước Mỹ của Nghiên đã hoàn thành nhưng cũng là lúc gần trăm hộ dân ở vườn rau Lộc Hưng bị bỏ rơi sau những ngày tin theo “lý tưởng đấu tranh” của Nghiên.

Phạm Thanh Nghiên sinh ngày 24/11/1977 tại Hải Phòng. Là con một gia đình có 7 anh chị em và bỏ học ngang giữa chừng từ năm 18 tuổi. Cũng giống Bùi Thanh Hiếu sau nhiều năm lăn lộn với đủ nghề mưu sinh trong xã hội, vì quá mệt mỏi với cơm áo gạo tiền, Nghiên cũng muốn được sung sướng, nghĩ mình không thể mãi bán hàng nước, dệt vải, công nhân lau dọn vệ sinh mãi được và thế là Nghiên cầm bút lên. Nhưng không học qua trường lớp nào thì biết viết gì, tất nhiên là viết “chống phá”. Bởi cái nghề “đấu tranh dân chủ” không cần trình độ chỉ cần tư tưởng.

Được đồng bọn hà hơi bơm kích, Nghiên như con ngựa non háu đá, Nghiên viết, viết trong cái danh hão mà bấy lâu nay chưa từng được nhận và cả trong những đồng tiền từ các tổ chức nước ngoài thù địch, phản động, chống phá hòng gây áp lực ngoại giao với Việt Nam gửi về. Và sự ngông cuồng ấy đã phải trả giá bằng 4 năm tù về tội tuyên truyền chống nhà nước được quy định tại điều 88 BLHS năm 1999.

Thường thì những đối tượng chống phá như Nghiên hay xem việc ngồi tù là một chiến tích và nó như là một bước đệm để có thể tiến đến mục tiêu xa hơn là giấc mơ nước Mỹ. Thậm chí, có rất nhiều đối tượng còn coi đó là một trong những giai đoạn và cố tình tình làm mọi cách chống phá để được vào tù. Mà thực tế thì cũng đúng như vậy, các trường hợp như Nguyễn Ngọc Như quỳnh (Mẹ Nấm), Trương Quốc Huy,… Chính vì thế, sau khi ra tù, Nghiên tiếp tục lợi dụng các vụ việc như vườn rau Lộc Hưng, vụ Đồng Tâm, vụ Đặng Ngọc Viết giết người hàng loạt, vụ Lê Anh Hùng… để xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc thực tế về “tự do, dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam để kích động người dân đối đầu với chính quyền, đồng thời kêu gọi quốc tế cô lập, cấm vận Việt Nam. Trong đó, đặc biệt nhất là vụ vườn rau Lộc Hưng. Không biết những người đã tin tưởng mù quáng theo Nghiên để chống đối chính quyền và từ chối đối thoại hòa giải rồi sẽ ra sao khi Nghiên đã yên vị bên Mỹ. Giờ tới cũng không được mà lui cũng không xong!

Bây giờ có lẽ Phạm Thanh Nghiên đang rất vui vẻ và hồ hởi bởi nhận được sự quan tâm của mấy trang mạng chống phá. Tuy nhiên, có lẽ rất nhanh thôi, Nghiên sẽ cảm thấy lạnh như cách mà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đang phải chịu sau những ngày được tung hô vang trời khi mới đặt chân đến Mỹ. 

“Nước Mỹ không vĩ đại như người ta tưởng” – đó là lời nói chua chát của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sau những tháng ngày dài chiêm nhiệm sống ở nơi có tượng Nữ Thần Tự Do.

Hay như Trần Thị Nga, đối tượng chống phá điên cuồng được trục xuất khỏi Việt Nam và được định cư ở Mỹ vào năm 2020. Và chỉ một năm sau, Nga phải chua chát thừa nhận, Mỹ là thiên đường của người này nhưng là địa ngục của người kia khi: 

"Thuê nhà không được vì chủ nhà đòi phải có Social; có nhà rồi thì không được sử dụng điện, gas, nước, Internet. Vì các công ty đó chỉ bán hàng cho những người có Social. Không được mua bảo hiểm y tế vì không có Social. Bị bệnh thì tự mà làm bác sĩ cho mình chứ không được đi làm tiền đâu mà trả viện phí. Được sống nhưng không được phép kiếm sống vì không có Social. Đi làm giấy tờ gì cũng không được vì không có Social. Mà Social lại đòi phải có giấy tờ, sống thì phải ăn, ăn mà không được đi làm kiếm ăn thì lấy gì để sống. Sống mà không có ăn, phải đi xin trợ cấp thì không được trợ cấp vì trợ cấp chỉ dành cho người có Social. Được đến Mỹ, đất nước tự do như bao người nói là có “phúc”, phải biết ơn người này, biết ơn kẻ kia. Kết quả là đến Mỹ 2 năm rồi cả gia đình già trẻ lớn bé sống cảnh không giấy tờ, sống chờ đợi trong vô vọng. Được quyền sống nhưng không được quyền kiếm sống. Không trợ cấp cũng chẳng có cái quyền gì ngoài quyền hít không khí để tồn tại”…

Việt Nam bỏ đi vài người chuyên bới móc chia rẽ dân tộc thì không tiếc. Nhưng nước Mỹ phải nuôi thêm một kẻ khác màu da, khác dòng máu, khác dân tộc nhưng không còn tác dụng thì tất nhiên họ áp lực. Làm gì ai muốn dung dưỡng một kẻ không còn giá trị. Âu đó cũng là cái giá mà Quỳnh, Nga và sau này Nghiên phải trả cho giấc mơ nước Mỹ của mình.

Và trong bối cảnh kẻ thì cứ nhăm nhăm ra đi ấy thì Mỹ đã cử 52 doanh nghiệp lớn nhất đến đàm phán, làm việc với Việt Nam, tòa nhà đại sứ đắt nhất hành tinh trị giá 1,2 tỷ USD cũng đã được khởi công xây dựng. Vậy để thấy, mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Mỹ đang tốt đẹp thế nào.

Kết lại bài này xin nhắc lại rằng, quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý. Người ta bảo “cáo chết quay đầu về núi”, làm sao có thể rời bỏ mẹ cha, ruồng bỏ quê hương. Làm sao có thể phỉ báng quê hương, đất mẹ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi dưỡng dục mình lớn lên. Người phụ bạc với đất mẹ, với Tổ quốc thì còn bước đi đâu mà không phải cúi đầu, còn gì liêm sỉ để ngẩng lên mà nhìn người khác?

Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 24/4


“Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”
Đây là lời dạy được trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á-Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng-người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quan trọng mà Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo còn nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.
Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động CTĐ, CTCT, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt, được đào tạo cơ bản với hơn 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch… của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành cũng đã tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật; khắc phục được một bước những sơ hở, bất cập làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Có thể khẳng định, cho đến nay, các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã tương đối đầy đủ; cái cần nhất lúc này là sự tự giác, sự thống nhất cao về ý chí và hành động, là tổ chức thực hiện. Chúng ta phải khắc phục bằng được tình trạng mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra và tại nhiều Hội nghị quán triệt, triển khai các nghị quyết, quy định của Đảng, đó là tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, “rằng hay thì thật là hay, xem ra thực hiện còn gay trăm bề”.

Tăng cường công khai, minh bạch, giám sát, kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực.

Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực. Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình càng tốt thì càng tạo điều kiện cho các chủ thể giám sát có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không có vùng tối, vùng trống, vùng cấm trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường giám sát, kiểm soát việc sử dụng quyền lực, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo các cấp.

Tăng cường việc kiểm soát tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác, xử lý trách nhiệm người đứng đầu; thanh toán không dùng tiền mặt; sửa đổi, ban hành chế độ, định mức, tiêu chuẩn; cải cách chính sách tiền lương, thu nhập; nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức... đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

NXV




Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta.

Do vậy, cần nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá:

Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau:

Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp, vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo...

Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.

Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng.

Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước”.

Ba là, tính tới nay, theo Cục An ninh Nội địa (Bộ Công an), Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung...

Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.

Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. CST