Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

NGƯỜI TREO CỜ TRONG TRẠI DAVIS TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT SÁNG 30-4-1975


Suốt mấy chục năm công tác ở Văn phòng Chính phủ, ít ai biết, ông là chàng thanh niên Phạm Văn Lãi đã trèo lên tháp nước treo lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong trại Davis, sân bay Tân Sơn Nhất sáng 30-4-1975....
Ông Phạm Văn Lãi, nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ đã nghỉ hưu về sống ở quê nhà xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình hơn chục năm nay. Suốt mấy chục năm công tác ở Văn phòng Chính phủ, ít ai biết, ông là chàng thanh niên Phạm Văn Lãi đã trèo lên tháp nước treo lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong trại Davis, sân bay Tân Sơn Nhất sáng 30-4-1975. Đây là nơi cao nhất phía cuối sân bay lúc bấy giờ ở TP Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh).
Tôi có may mắn nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện và được cùng ông ôn lại những ký ức làm nhiệm vụ ở trại Davis năm 1975. Ông kể: "Sáng 30-4-1975, súng nổ ran bốn bề, tiếng AK, B40, B41 và DKZ nổ đanh từng loạt mỗi lúc càng gần. Lính ngụy trong sân bay tháo chạy hỗn loạn, nhưng vẫn có những nhóm tàn quân ngoan cố chống cự gây khó khăn cho lực lượng Quân Giải phóng.
Trong bối cảnh đó, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng phái đoàn đại biểu quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hội ý nhanh là phải treo được cờ lên cao để bắt liên lạc với bộ đội ta, giúp quân ta biết đúng vị trí của trại Davis, tránh nhầm lẫn đáng tiếc và cũng là làm nhụt ý chí của bọn tàn quân ngụy ngoan cố. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn quay sang giao nhiệm vụ ngắn gọn, đại ý là: "Đồng chí Lãi trèo lên tháp nước treo cờ, nhanh. Một đồng chí khác hỗ trợ cho đồng chí Lãi".
Nhận lệnh, chiến sĩ Lãi người gầy gò, dáng mảnh khảnh lao ra chân tháp và nhanh chóng trèo lên cao. Gió to và sự hồi hộp cũng làm khó anh một lúc. Nhưng rồi mọi chuyện cũng xong. Cờ bay phần phật trên cao. Người lính trẻ tụt xuống chân tháp trong vòng tay của những sĩ quan lớn tuổi, tất cả không cầm được nước mắt hạnh phúc. Thế là mấy năm chiến đấu trong lòng địch vì mục tiêu chung thống nhất đất nước đầy hiểm nguy đã gần đến hồi kết thắng lợi. Lúc ấy khoảng gần 10 giờ sáng 30-4-1975. Trong sân bay là cảnh hỗn loạn, ngổn ngang. Hai nhà kho và mấy chiếc máy bay, xe tăng đang cháy khói lên ngùn ngụt cao vài chục mét. Xung quanh tiếng súng gần hơn, thưa dần.
Một lúc sau, có một tốp bộ đội Quân Giải phóng tiến nhanh đến cổng trại Davis, quần áo và trên mặt các anh còn bám đầy bụi và tàn khói súng. Đây là đơn vị có nhiệm vụ tiến vào bảo vệ Phái đoàn Quân sự của ta, đề phòng bất trắc nếu địch có động thái xấu. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn dẫn cả hơn 40 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ của phái đoàn ra đón. Tất cả ôm nhau trong nước mắt lẫn tiếng cười, tiếng nấc. Những lời hỏi thăm ngắn gọn, vội vã. Nhiều nhất là hỏi thăm quê để tìm đồng hương, để hy vọng ai đó biết được chút thông tin về gia đình, về làng mình. Đấy là tâm trạng người lính chiến, rất tự nhiên.
Đơn vị nhận nhiệm vụ vào bảo vệ Phái đoàn Quân sự của ta ở trại Davis là Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nửa đỏ nửa xanh cũng được đơn vị treo lên tháp nước bên cạnh lá cờ đỏ sao vàng. Sau đó, Trưởng phái đoàn dẫn chỉ huy Đại đội 9 đi thăm hệ thống phòng thủ của phái đoàn trong trại, gồm phòng ẩn nấp, công sự chiến đấu, hào cơ động giữa các nhà. Đồng chí nói: "Chúng tôi đã chuẩn bị cho phương án, nếu địch thủ tiêu đoàn thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ mình nếu các đồng chí chưa đến kịp... Mừng chiến thắng, phái đoàn xin tổ chức khao quân". Lễ ăn mừng diễn ra nhanh gọn với thịt hộp, bia Trúc Bạch, thuốc lá Điện Biên, chè Hồng Đào.
Cũng trong mấy ngày ngắn ngủi cùng bộ đội Đại đội 9 ở trại Davis, anh em cán bộ của Phái đoàn biết thêm những hy sinh không nhỏ của Trung đoàn 24 trong buổi sáng 30-4 trước khi vào đến sân bay Tân Sơn Nhất.
Ông Lãi cho biết, sau ngày hòa bình, mỗi khi đi công tác, có điều kiện, ông đều dành thời gian thăm lại khu vực trại Davis cũ nay đã có nhiều thay đổi và thắp hương tưởng nhớ những cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng của Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 thuộc cánh quân hướng Tây Bắc tiến vào giải phóng Sài Gòn đã không may hy sinh ngay trước giờ toàn thắng của dân tộc.
NGUYỄN NHÂN TỎ - Báo QĐND
Ảnh 1: Đồng chí Phạm Văn Lãi và đồng đội treo cờ trên tháp nước trong trại Davis sáng 30-4-1975. Ảnh tư liệu
Ảnh 2: Ông Phạm Văn Lãi (bên phải) và đồng đội tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày ký Hiệp định Paris (1973-2023). Ảnh do nhân vật cung cấp

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975


Chiến thắng 30/4/1975, là một sự kiện trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX, đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực, cường quyền; là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc.
1. Chiến thắng 30 – 4, giá trị lịch sử trường tồn mãi với thời gian. Chiến thắng 30 – 4 đã qua đi 48 năm, nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn trường tồn mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Ca ngợi, đánh giá tích cực đối với sự kiện này, luôn là chiều hướng chủ đạo, được thế giới quan tâm, thừa nhận trong suốt những năm qua. Chúng ta đều biết, lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh, nhưng chưa bao giờ dân tộc ta lại phải đương đầu với đội quân xâm lược hơn hẳn ta về nhiều phương diện như đế quốc Mỹ. Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược thực sự là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nhân dân, quân đội Việt Nam. ­Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là một trong những mốc son vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX, bản thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh, được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, xem đó như một biểu tượng của tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược.
2. Sự thất bại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một tất yếu không thể tránh khỏi. Thực tế, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ khởi xướng có sự tiếp tay của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đã thất bại thảm hại vào 30/4/1975 là một tất yếu không tránh khỏi. Nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn tới thất bại, trước hết, đó là một cuộc ch.i.ến tra.nh phi nghĩa, vô cùng tàn bạo. Từ lâu, Mỹ đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn chiến lược, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Họ cần có một chính phủ chống Cộng, biết nghe lời và phục vụ đắc lực cho mưu đồ bá chủ thế giới. Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, trong khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình, thì ngay từ đầu, Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm, sau đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu đã rắp tâm tìm mọi cách chia cắt, phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước. Các yêu cầu đàm phán, tiến tới Tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam – Bắc liên tiếp được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra nhưng đều bị từ chối. Thay vào đó, các chiến dịch lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, những đảng viên Cộng sản, những ai mong muốn thống nhất đất nước. Tiếp đó, các chiến lược: “Ch.i.ến tr.a.nh đặc biệt”, “Chi.ến tr.anh cục bộ” và “Việt Nam hóa chi.ến tra.nh tàn phá miền Nam, tiêu diệt phong trào đấu tranh của quần chúng, nhằm thực hiện mưu đồ áp đặt cai trị của chúng.
Đã từng phải chịu đựng những thử thách, hy sinh bởi chiến tranh, chia rẽ vùng miền và sự thống trị của ngoại bang, nên hơn ai hết, người dân Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam đã tranh thủ mọi thời cơ để gìn giữ, bảo vệ những giá trị đó, nhưng Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã chà đạp, phá hoại những nguyện vọng thiêng liêng chính đáng của nhân dân Việt Nam, buộc chúng ta không còn lựa chọn nào khác là phải tiếp tục chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua hơn 20 năm, vượt qua vô vàn gian khổ, h.y si.nh, dân tộc Việt Nam đã chiến thắng một đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng hậu hàng đầu thế giới.
3. Lịch sử là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vậy mà vẫn còn những tiếng nói lạc lõng cố tình phủ nhận sự thật lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến, thù địch. Tìm cách đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã không tiếc m.áu xương h.y si.nh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Ch.iến tr.anh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng cả thế giới đã ghi nhận. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó, có cả các quốc gia từng trực tiếp tham gia chi.ến tra.nh xâm lược Việt Nam, nay cùng hợp tác, phát triển. Thế nhưng, vẫn còn một số người, mỗi khi đến dịp 30/4, họ lại tìm cách khuấy lên sự thù hận với các lý lẽ, luận điệu phi lý, ngụy biện, sống sượng xung quanh vấn đề tính chất của cuộc chi.ến tra.nh. Sự can thiệp trắng trợn, vô nhân đạo của đế quốc Mỹ vào chủ quyền của dân tộc Việt Nam được họ coi là một hành động để bảo vệ nền dân chủ. Những người theo chân Đế quốc Mỹ phản bội Tổ quốc, tàn sát đồng bào mình lại được họ coi là một sự lựa chọn đúng, là một lý tưởng cao đẹp. Họ cố tình đặt điều, lấp liếm cho hành động xâm lược, rằng: miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến. Có người còn cho rằng: không cần phải phát động chi.ến tra.nh, không cần phải h.y si.nh xương m.áu đồng bào một cách vô nghĩa, đến một lúc nào đó thực dân đế quốc tự phải trả lại chủ quyền đất nước, v.v.. Thật là xằng bậy! Sự ngụy biện tùy tiện, đổi trắng thay đen diễn ra ở một số người tự xưng là “có tâm với nước, với dân”, thật là đê tiện, không biết hổ thẹn. Tuy nhiên, chân lý chỉ có một, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước đo chân lý chuẩn xác, bác bỏ mọi xuyên tạc sai sự thật.
Nguồn: Báo VnExprees
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'CHIẾN DỊCH HÃ CHÍ MINH LỊCH SỬ Bản hùng ca bất diệt'

ĐẤU TRANH LOẠI BỎ BỆNH “THEO ĐUÔI QUẦN CHÚNG”


Câu nói “đảng viên đi trước làng nước theo sau”, ý nói cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) là những người luôn tiên phong, gương mẫu, mạnh dạn đi đầu trong mọi công việc, “đứng mũi chịu sào”, trăn trở, chăm lo cho cuộc sống nhân dân, chỉ khi nào nhân dân yên vui, hạnh phúc, lúc đó bản thân mới thảnh thơi để hưởng “cái vui sau thiên hạ”. Đây chính là bản chất của mối quan hệ không thể tách rời giữa đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, do lối sống ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, “nói không đi đôi với làm”, thậm chí còn “làm màu mị dân” của một bộ phận CB, ĐV, dẫn đến không chỉ xa rời nguyên tắc, mà còn “theo đuôi quần chúng”. Đây chính là căn bệnh nguy hiểm, cần nhận biết và kiên quyết loại bỏ.
Tác hại từ việc “ăn theo nói leo”
Nếu dư luận tạo ra hiệu ứng số đông theo xu hướng tích cực, nó có sức mạnh liên kết, thôi thúc, khích lệ mọi người cùng hướng đến những hành động tốt đẹp cho xã hội. Cụ thể có rất nhiều việc làm tốt, có giá trị nhân văn được một cá nhân hoặc tập thể đưa ra ý tưởng, sau đó lôi kéo theo nhiều cá nhân, tập thể khác thực hiện, giống như một đốm lửa nhỏ bùng lên thành một ngọn lửa lớn, ví như các phong trào thiện nguyện, ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng lụt bão, hay giúp đỡ các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, mặt tiêu cực của nó cũng vô cùng ghê gớm, nếu không được kiểm soát.
Chắc hẳn chúng ta đã từng chứng kiến, không ít các tình huống, các sự việc mà một cộng đồng khá đông dân chúng rầm rộ chỉ trích một điều chưa rõ thực hư, hay bênh vực một số hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm chuẩn mực đạo đức truyền thống của ai đó, một cách đầy cảm tính mà không dựa trên kỷ cương, pháp luật Nhà nước. Điển hình là hô hào biểu tình, đập phá ở các khu công nghiệp Bình Dương, ở Hưng Yên; rồi ủng hộ tiền “Tổ đồng thuận” ở Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức; hay dậy sóng dư luận về một ca sỹ giới thiệu sắp cho ra mắt bộ phim “Ông hoàng nhạc Việt”; hoặc phản đối chủ trương chỉnh trang đô thị, lấy lại vỉa hè cho người đi bộ của thành phố Hà Nội…
Điều đáng buồn hơn là khi “yêu” hoặc “ghét”, hay phản đối quy định, chính sách nào đó của chính quyền, họ sẵn sàng lên mạng kêu gọi để mạt sát, xúc phạm, rồi thì nhân danh bảo vệ “người yếu thế” một cách vô lối mà không biết rằng nhiều khi đang cổ xuý cái ác, cái tiêu cực, làm hại chính người mà họ bênh vực.
Thông qua một số sự việc, hiện tượng xảy ra gần đây, có một điều rất đáng quan tâm là sự a dua, hùa theo đám đông, trong đó có cả một số CB, ĐV. Biểu hiện rõ nhất ở CB, ĐV này là, có những phát ngôn “theo đuôi quần chúng”, đặt lợi ích trước mắt của một bộ phận quần chúng lên trên dù không đúng với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa ra những quan điểm, thông tin, phát biểu “gây bão” phù hợp với lợi ích cục bộ và tâm lý của một bộ phận quần chúng về các vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm; tập trung khoét sâu vào những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của chính quyền trong công tác quản lý nhà nước, nhằm tạo sự chú ý của truyền thông tung hô, tạo ảnh hưởng lớn đến quần chúng.
Đồng thời đi đôi với đó, là “ve vuốt”, ca ngợi, phỉnh nịnh dân, coi việc gì quần chúng nhân dân làm cũng hay, lời nào của dân cũng đúng, nhằm tranh thủ, lợi dụng sự ủng hộ của nhân dân hòng tiến thân trên con đường danh lợi cá nhân. Dù mạnh miệng ủng hộ quần chúng, nhưng phía sau những CB, ĐV này chỉ nói chứ không đi đôi với làm, không triển khai được các giải pháp để thực hiện, không dám đấu tranh hoặc không dám ra quyết định vào thời khắc quan trọng theo thẩm quyền, trách nhiệm của mình, đúng như Lê-Nin đã chỉ ra là “theo đuôi quần chúng”.
Lắng nghe học hỏi, chứ không phải “theo đuôi”
Gần dân, lắng nghe nhân dân là điều không thể thiếu của người CB, ĐV, đây không chỉ là yêu cầu, mà còn nằm trong phương thức lãnh đạo của Đảng, bởi vì gần dân mới thấu hiểu được những thuận lợi, khó khăn, để từ đó có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, giúp dân ấm no, hạnh phúc, chứ không phải gần dân để “theo đuôi quần chúng”. Niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng, bởi tài sức của dân khi ở dạng tiềm năng, muốn chuyển hóa thành sức mạnh vật chất vô song trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì Đảng phải biết lắng nghe và học hỏi, phải biết hy sinh, cống hiến hết mình để phục vụ nhân dân.
Để giúp phân biệt giữa việc lắng nghe, học hỏi với “theo đuôi quần chúng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “…dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Do vậy, cho dù phần đông nhân dân đều rất tốt, biết “điều hay, lẽ phải” và hết lòng tin yêu Đảng, nhưng vẫn có một bộ phận dân chúng, do trình độ hạn chế, ít hiểu biết về pháp luật, lại có phần “nhẹ dạ” nên có thể bị một số đối tượng phản động lôi kéo, kích động, làm nảy sinh trong họ những suy nghĩ chưa đúng, những đòi hỏi và hành động cực đoan, quá khích.
Vì thế, Người nhấn mạnh, cán bộ phải biết lắng nghe dân, nhưng “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”, mà phải có sự so sánh, phân tích kỹ lưỡng các ý kiến khác nhau của quần chúng nhân dân để “chọn lấy ý kiến đúng” và chuyển hóa thành chủ trương, đường lối phù hợp. Nên trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết: Dân chúng rất khôn khéo, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng… Mỗi khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. Người cán bộ phải có tác phong quần chúng, sâu sát, tin yêu, tôn trọng quần chúng, bởi Đảng là từ quần chúng mà ra, vừa lãnh đạo vừa giáo dục lại vừa thường xuyên học hỏi quần chúng. Lắng nghe ý kiến quần chúng nhưng tuyệt đối không nên “theo đuôi” quần chúng.
Do đó, để trang bị cho CB, ĐV thế giới quan, phương pháp luận, nhìn nhận bản chất sự vật, hiện tượng một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể; phân biệt rõ đúng sai, giúp CB, ĐV gần dân, biết lắng nghe, học hỏi từ nhân dân, khắc phục căn bệnh “làm màu” gần dân, “theo đuôi quần chúng”. Cấp ủy, các tổ chức Đảng cần làm tốt việc quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhất là tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức cho CB, ĐV về tư cách đạo đức, vai trò tiền phong, gương mẫu trong sinh hoạt, học tập và phát ngôn của người đảng viên.
Đồng thời, phải thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ tranh chấp, khiếu kiện đông người, phức tạp, không để tạo các dư luận xã hội bức xúc.
Uy quyền có thể làm người ta sợ chứ không thể làm người ta tin yêu, muốn nhân dân tin yêu thì cán bộ “phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Vì vậy, đối với mỗi CB, ĐV phải phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu, trong mỗi hành động và việc làm, phải ý thức rằng, bất kể từ việc lớn đến việc nhỏ, cử chỉ, hay phát ngôn của bản thân đều được nhân dân rất coi trọng, tin tưởng làm theo.
Do đó, CB, ĐV khi đứng trước một sự việc, hay một dư luận nào đó, cần bình tĩnh, tỉnh táo, nhìn nhận đánh giá một cách thấu đáo, để có hành động và phát ngôn phù hợp; những vấn đề nhân dân còn chưa hiểu rõ phải kiên trì giải thích, thuyết phục bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Từ đó, chuyển nhận thức của quần chúng lên thành tự giác, tạo sự đồng thuận đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân.
QĐND
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
18

NÓI GÌ ĐI NỮA THÌ CŨNG KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỢC VAI TRÒ CỦA ĐẢNG TA!

Vốn dĩ sinh ra đã là người bộc trực, thẳng thắn nên nhiều khi thấy những chuyện chướng tai, gai mắt thì không thể im lặng, làm ngơ. Âu vẫn là cái bản tính từ hồi còn trẻ chẳng thể nào thay đổi. Vì vậy mà khi đọc bài “Phản biện quan điểm của anh Đoàn Bảo Châu về Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp” trên trang Facebook của Nguyễn Văn Đài (NVĐ) tôi thấy cần lên tiếng để bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của cá nhân mình.

NVĐ nói rằng: “Tôi lần tìm nguyên nhân Việt Nam nghèo, không có tự do và dân chủ. Hóa ra hồ chí minh, võ nguyên giáp và đảng CSVN là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Nếu không có hồ chí minh và võ nguyên giáp thì đất nước Việt Nam sẽ đi theo một hướng đi khác, không bị chế độ độc đảng CSVN cai trị gần 80 năm qua. Bởi sự cai trị của độc đảng CSVN mà tham nhũng trở thành quốc nạn, giặc nội xâm của đất nước và dân tộc Việt Nam. hồ chí Minh và võ nguyên Giáp không phải là người yêu nước, họ chỉ là những người yêu quyền lực, họ coi đất nước và Nhân dân là nơi để thể hiện tham vọng quyền lực của họ. Dùng xương máu của Nhân dân để xây đắp quyền lực cho họ. Với tôi, cả hồ chí Minh và võ nguyên Giáp đều là những tội đồ của đất nước và Nhân dân Việt Nam. Họ không đáng được tôn trọng mà đáng bị lên án”.

Thứ nhất, nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Có lẽ khi nhắc đến tên Người thì hầu hết mọi người dân Việt Nam đều dành cho Người những tình cảm trân quý nhất, khó có thể diễn tả hết được thành lời. Mặc dù với cương vị cao nhất, Chủ tịch nước, nhưng nhân dân Việt Nam, từ người già đến trẻ em, từ đàn ông đến phụ nữ hay chiến sĩ, đồng bào, đồng chí thì gần như tuyệt đối đều dành cho Người sự kính trọng, trân quý nhất. Người đã giành cả cuộc đời mình để hi sinh cho Tổ quốc, cho dân tộc, gác lại mọi ước mơ, hoài bão và những nhu cầu chính đáng của bất cứ người trẻ tuổi nào cũng được quyền có để vì một mục đích duy nhất, đó là tìm cho được “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Người đã bôn ba khắp năm châu, bốn biển, không nề hà làm những công việc vất vả, nặng nhọc, vượt qua tất cả những điều kiện, hoàn cảnh vô cùng khó khăn, khắc nghiệt và không ít lần bị bắt giam, tra tấn, tù đày nhưng vẫn vẫn kiên định, quyết tâm một chí hướng duy nhất tìm cho ra con đường để giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc khỏi áp bức nô lệ. Và cuối cùng Người đã thực hiện được mục tiêu, lí tưởng của mình, thành lập ra Đảng CSVN và đã lãnh đạo cách mạng Việt nam giành lại độc lập, chủ quyền cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân, đưa đất nước vượt qua những khó khăn thử thách để phát triển đi lên. Có thể nói, cả cuộc đời, chưa khi nào Người nguôi quên nghĩ về vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Ngay cả khi bị bệnh, Người vẫn đau đáu một điều lo cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và cuộc sống của đồng bào cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ là một vị lãnh tụ tài ba, đức độ, mà Người còn là vị cha già của dân tộc, với sự quan tâm, ân cần không gì khác ngoài việc “yêu thương tất cả, chỉ quên mình”. Chính những cống hiến, hi sinh và đạo đức, cốt cách của Người nên không chỉ có nhân dân Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế cũng luôn dành cho Người sự kính trọng và trân quý. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ.. Và tôi chắc chắn một điều rằng, cho dù có những phần tử hay thế lực thù địch nào đó cố tình xuyên tạc, nói xấu nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh thì tên tuổi và sự nghiệp của Người vẫn sẽ còn mãi với non sông đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Thứ hai, nói về đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chắc có lẽ tên tuổi của Đại tướng không còn xa lạ gì với người dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế. Được ví là người Anh cả của QĐND Việt Nam, Tổng Tư lệnh “văn võ song toàn”, “đức tài trọn vẹn”. Cả cuộc đời với hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tên tuổi Đại tướng gắn liền với sự ra đời, chiến đấu, trưởng thành của QĐND Việt Nam, và đặc biệt là với thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Cá nhân tôi cũng như nhân dân Việt Nam trân trọng Đại tướng không chỉ ở tài thao lược nơi chiến trường mà còn là ở đức đề cao tính nhân văn, coi trọng tính mạng quân sĩ, đau với từng vết thương của người lính, tiếc từng giọt máu của chiến binh. Tình yêu thương con người của Đại tướng được hòa quyện với tình yêu quê hương, đất nước, để lại trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế hình ảnh về một nhà lãnh đạo, nhà chính trị đức độ, tài năng, một nhà hoạt động thực tiễn xuất sắc, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, suốt đời hy sinh vì quân đội, vì đất nước, vì nhân dân. Đại tướng là tấm gương về “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”; với sự hội tụ đầy đủ các tiêu chí: Người tổ chức, xây dựng quân đội; người đánh trận giỏi; nhà lý luận quân sự xuất sắc; nhà lãnh đạo chính trị tài ba, mẫu mực… Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nhân dân hết lòng kính trọng suy tôn là “Đại tướng của nhân dân”; cán bộ, chiến sĩ quân đội mến phục suy tôn là “Người Anh Cả” của QĐND Việt Nam, xứng đáng là “Tư lệnh của các tư lệnh, Chính ủy của các chính ủy, Tướng của các tướng và Thầy của các bậc thầy quân sự”.

Thứ ba, nói về Đảng CSVN: Về điều này, có lẽ không cần luận bàn nhiều vì thực tiễn đã chứng minh từ khi Đảng CSVN ra đời đã lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập chủ quyền của đất nước, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, nô lệ của thực dân, đế quốc. Với thắng lợi vĩ đại của các cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) là minh chứng hùng hồn và chân thực nhất cho vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại. Sau khi đất nước thống nhất, Đảng CSVN tiếp tục thực hiện vai trò, sứ mệnh của mình, đề ra những chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn thử thách để phát triển đi lên. Không cần nói hoa mỹ làm gì, cũng chẳng cần phải tô vẽ hay ngụy biện nhưng hãy nhìn vào thực tiễn của đất nước, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nay đã phát triển và khẳng định vị thế trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. Và hơn hết là chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng lên, mọi mặt của đất nước đổi thay từng ngày. Đó là minh chứng không thể phủ nhận về vai trò của Đảng CSVN đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Tóm lại: Những phần tử cực đoan hay thế lực thù địch có dùng mọi chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, nói xấu về Đảng, về Chủ tịch Hồ chí Minh hay cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước thì điều đó càng làm lộ rõ hơn bản chất, ý đồ đen tối của họ là nhằm để gây rối, chống phá Đảng, Nhà nước ta mà thôi./.
Yêu nước ST.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ


Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Ở thời điểm lịch sử của Người, công tác cán bộ đã được hoạch định một cách khoa học và hiệu quả. Tìm hiểu, vận dụng hợp lý những tư tưởng của Người về công tác cán bộ là điều kiện để chúng ta thực hiện tốt công tác cán bộ, đồng thời cũng là để ghi tạc và phát huy những bài học quý báu mà Bác đã để lại cho Đảng và Nhân dân.
Cán bộ là ai?
Người đưa ra quan điểm có tính chất nền tảng xuyên suốt: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể. Có vốn thì mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”; hoặc “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”. Như vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ là vô cùng quan trọng trong toàn bộ sự vận hành của một xã hội.
Lựa chọn, cất nhắc cán bộ
Trong công tác cán bô, khâu lựa chọn, cất nhắc cán bộ phải được đặt lên hàng đầu. Theo Bác, lựa chọn cán bộ như khâu chọn giống, nếu giống tốt ắt cây sẽ tốt.Việc lựa chọn cán bộ phải dựa vào các tiêu chí: “Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh. Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn… Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn. Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật”.
Theo Người, “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên, thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”.
Để công tác cán bộ mang tính khách quan và tạo động lực lan tỏa, Người cho rằng: “Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất đinh chạy”.
Yêu cầu về phẩm chất, năng lực. Trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn”. “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”; “Phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”; “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là: ham học, ham làm, ham tiến bộ”.
Không ít lần, Bác lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”. Do vậy, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”. Người cán bộ phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trung thành ở đây trước hết đòi hỏi cán bộ phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; “vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi”. Cũng theo quan điểm của Người, chỉ có lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà người cán bộ còn phải có tri thức nữa.
Sử dụng cán bộ
Người đưa ra quan điểm dùng cán bộ đúng với năm nội dung cơ bản: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể có thái độ và tinh thần chí công vô tư đối với cán bộ, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với những người mà mình không ưa. Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những cán bộ còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, cán bộ mới vui lòng gần gũi mình”.
Bác cho rằng: “Dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”. Người cũng dặn dò rằng: “Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ”.
Theo Bác, điều kiện cần cho sự thành công ở các vị trí công việc là đặt cán bộ ở đúng vị trí của họ: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”; “Đảng ta gồm có hàng triệu người, hàng vạn cán bộ. Trong đó, sĩ, công, nông, thương, binh đều có. Từng lớp xã hội khác nhau, trình độ, văn hóa khác nhau; tính tình cá nhân cũng không giống hệt. Sao cho đối đãi đúng với mọi người? Đó là một vấn đề rất trọng yếu”.
Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà ch.án gh.ét những người chính trực; Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình”. Bác phê phán căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, coi đó như một thứ “vi trùng rất độc”, nó là thứ “bệnh mẹ”, “do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Đào tạo cán bộ
"Sửa đổi lối làm việc" là một tác phẩm thể hiện khá toàn diện những tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh về vấn đề "nuôi dạy cán bộ", lựa chọn cán bộ, dùng cán bộ và chính sách đối với cán bộ. Người chỉ rõ: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Theo Bác, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. “Không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm, mà đào tạo được một người cán bộ tốt. Nhưng cần phải công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được. Trái lại, trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ”.
“Phải giải thích rõ ràng, làm cho họ tự trông thấy, tự nhận rõ sai lầm, làm cho họ vui lòng sửa đổi, chứ không phải bị c.ưỡng b.ức mà sửa đổi”.
Bác căn dặn: Phải yêu thương cán bộ, “Nhưng yêu thương không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Yêu thương là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm… Luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay…”.
Đánh giá cán bộ
Người có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể trong công tác đánh giá cán bộ: Đánh giá cán bộ: “trong thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của người cũng biến hóa. Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa… Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau”; “Xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ…”. “Phê bình cán bộ” tức là thái độ ứng xử đối với cán bộ khi họ có sai lầm, khuyết điểm. Quan điểm nền tảng của Hồ Chí Minh ở đây là “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chính vì thế, người cán bộ không sợ sai lầm và khuyết điểm. Vấn đề là ở chỗ họ có nhận ra và cố gắng sửa chữa sai lầm, khuyết điểm không, và người lãnh đạo có tìm ra cách giúp cán bộ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm không.
Giải pháp về công tác cán bộ
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, kể từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã không ngừng quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yều cầu của từng giai đoạn cách mạng.
Một trong những nội dung rất quan trọng trong phương hướng công tác xây dựng Đảng được Đại hội XIII của Đảng thông qua đó là: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung…”.
Để góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cần nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển của cơ quan, đơn vị. Hằng năm, các cấp ủy đảng phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể, rà soát và tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu công tác của cơ quan, đơn vị. Coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá cán bộ hằng năm.
Thứ hai, quy định vị trí việc làm để chuẩn hóa các điều kiện của cán bộ ở mọi vị trí công việc và có quy trình nâng cao dần điều kiện vị trí việc làm phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cũng như yêu cầu của công việc.
Thứ ba, tăng cường kiểm soát quyền lực cán bộ. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đội ngũ cán bộ không dám, không thể, không muốn lạm quyền, lộng quyền.
Thứ tư, tạo điều kiện và thực hiện tốt chính sách thu hút, trọng dụng, sử dụng nhân tài. Quy trình tuyển dụng mọi vị trí việc làm trong hệ thống chính trị cần được minh bạch, công khai và công bằng.
Thứ năm, cần xây dựng quỹ nhân tài (của Nhà nước hoặc xã hội hóa bằng nguồn vốn của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước) để góp phần khơi dậy, phát huy tinh thần sáng tạo của các cá nhân kiệt xuất.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là kết tinh truyền thống dùng người của ông cha ta trong lịch sử, là đỉnh cao của “nghệ thuật” hay “phương sách” dùng người - bí quyết thành công của sự nghiệp cách mạng.
Đó là tư tưởng vĩ đại đầy tính nhân văn và khoa học. Ngày nay, những tư tưởng đó đã trở thành những bài học, những nguyên tắc trong công tác cán bộ của Đảng. Nhờ đó mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được hiền tài, đã thu hút được các nhân sỹ yêu nước, đã thu hút được tất cả các lực lượng đoàn kết xung quanh Đảng, đưa đến thành công của cách mạng Tháng Tám vĩ đại, thắng lợi Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đại thắng mùa Xuân 1975 hào hùng.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là những tư tưởng tiến bộ, khoa học và nhân văn, là chìa khoá, kim chỉ nam cho chúng ta học tập, kế thừa và phát huy trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh. Các thế hệ cán bộ, công chức, Đảng viên vừa thấm thía những bài học vô giá của Người, vừa nguyện hết lòng phấn đấu, hi sinh cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mãi giữ vững niềm tin và tình cảm dành cho lãnh tụ kính yêu.
Tiến sĩ: Vũ Tiến Dũng - Nguyễn Thị Lương Thiện, (Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội)
Tạp chí Cộng sản

BỮA CƠM CUỐI CÙNG CỦA THIẾU TA VỚI VỢ VÀ LỜI DẶN TRƯỚC LÚC ĐI XA


Trước khi lên đường làm nhiệm vụ, Thiếu tá Nguyễn Xuân Hào, cán bộ Đội CSGT-Công an huyện Đức Hòa có bữa ăn sáng với vợ và dặn: "Anh đi công tác, em đừng gọi sẽ ảnh hưởng đến công việc". Không ngờ đó là lần chia tay vợ, anh đã ra đi vĩnh viễn. Thiếu tá Hào hy sinh khi tham gia trong chuyên án truy bắt các đối tượng vận chuyển ma túy trên đường tỉnh 824, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa (Long An) chiều 21/4...
Ngày 22/4, Thượng tá Đinh Thế Anh, Phó Cục trưởng Cục CSGT - Bộ Công an cùng đoàn công tác đã đến chia sẻ, động viên và chia buồn cùng với gia đình Thiếu tá Nguyễn Xuân Hào, cán bộ Đội CSGT Công an huyện Đức Hòa (Long An), hy sinh khi phối hợp với Cục Cảnh sát PCTP về ma túy - Bộ Công an chặn bắt 2 đối tượng vận chuyển ma túy trên đường tỉnh 824, đoạn qua xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa vào chiều 21/4.
Đoàn công tác do Thượng tá Đinh Thế Anh dẫn đầu đã đến thắp nén nhang viếng Thiếu tá Nguyễn Xuân Hào hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ và động viên gia đình vơi bớt nỗi đau, bởi sự hy sinh của Thiếu tá Hào trên hành trình truy bắt tội phạm ma tuý rất đáng tự hào, trân quý.
“Đây là sự hy sinh mất mát không chỉ của gia đình mà của cả lực lượng CSGT. Mọi chuyên án đều có kế hoạch từ trước, cán bộ được điều động tham gia chuyên án đều có chuyên môn giỏi nhưng với các đối tượng manh động, nhất là các đối tượng liên quan đến vận chuyển ma túy thì tính chất manh động càng lớn hơn...” –Thượng tá Đinh Thế Anh chia sẻ.
Được biết Thiếu tá Nguyễn Xuân Hào là con trai duy nhất trong gia đình có 3 anh chị em. Cả gia đình làm nông, riêng Thiếu tá Hào từ nhỏ đã đam mê màu áo CAND và quyết tâm phục vụ trong ngành. Trong gần 14 năm phục vụ trong ngành CAND, Thiếu tá Hào đã kinh qua nhiều vị trí công tác, từ Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế và Chức vụ-Công an huyện Đức Hòa rồi thuyên chuyển qua công tác tại Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, sau đó công tác tại Tổ phòng chống tội phạm thị trấn Hậu Nghĩa-Công an huyện Đức Hòa. Năm 2014 đến năm 2018, Thiếu tá Hào công tác tại Tổ hình sự-kinh tế-ma túy Đồn Công an KCN Tân Đức. Đến tháng 5/2018, Thiếu tá Hào nhận nhiệm vụ tại Đội CSGT huyện Đức Hòa cho đến nay.
Túc trực tại đám tang, Thượng tá Võ Văn Tạo, Phó Trưởng Công an huyện Đức Hòa cho biết: “Trong suốt thời gian công tác tại Công an huyện Đức Hòa, Thiếu tá Hào luôn tận tụy với công việc, được đồng đội yêu mến. Sự hy sinh của Thiếu tá Hào khiến đồng đội đau xót, tiếc thương. Vì hoàn cảnh gia đình của Thiếu tá Hào rất khó khăn nên Ban Giám đốc Công an tỉnh Long An đã quyết định trợ cấp đột xuất cho thân nhân Thiếu tá Hào.
Ngồi lặng lẽ bên chiếc áo quan, chị Trần Thị Phương (SN 1988, vợ Thiếu tá Hào) đau xót, không tin được vào việc người chồng bỏ lại chị một mình mà ra đi một cách đột ngột. Buổi sáng trước khi cùng đồng đội tham gia chuyên án, Thiếu tá Hào chỉ kịp ngồi ăn sáng với vợ một lúc rồi lên đường. “Ảnh dặn là đi công tác có gì ảnh chủ động gọi, đừng gọi ảnh làm ảnh hưởng đến chuyên án. Không ngờ đây là lần cuối cùng tôi được ngồi ăn chung và nghe lời chồng căn dặn!”-chị Phương đau xót.
Buổi chiều 21/4, sau khi đi dạy học về, chị Phương tất tả đi chợ mua đồ ăn về nấu cơm chiều đợi chồng về. Bữa cơm đang nấu dở thì chị Phương nhận được điện thoại của đồng đội Thiếu tá Hào: “Chị thu xếp lên bệnh viện, anh Hào bị thương nặng!”. Linh tính có chuyện chẳng lành, chị Phương buông đũa ngất xỉu tại chỗ. Không còn vững tay lái để đến bệnh viện, chị Phương phải nhờ người thân chở đi. Đến nơi, nhận hung tin, nhìn chồng lần cuối mà chị đau đớn, gục ngã. “Cưới nhau 10 năm nay, mong mỏi lớn nhất của anh Hào là vợ chồng sinh một đứa con để vui nhà vui cửa, để ông bà lớn tuổi an lòng. Vậy mà ước mơ lớn nhất của 2 vợ chồng giờ đây đã tắt lịm”-chị Phương ngậm ngùi.
Lặng lẽ nhìn các đồng đội của con trai thắp nén nhang lên bàn thờ con mình, ông Nguyễn Văn Dư (SN 1962, cha Thiếu tá Hào) buồn bã. Mặc dù ra ở riêng nhưng cứ mỗi lần rảnh rỗi, Thiếu tá Hào lại về chăm sóc cha mẹ, phụ giúp kinh tế. “Chị và em gái lấy chồng, mẹ thì bị tai biến, tiểu đường chỉ quanh quẩn trong nhà, tôi thì sức yếu việc nông cũng tạm thời gác lại, chăn nuôi nhỏ để sống qua ngày nên kinh tế mấy năm nay một tay nhờ Hào phụ lo. Nhiều chuyến công tác Hào không bao giờ nói cụ thể cho gia đình biết, chỉ nói đi là đi, bởi Hào sợ việc trong ngành lộ lọt ra ngoài ảnh hưởng đến công tác của nhiều người! Đồng đội con từ hôm qua đến nay về rất đông, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, của Cục CSGT khiến gia đình chúng tôi cũng ấm lòng, nguôi ngoai phần nào mất mát đau thương! Các đối tượng trong chuyên án bị bắt càng cho thấy sự hy sinh của con chúng tôi là có nghĩa, vì cuộc sống bình yên cho nhân dân!”, ông Dư tâm sự.
Như thông tin đã đưa, chiều 21/4, Thiếu tá Hào cùng đồng đội tham gia chuyên án chặn bắt các đối tượng vận chuyển ma túy trên đường tỉnh 824, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa. Hai đối tượng trên xe bán tải manh động không dừng phương tiện mà tông thẳng vào tổ công tác khiến Thiếu tá Hào và 2 người dân là anh Huỳnh Nguyễn Chí Mẫn (SN 1994, ngụ quận 5, TP Hồ Chí Minh) và bà Phan Thị Kim Thanh (SN 1973, ngụ quận 12, TP Hồ Chí Minh) bị thương nặng. Chiếc xe bán tải sau đó lật ngang, 2 đối tượng cố thủ bên trong xe. Mặc dù được chuyển vào bệnh viện cách đó không xa cấp cứu nhưng Thiếu tá Hào và 2 người dân không qua khỏi.
Người dân phối hợp với tổ công tác khống chế 2 đối tượng cố thủ trong xe bán tải, thu giữ một lượng lớn ma túy. Trong ngày 22/4, Cục Cảnh sát ma túy phối hợp với các đơn vị liên quan khám xét nhà của 2 đối tượng thu thêm một số ma túy được 2 đối tượng cất giấu nhiều nơi. Chuyên án ma túy này đang trong quá trình điều tra nên thông tin chưa được cung cấp cho báo chí.
Theo CAND