Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú lý luận Mác-Lê nin


Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

HAIVAN

“Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được…”

 

“Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ” là câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói tại Lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an, ngày 16-5-1959. (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG-Sự thật, 2011, tập 12, tr. 221)

Bác chỉ rõ: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù”. Bác căn dặn ngành công an muốn làm tròn nhiệm vụ “phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng chống chủ nghĩa cá nhân”, chống thói so bì đãi ngộ, chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể... Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ hơn cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù ngoại xâm, bởi nó ẩn sâu trong tư tưởng, suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân, không dễ gì nhận thấy và cũng không dễ gì đánh đổ. Việc chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính, trong đó có những cán bộ ngành công an.

Lời dạy của Bác có giá trị bền vững, có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy Nhà nước ta hiện nay. Học tập và làm theo Bác, chống chủ nghĩa cá nhân, các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là chi bộ cần coi trọng khâu giáo dục, nâng cao nhận thức, tăng cường quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn của quần chúng, để họ hiểu vào Đảng không phải là để thăng quan tiến chức mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mỗi người phải tự cảnh giác với chính mình, vượt qua được những tiêu cực, cám dỗ của lợi ích vật chất, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; cảnh giác trước sự chống phá, mua chuộc, dụ dỗ của kẻ thù.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; luôn đặt công việc, lợi ích của tập thể lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân; không ngừng nâng cao khả năng chuyên môn nghiệp vụ, làm chủ vũ khí trang bị; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác; ra sức xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; xứng đáng là người quân nhân cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

HAIVAN

BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 

Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”./.

HAIVAN

KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN, MẤT CẢNH GIÁC


Số ca Covid-19 có chiều hướng gia tăng đáng kể, tăng nhiều lần so với những tháng trước. Trong số nguyên nhân, thì nguyên nhân được chỉ ra là bệnh chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của người dân.
Theo thống kê của Bộ Y tế, kể từ đầu tháng 4, số ca Covid-19 có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt trong các ngày cuối tuần và đầu tuần qua, số ca Covid-19 được báo cáo trên hệ thống đã tăng gấp 5 - 6 lần so với trung bình 2 tháng gần đây. Số ca Covid-19 chủ yếu tập trung tại miền Bắc, cao nhất là thành phố Hà Nội. Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá thế giới vẫn đang trong giai đoạn đại dịch và cảnh báo về những biến thể mới của virus SARS-CoV-2 có thể làm cho dịch Covid-19 trở nên phức tạp và gia tăng trở lại.
Việt Nam là một trong những nước sớm khống chế được dịch Covid-19, mở cửa sớm nhất để phục hồi phát triển kinh tế, nằm trong top các nước có tỷ lệ tiêm chủng cao nhất thế giới. Tuy nhiên, chúng ta chưa công bố đã kết thúc dịch. Dịch còn nghĩa là còn người mắc. Việc miễn dịch do mắc bệnh hoặc tiêm chủng sẽ giảm dần theo thời gian, trong khi đó virus liên tục biến đổi với các biến chủng mới, biến chủng phụ tiềm ẩn khả năng lây lan nhanh, nguy cơ dịch bùng phát rất cao.
Sau thời gian dịch bệnh tạm lắng, thì sự chủ quan của người dân lại gia tăng. Ra đường chúng ta dễ dàng bắt gặp nhiều người dân không đeo khẩu trang, còn việc sát khuẩn ở nhiều nơi thì gần như không thực hiện. Cũng không ít người không muốn tiêm vắc - xin mũi 3, 4 vì cho rằng dịch bệnh đã hết.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngay cả khi chúng ta được tiêm phòng đầy đủ vẫn không được chủ quan. Để bản thân không bị mắc bệnh, chúng ta cần tiếp tục tiêm chủng đầy đủ theo đúng khuyến cáo của ngành Y tế. Người có nguy cơ cao khi đến nơi đông người, trong môi trường kín nên đeo khẩu trang. Các đối tượng còn lại khi đến những nơi công cộng cũng cần đeo khẩu trang. Giữ an toàn cho mình cũng là cho cộng đồng. Và quan trọng hơn nữa là không được chủ quan, lơ là dù dịch bệnh đang được kiểm soát tốt.
Chúng ta sắp đến kỳ nghỉ lễ dài ngày, trong bối cảnh Việt Nam đang mở cửa phát triển du lịch. Mỗi người dân cần có ý thức chung tay thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của chính mình và cộng đồng chính là góp phần để những ngày nghỉ lễ vui tươi, an toàn.
ST

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

HAIVAN

CHỦ NGHĨA LÊNIN SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Những tư tưởng vĩ đại về Đảng, về giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội, về kinh tế mới của Lênin thực sự là mặt trời soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với sự nghiệp phát triển của học thuyết Mác, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. V.I.Lênin nhận định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng là cách mạng vô sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bôsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.
Với tư cách là lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, V.I.Lênin là người mác-xít đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô Viết. Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã... Chính V.I.Lênin là người đã làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Trên con đường đi tìm độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp được Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “Con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”; “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã tiếp thu cái tinh thần và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Những thắng lợi vĩ đại và thành tựu có ý nghĩa to lớn, lịch sử trên con đường cách mạng Việt Nam trong 93 năm qua. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen; Đảng và nhân dân ta vẫn luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản.
Với công tác xây dựng Đảng, vận dụng tư tưởng của Lênin, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Kết luận số 21 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"… để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Nhờ đó, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên.
Đồng thời với đó, “Chính sách kinh tế mới” của V.I.Lênin được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn phát triển Việt Nam. Các kỳ đại hội của Đảng gần đây đều khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời cũng khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế. Tư tưởng của "Chính sách kinh tế mới" còn được Đảng ta phát triển, mở rộng ở tầm cao mới, đó là phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu nhằm thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Nhờ đó, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo ra các tiền đề quan trọng để tiếp tục phát triển đất nước.

“CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”!

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

HAIVAN

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CHO TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Đảng ta đã huy động lực lượng vũ trang (LLVT) 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) cùng lực lượng chính trị của quần chúng và toàn dân để đánh địch.
Việc xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của LLVT, nòng cốt là các quân đoàn chủ lực góp phần quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, LLVT ta được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện đã nhanh chóng lớn mạnh và trưởng thành, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Tuy nhiên, trước đối tượng tác chiến mới là quân viễn chinh Mỹ và chư hầu - đội quân xâm lược nhà nghề với trang bị vũ khí hiện đại, nhiệm vụ xây dựng LLVT cả nước nói chung, ở miền Nam nói riêng đòi hỏi có những yêu cầu mới cao hơn.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của LLVT trong kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm xây dựng LLVT, trong đó tập trung xây dựng ở miền Nam từng bước lớn mạnh. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1959), cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công. Từ trong phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng (1954-1958) và trong cuộc Đồng khởi (1959-1960), LLVT cách mạng ở miền Nam gồm: Các đội tự vệ, du kích ở xã; các đội vũ trang ở tỉnh, huyện và các đơn vị bộ đội tập trung của khu hình thành và phát triển.
Từ năm 1961, nhiệm vụ xây dựng LLVT miền Nam được đẩy mạnh. Theo chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 15-2-1961, các LLVT cách mạng ở miền Nam được thống nhất tổ chức toàn miền với tên gọi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và Ban Quân sự Miền (từ tháng 10-1963 là Đảng ủy và Quân ủy Miền).
Trong những năm 1961-1964, trên cơ sở phát triển lực lượng chính trị quần chúng và được sự chi viện tích cực của miền Bắc, LLVT giải phóng miền Nam hình thành 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) ngày càng hoàn chỉnh. Trong đó, khối bộ đội chủ lực cơ động trên các chiến trường khẩn trương được xây dựng với quy mô tổ chức từ cấp tiểu đoàn lên trung đoàn gồm: 3 trung đoàn bộ binh (1, 2, 3) và Đoàn Pháo binh 80 (tương đương trung đoàn) chủ lực Miền; 3 trung đoàn bộ binh (1, 2, 3) chủ lực Quân khu 5; 2 trung đoàn bộ binh 1 và 2, Trung đoàn Pháo binh 4 chủ lực Quân khu 9 và Trung đoàn Bộ binh 320 được tăng cường từ miền Bắc vào Tây Nguyên. Việc hình thành các trung đoàn bộ đội chủ lực trên các chiến trường, cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tăng khả năng đánh địch trên cả 3 vùng chiến lược (miền núi, nông thôn đồng bằng và đô thị), trong đó, bộ đội chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng.
Năm 1965, khi đế quốc Mỹ đưa quân Mỹ và đồng minh ồ ạt vào miền Nam, nhiệm vụ xây dựng LLVT nói chung, đặc biệt là phát triển bộ đội chủ lực nói riêng đòi hỏi rất khẩn trương. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, các LLVT ở miền Nam được xây dựng, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Dân quân du kích các xã, ấp phát triển mạnh, đến cuối năm 1965 có 174.000 người. Bộ đội địa phương tổ chức tiểu đoàn ở tỉnh và đại đội ở các huyện. Bộ đội chủ lực được tăng cường thêm 7 trung đoàn bộ binh từ miền Bắc vào chiến trường, nâng tổng số lên 18 trung đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng. Trên cơ sở phát triển 3 thứ quân, trong hai năm 1965-1966, ta thành lập 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9) và Đoàn Pháo binh 69 (tương đương sư đoàn) chủ lực ở Nam Bộ; 2 sư đoàn bộ binh (2, 3) ở Khu 5 và Sư đoàn Bộ binh 1 chủ lực ở Tây Nguyên, cùng một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh và binh chủng.
Những năm 1969-1972, LLVT 3 thứ quân ở miền Nam được củng cố, phát triển, trong đó khối bộ đội chủ lực được duy trì trên các hướng chiến lược quan trọng. Đặc biệt, việc xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh ở ngay trên chiến trường miền Nam được đặt ra. Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hội nghị Quân ủy Trung ương (tháng 2-1970) xác định: Xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương; xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn quân địch.
Theo chủ trương đó, từ năm 1970, việc xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho các chiến trường đánh Mỹ có bước phát triển mới. Ngày 10-10-1970, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn 70 ở nam Quân khu 4. Tiếp đó, năm 1971, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Bộ tư lệnh tiền phương (mật danh Đoàn 301) và Trung ương Cục quyết định đổi tên Bộ chỉ huy Miền thành Bộ tư lệnh Miền. Việc hình thành Binh đoàn 70 (đơn vị tương đương quân đoàn), Đoàn 301 và Bộ tư lệnh Miền (cơ quan chỉ huy tương đương cấp quân đoàn) đã đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉ đạo, chỉ huy các binh đoàn chủ lực cơ động tác chiến hiệp đồng binh chủng tiêu diệt lớn quân địch. Đây là cơ sở để những năm tiếp theo tổ chức các quân đoàn chủ lực khi có điều kiện.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27/01/1973), cục diện chiến trường miền Nam có những thay đổi nhanh chóng đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng LLVT lớn mạnh, đặc biệt là xây dựng các binh đoàn chủ lực quy mô cấp quân đoàn. Thời điểm này, những điều kiện khách quan và chủ quan để chúng ta tổ chức các quân đoàn chủ lực cơ bản được bảo đảm đầy đủ không chỉ ở hậu phương miền Bắc mà trên cả các hướng chiến lược quan trọng ở chiến trường miền Nam.
Trước yêu cầu bức thiết của việc xây dựng các binh đoàn chiến lược, ngày 15-10-1973, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về việc thành lập các quân đoàn chủ lực. Theo chủ trương đó, ngày 24-10-1973, Quân đoàn 1-Binh đoàn Quyết Thắng được thành lập ở Ninh Bình. Trên cơ sở bộ đội chủ lực được củng cố và phát triển, các quân đoàn chủ lực tiếp tục được tổ chức ở chiến trường miền Nam. Ngày 17/5/1974, Quân đoàn 2-Binh đoàn Hương Giang được thành lập ở Trị-Thiên. Ngày 20/7/1974, Quân đoàn 4-Binh đoàn Cửu Long được thành lập ở Đông Nam Bộ. Tháng 2-1975, Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) thành lập tại Nam Bộ. Tiếp đó, ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3-Binh đoàn Tây Nguyên được thành lập ở Tây Nguyên. Với các binh đoàn chiến lược quy mô tổ chức quân đoàn binh chủng hợp thành được trang bị khá mạnh, sức đột kích lớn, sức cơ động cao, sức chiến đấu liên tục, LLVT ta có khả năng mở các chiến dịch tiến công bằng lực lượng binh chủng hợp thành trên các hướng chiến lược ở chiến trường miền Nam.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam trong năm 1975 (lúc đầu là hai năm 1975-1976), từ ngày 4/3/1975, LLVT ta và toàn dân bắt đầu tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 trên khắp miền Nam, trọng tâm là 3 đòn tiến công chiến lược gối đầu và kế tiếp nhau trên phần lớn các chiến trường quan trọng, bao gồm: Đòn tiến công giải phóng Tây Nguyên; đòn tiến công giải phóng Huế-Đà Nẵng và đòn tiến công giải phóng Sài Gòn-Gia Định, được thực hiện chủ yếu bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, LLVT ta huy động 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn), với tổng số 15 sư đoàn, 1 lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn thiết giáp; 8 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin, 1 trung đoàn tên lửa, một bộ phận lực lượng hải quân, không quân và LLVT địa phương cùng nhân dân trên địa bàn chiến dịch. Sau 4 ngày chiến đấu, đợt 1, ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch. Cờ giải phóng tung bay trước tòa nhà chính của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Đòn tiến công giải phóng Sài Gòn thắng lợi oanh liệt đã quyết định giải phóng các tỉnh, thành phố trên đất liền, các đảo và quần đảo ở Biển Đông và toàn miền Nam, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh thể hiện Đảng ta đã thành công về nhiều mặt, trong đó sớm đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn về xây dựng, phát triển LLVT 3 thứ quân, đặc biệt là coi trọng xây dựng, phát triển quy mô tổ chức của bộ đội chủ lực ở miền Nam, từ những đơn vị bộ đội tập trung cấp tiểu đoàn, đại đội, từng bước tổ chức quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn đến đơn vị và cơ quan chỉ huy tương đương quân đoàn, cuối cùng là các quân đoàn, quy mô tổ chức cao nhất của Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, tổ chức, sử dụng hợp lý và phát huy hiệu quả vai trò của LLVT, lấy bộ đội chủ lực làm nòng cốt cho bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng toàn dân lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đại thắng.
Nguồn: BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN


V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.
Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép, cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình.
Học như một cánh cửa kì diệu nhưng không có chiếc chìa khóa nào để mở nó ra, vậy học cũng là đang dần dần chế tạo ra chiếc “chìa khóa” đó và khám phá mọi điều ở bên trong cánh cửa, đó là kiến thức và sự thành công. Nhà bác học Charles Robert Darwin cũng từng nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học”.
Như chúng ta thấy có những cụ già, những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách, vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.
Nhưng ngược lại, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng.
Câu nói của Lênin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. "Học, học nữa, học mãi" để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng.
Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có hiểu biết về ngôn từ, cách biểu đạt, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới... Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn.
Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống.
Trong thời đại khoa học ngày nay, nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”.
Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong, bởi vậy ngoài việc “học nữa”, thì còn phải “học mãi”.
Biểu tượng thế giới vì nhân quyền thế kỷ 20 - Tổng thống Nam Phi N. Mandela từng nói: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Bill Gates - Chủ tịch tập đoàn phần mềm khổng lồ Microsoft nói: “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời”.
Hay tục nữ Việt Nam có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Tất cả đều cho thấy rằng, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, đổi mới xã hội, bởi kiến thức khoác lên cho dân tộc, cho thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính là người được hưởng thành quả ấy.
Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lênin chính là chân lí của học tập. Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời.
Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện.
Báo Hải Phòng
Có thể là hình ảnh về 1 người

TRẦN QUÍ THƯỜNG LẠI GÂY NHIỄU NHẰM CÔNG KÍCH, CHỐNG PHÁ!

     Ngày 8/4/2023, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) tổ chức sinh hoạt chuyên đề: “Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới”. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, bà Trương Thị Mai đã đến dự và có bài phát biểu, chia sẻ rất tâm đắc. Ngày 9/4/2023 trên trang mạng xã hội loan tải bài viết có cái title rất là lạ: “Khi người cộng sản tự lừa mình và lừa nhau” của tác giả Trần Quí Thường.

Trần Quí Thường đã cố tình cắt dán lời phát biểu của bà Trương Thị Mai để chọc phá về vấn đề bầu cử tại Việt Nam, gã viết: “Người ta bỏ phiếu cho mình phải vì mình thật sự xứng đáng”, bà Trương Thị Mai vừa có tự hào nhắc nhở các đảng viên dưới trướng về vấn đề bầu cử tại Việt Nam. Nhưng, ai bầu cho bà và lá phiếu trung thực nào dành cho Đảng Cộng Sản? Thật là buồn nôn cho gã. Gã không biết hay cố tình giả ngu không biết, bà Trương Thị Mai là đại biểu Quốc hội 6 khóa liên tục từ năm 1997 cho đến nay. Từ năm 2016 bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và được bầu vào Bộ Chính trị khóa XII, XIII. Tháng 3/2023 bà được Bộ Chính trị phân công giữ chức Thường trực Ban Bí thư và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Để có được vị trí công tác như vậy, đứng về mặt công tác Đảng bà phải được tổ chức, những đảng viên ưu tú được lựa chọn nghiêm túc, bỏ phiếu cho bà tại các kỳ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc chứ? Đứng về công tác chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là đại biểu Quốc hội 6 khóa liền thì bà phải được dân bầu chứ ai? Chắc Trần Quí Thường không đủ tư cách công dân đi bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp các khóa từ trước đến nay, nên mới đặt câu hỏi rất ngu ngơ: “Ai bầu cho bà Mai và các đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân hiện nay? Trần Quí Thường trích dẫn lời phát biểu của bà Trương Thị Mai để quy chụp, xuyên tạc méo mó vô căn cứ: “Tại đây, bà Mai đã có nhiều phát biểu về vấn đề bình đẳng giới; xây dựng sự phát triển toàn diện của phụ nữ Việt Nam, chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao…”. Và sau khi trích dẫn bài phát biểu của bà Trương Thị Mai, gã phán một câu xanh rờn để công kích vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam: “Chỉ riêng vấn đề giới, việc bà Mai là người phụ nữ duy nhất trong 16 uỷ viên bộ chính trị hiện nay cho thấy hệ thống cầm quyền Việt Nam hoàn toàn không có chuyện bình đẳng về giới tính”.

Rõ ràng Trần Quí Thường đã viết vài dòng phía trên, trích dẫn tiểu sử về bà Trương Thị Mai thì phải hiểu rằng: bà phát biểu tại hội thảo chuyên đề: “Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới” với tư cách thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thì lẽ đương nhiên bàsẽ nhấn mạnh về bình đẳng giới, để cho các cấp chính quyền đã quan tâm thì phải quan tâm hơn nữa, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện tại và tương lai. Phát triển cán bộ lãnh đạo nữ không chỉ vì cơ cấu, bình đẳng mà còn phải dựa trên phẩm chất và năng lực, uy tín ngang tầm với nhiệm vụ được giao của chị em như quy định của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Trần Quí Thường phải hiểu bình đẳng giới không có nghĩa là “cào bằng”, là “chia đôi” tuyệt đối hóa bằng con số một cách cứng nhắc mà cơ bản đó là phải xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tôn trọng vai trò của phụ nữ trong cuộc sống và xã hội. Phụ nữ Việt Nam rất tự hào vì có những phụ nữ là những anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu; những chính trị gia xuất sắc thời hiện đại như các bà: Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Kim Ngân, Trương Thị Mai, Tôn Nữ Thị Ninh, Tòng Thị Phóng… những nữ cán bộ quản lý, trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu, đầy tài năng và trí tuệ, bản lĩnh và vô cùng tâm huyết, tận tụy với sự nghiệp chung của Đảng, của quốc gia và dân tộc, đại diện cho hơn một nửa dân số Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam đã có mặt trong tất cả các lĩnh vực công tác của đời sống xã hội. Phụ nữ liên tục giữ các cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng, thứ trưởng… Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, nông, lâm, ngư nghiệp lao động nữ chiếm hơn 50%; trong lĩnh vực khoa học, công nghệ tỷ lệ nữ gần 40%; các nhà khoa học đầu ngành tỷ lệ nữ chiếm 6%. Năm 2021, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thống kê về tương quan quyền lợi giữa nam giới và nữ giới, Việt Nam xếp thứ 87 trong 156 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 9 khu vực Đông Nam Á-Thái Bình Dương.

Điều đó đã cho thấy rõ chiêu trò của Trần Quí Thường lại mang ra nhai lại những luận điệu cũ mèm, để tuyên truyền bậy bạ về bình đẳng giới, về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.  

Cần khẳng định một điều rõ ràng rằng, có được những thành quả trên về bình đẳng giới là vì Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước, cứu dân, cho đến ngày hôm nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó nhân dân ta có câu tục ngữ rất hùng hồn “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ, xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”. Việt Nam là một trong quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết tham gia và luôn thực hiện nghiêm những điều ước của “Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” (viết tắt là CEDAW). Tại khoản 1 và khoản 3, Điều 26 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt”. Nhà nước có chính sách “bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới” và “Nghiêm trị phân biệt đối xử về giới”. Việt Nam cũng đã có Luật Bình đẳng giới tạo hành lang pháp lý quan trọng để thực hiện về bình đẳng giới. Việt Nam đã, đang và sẽ hoàn thiện xây dựng nền dân chủ XHCN, thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân; xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Việt Nam. Dân chủ gắn liền với kỷ cương Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

Trần Quý Thường hãy bỏ ngay trò xuyên tạc, bôi đen nền dân chủ của Việt Nam, đừng có bịa đặt, công kích vô lối và gây nhiễu nhằm chống phá chế độ nhé./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NĂM XƯA :


“ Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”.
Đó là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, là hạt nhân của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức; bởi họ là giai cấp kiên quyết, triệt để, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ. Do đó, khi phân tích đặc điểm của các giai cấp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có giai cấp công nhân mới gánh vác được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc để xây dựng một xã hội mới. Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, giai cấp công nhân phải có chính Đảng cách mạng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nòng cốt.
Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân và là đội quân chủ lực của cách mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập, họ cũng không có khả năng tự xây dựng một chế độ xã hội mới. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấp và các tầng lớp trong xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và thành công trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến với việc bổ sung phong trào yêu nước cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Người đã nhận rõ sức mạnh to lớn từ phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, mà lực lượng đông đảo, nòng cốt là giai cấp nông dân.
Trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định rõ: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Tuy thành phần xuất thân, thành phần giai cấp của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đa dạng, song cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác giáo dục, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị, thực hiện toàn quân một ý chí; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
Tất cả cảm xúc:
24