Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo.

 Một biểu hiện suy thoái “kép”

Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống).

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. 

Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra.

Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này. 

Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”.

Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ.

Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.

Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp.

Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái

 Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” đã nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm nêu gương ở 7 nội dung cụ thể là: Tư tưởng chính trị; Đạo đức, lối sống, tác phong; Tự phê bình và phê bình; Quan hệ với nhân dân; Trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật; Đoàn kết nội bộ.

Mê tín dị đoan - một biểu hiện của suy thoái

Yếu tố siêu nhiên và những người “hợp mệnh”

Mê tín dị đoan là một biểu hiện của suy thoái, tác động tiêu cực đối với sự phát triển của xã hội, làm cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội vẩn đục, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Do mê tín dị đoan mà không ít cán bộ, đảng viên không kiểm soát được hành vi của mình, dẫn đến vi phạm pháp luật. Cách đây không lâu, dư luận từng lên tiếng về vụ bố con ông Tạ Văn Phú và Tạ Văn Cường ở xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội đều là đảng viên nhưng vẫn lập đền thờ, xem tướng, bói toán, làm tà thuật tại nhà. Hàng trăm người đã bị rỗ mặt vì tin “thầy” “di cung, hóa số”.

Một số cán bộ, đảng viên thường xuyên cầu cúng vượt quá giới hạn sinh hoạt tín ngưỡng bình thường. Cũng do mê tín dị đoan, tin tưởng vào bói toán có tướng, số làm quan, phát tài nên có người còn tìm cách “vận động” mua bán chức quyền. Thậm chí có trường hợp do tin vào số, mệnh, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của tổ chức, hãm hại, trù dập cán bộ, tìm cách gạt bỏ những người không hợp với mình, lôi kéo những người “hợp mệnh” vào cùng ê kíp để dễ bề thao túng. Không ít cán bộ, đảng viên tin vào sự may mắn, tin vào những yếu tố siêu nhiên nên thường xuyên đi cầu cúng, tế lễ… Có gia đình cán bộ, công chức xây am, điện thờ đồ sộ quá mức thông thường, hằng ngày hương khói, tụng kinh, gõ mõ ảnh hưởng đến môi trường văn hóa, đến an ninh của khu dân cư. Mới đây, dư luận cũng lên tiếng về một vị vụ trưởng được cho là đi hầu đồng để cầu thăng quan tiến chức. Hay tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông, nhiều người dân rất bức xúc vì gia đình một cán bộ khi tổ chức đám tang cho bố đã rải tiền thật ra đường.

Mê tín dị đoan còn gây lãng phí của cải, thời gian, cản trở sự phát triển xã hội. Hằng năm, cả nước đốt đi hàng chục nghìn tấn giấy để làm vàng mã, biến hàng trăm tỷ đồng thành tro bụi. Nhiều người còn sắm cả Iphone, biệt thự, ô tô, máy bay, du thuyền, đô-la vàng mã để... cúng cho người đã khuất.

Theo kết quả khảo sát của đề tài khoa học: “Đấu tranh khắc phục tệ mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên trên địa bàn TP Hà Nội” do Học viện Báo chí và Tuyên truyền chủ trì, TS Trương Ngọc Nam làm Chủ nhiệm, thì hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân có tâm lý muốn đi lễ cầu cúng trong các đền chùa, miếu phủ. Theo kết quả khảo sát cho thấy: Về trình độ học vấn, mức độ thường xuyên đi lễ cầu cúng ở những người có trình độ trung học trở xuống là 71,1%; cao đẳng, đại học là 69,4%; trên đại học là 67,3%. Về nghề nghiệp, những người làm công việc kinh doanh, nghề nghiệp có nhiều rủi ro như nghề y, sản xuất và kinh doanh hóa chất… tỷ lệ thường xuyên đi cầu cúng cũng lớn hơn. Nhiều cơ quan tổ chức đi lễ tập thể và đi nhiều đợt trong năm. Những năm trước có báo đưa tin, một đoàn kịch ở Hà Nội quy định hằng năm, cả đoàn phải đi lễ đền chùa, đặc biệt là đền Bà Chúa Kho như là “nhiệm vụ bất khả từ”. Đi diễn đến đâu có đền chùa, miếu phủ thì phải lễ, diễn xong thì phải tạ… Theo người phụ trách thì “chả gì nó cũng liên quan đến miếng cơm manh áo của cả đoàn nên phải thực hiện... nghiêm túc”.

Nguyên nhân của tình trạng trên có phần tác động của mặt trái cơ chế thị trường, làm cho con người dễ sùng bái đồng tiền, tha hóa đạo đức, lối sống. Mặt trái của kinh tế thị trường cũng làm cho tệ tham nhũng nghiêm trọng, tệ nạn xã hội gia tăng, nhiều giá trị truyền thống bị xâm phạm. Nhiều người giàu có, thành đạt một cách nhanh chóng, bất ngờ nảy sinh quan niệm sự thành đạt, giàu có là do số phận, do... trời phù hộ. Những giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại, tốt-xấu lẫn lộn làm xuất hiện “khoảng trống” tinh thần, làm một bộ phận thiếu niềm tin về hạnh phúc, về điều tốt đẹp trong đời sống hiện thực, tìm đến sự “đền bù hư ảo” từ thế giới thánh thần.

Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến mê tín dị đoan là một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu ý chí phấn đấu, vươn lên, chưa gương mẫu trong việc xây dựng nếp sống văn hóa mới. Hiện tượng cán bộ, đảng viên kể cả cấp cao tổ chức cho gia đình đi lễ các đền chùa xin quẻ, tổ chức các cuộc lễ cầu tài, cầu lộc, cầu phúc rất to, cung tiến tiền triệu, thậm chí hàng chục triệu đồng đã không còn hiếm. Ở một khía cạnh khác, nhiều vấn đề thuộc về đời sống tâm linh hay những hiện tượng lạ mà khoa học chưa có điều kiện lý giải, trong khi đó, sự thấm nhuần về thế giới quan, phương pháp luận khoa học của cán bộ, đảng viên còn hạn chế cho nên đã giải thích một số hiện tượng tâm linh theo hướng duy tâm, thần bí.

Những khó khăn trong khắc phục mê tín dị đoan còn do những hạn chế bất cập về trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, của các cấp, các ngành. Có lúc, có việc chưa thống nhất về quan điểm chỉ đạo, thiếu kiên quyết trong xử lý các hành vi vi phạm, việc tuyên truyền xây dựng đời sống văn hóa còn nhiều hạn chế… Trình độ nhận thức, phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa còn nhiều bất cập, có lúc cứng nhắc, máy móc trong cách ứng xử, trong phương pháp giải quyết hoặc buông lỏng quản lý, để cho các hoạt động tín ngưỡng, mê tín dị đoan diễn ra một cách tự phát…

Cần phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng với mê tín dị đoan

Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới. Đời sống mới, theo Người, bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới. Chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu. Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Người phê phán: “... Khi ta làm cách mạng thì trời hay người làm? Khi ta kháng chiến thì trời hay người làm? Năm trước chống hạn là vì người hay vì trời? Trời làm hạn là xấu, ta phải chống hạn. Ta phải chống hạn chứ không phải cầu trời...”.

Để đấu tranh với các tình trạng mê tín dị đoan, bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải kết hợp với việc xử lý nghiêm những hành vi mê tín dị đoan hay lợi dụng mê tín dị đoan, gây tác động xấu đến xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của nhân dân. Vạch trần những thủ đoạn lừa bịp, xử lý kiên quyết những bọn “buôn thần bán thánh”, những thầy tướng, thầy bói, cô đồng… có hành vi lừa bịp, trục lợi. Làm cho mọi người phân biệt đâu là tôn giáo, tín ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan, từ đó thấy được đâu là sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng chân chính, đâu là lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan.

Đồng thời, các cơ quan chức năng phải có quan điểm định hướng, chỉ đạo và quy định thống nhất để quản lý các hoạt động tín ngưỡng và mê tín dị đoan. Trước các hiện tượng lạ, dư luận quan tâm, dễ dẫn đến những đồn đoán thần bí, thậm chí xuyên tạc, cần sớm nghiên cứu đưa ra kết luận khoa học và công khai.

Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn tín ngưỡng Việt Nam (Hội Di sản Việt Nam), khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, cho rằng, bài trừ mê tín dị đoan trong tình hình hiện nay phải đi liền với tăng cường quản lý các lễ hội. “Hiện nay, nhiều lễ hội được khôi phục và phát triển nhưng mặt trái của nó là việc khôi phục có chiều hướng tràn lan, thiếu chọn lọc, thiếu thẩm định, dẫn đến loạn chuẩn. Từ đó, hiện tượng mê tín dị đoan cũng đồng hành phát triển, đeo bám nhờ vào các lễ hội mà tồn tại. Vì vậy, lễ hội cần phải được quản lý chặt chẽ, trước khi cho phép hoạt động phải thấy rõ được tác dụng văn hóa tích cực của nó với đời sống cộng đồng xã hội. Đồng thời, cần có những quy định hướng dẫn sinh hoạt lễ hội, ngăn ngừa có hiệu quả hoạt động mê tín dị đoan”-Giáo sư Ngô Đức Thịnh khẳng định.

Đừng đi ngược lại với giáo lý và đạo lý

Là quốc gia đa tôn giáo, tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo tại Việt Nam luôn đoàn kết, sát cánh bên nhau, hoạt động bình đẳng, công khai theo quy định của pháp luật. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các giáo dân luôn một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng vì nhân dân. Sống tốt đời, đẹp đạo, kính chúa, yêu nước. Tuy nhiên, cá biệt vẫn có những kẻ lợi dụng tự do tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nguy hiểm hơn, chúng cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội ở trong và ngoài nước để chống Đảng, hòng phá vỡ thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Bằng chứng cụ thể là, linh mục Nguyễn Đình Thục và Đặng Hữu Nam đã lợi dụng sự cố môi trường biển miền Trung để lôi kéo, kích động giáo dân gây rối trật tự công cộng, tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc làm trái với giáo lý, giáo luật, đạo lý và vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.

Sự cố biển miền Trung gây hậu quả khá nặng nề cho các tỉnh ven biển khu vực này. Ngay khi sự cố xảy ra, Đảng, Nhà nước, nhân dân và toàn hệ thống chính trị đã khẩn trương vào cuộc, điều tra, làm rõ nguyên nhân, quy trách nhiệm đồng thời đã có nhiều biện pháp tích cực để khắc phục hậu quả. Bằng chứng là trong một thời gian ngắn, môi trường biển ở những nơi xảy ra hậu quả đã được khôi phục trở lại. Tổ chức, cá nhân gây hậu quả bị xử lý nghiêm minh; người dân được đền bù theo đúng quy định của pháp luật. Những việc làm cụ thể đó được nhân dân cả nước, nhất là nhân dân các tỉnh miền Trung tin tưởng. Tuy nhiên, linh mục Nguyễn Đình Thục - Quản xứ giáo xứ Song Ngọc không những phủ nhận những hiệu quả, hiệu ứng tích cực đó mà lại ngang nhiên đẩy sự việc sang hướng khác bằng cách đánh tráo sự việc với bản chất chế độ. Được sự giúp sức, kích động của các thành phần phản động trong và ngoài nước, linh mục này đã soạn “Thư ngỏ” kêu gọi các linh mục và cộng đoàn các giáo xứ hiệp thông, phát tán dưới nhiều hình thức với mục đích lôi kéo giáo dân các nơi tham gia biểu tình trái phép bằng cách dàn hàng ba, hàng bốn di chuyển trên Quốc lộ 1, làm cản trở giao thông. Khi đến khu vực huyện Diễn Châu, cảnh sát giao thông phải tổ chức phân làn để tránh tình trạng ùn tắc giao thông. Nhưng linh mục Nguyễn Đình Thục đã dùng loa phóng thanh kêu gọi, kích động bà con giáo dân không chấp hành. Chính vì sự kích động của linh mục Nguyễn Đình thục đã khiến Quốc lộ 1A ách tắc suốt nhiều giờ. Khi lãnh đạo tỉnh đến hiện trường đề nghị bà con giáo dân quay về và thực hiện quyền khiếu kiện đúng pháp luật, linh mục Nguyễn Đình Thục tiếp tục dùng loa phóng thanh xuyên tạc và kích động giáo dân nhiều đối tượng quá khích đã dùng gạch, đá tấn công làm một số xe công vụ bị hư hại, gây thương tích cho hàng chục người đang thi hành nhiệm vụ.

Cũng như linh mục Nguyễn Đình Thục, linh mục Đặng Hữu Nam quản xứ của giáo xứ Phú Yên, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An không lo việc truyền giảng phúc âm, các bài giảng đạo để con người sống tốt đời, đẹp đạo mà trắng trợn bóp méo lịch sử, chống Đảng, chống Nhà nước. Trong dịp kỷ niệm 42 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vừa qua, vị linh mục này đã tụ tập rất đông bà con giáo dân tới giáo xứ Phú Yên, dùng loa phóng thanh để tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, chống đối chính quyền, chống phá Đảng, chống phá Nhà nước với những lời lẽ đầy phản động. Hàng trăm giáo dân, trong đó có rất nhiều trẻ em bị huy động để xuống đường tuần hành rồi tụ tập để nghe những vị linh mục quần chùng, áo thâm rao giảng về lòng hận thù dân tộc, phỉ báng chính quyền, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả của ngày thống nhất đất nước 30-4-1975.

Nhìn nhận, phân tích khách quan, toàn diện, lịch sử, phát triển những việc mà hai vị linh mục này làm, chúng ta thấy, họ không những coi thường pháp luật,  giáo luật, bất chấp giáo lý, đạo lý tốt đẹp mà họ còn đi ngược lại với Thư Chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, rằng “Người công giáo phải gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc, hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình”.

Những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam luôn đoàn kết, gắn bó, cùng toàn dân tộc vượt qua khó khăn, thách thức, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng nhau xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh hơn.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào của đất nước, đặc biệt là ngày nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo,  đồng thời quan tâm, tạo điều kiện để các tôn giáo hoạt động đúng quy định của pháp luật, đúng đường hướng hành đạo của giáo hội, bảo đảm nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của mỗi tôn giáo; tích cực động viên mọi nguồn lực xã hội và hiện thực hóa đường hướng hành đạo đồng hành cùng dân tộc. Bên cạnh đó, không chỉ Đảng, Nhà nước mà toàn dân, toàn quân ta đặc biệt là các giáo dân yêu nước đều bất bình, lên án với những hành vi đi ngược lại với giáo luật, giáo lý, đạo lý của các linh mục trên. Những việc làm của họ rồi sẽ phải chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật Việt Nam. Đây cũng là bài học cho chúng ta để từ đó chủ động và tích cực đấu tranh với những mưu đồ đen tối, những kẻ đội lốt tôn giáo. Cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

Nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ Quân đội

Đoàn kết nội bộ Quân đội là sự gắn kết chặt chẽ giữa quân nhân với quân nhân, quân nhân với tổ chức, các tổ chức trong Quân đội với nhau trên cơ sở tình cảm giai cấp, tình thương yêu con người, tình đồng chí, đồng đội, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhằm xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

 Những năm qua, mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Tuy nhiên, thời gian qua đoàn kết nội bộ trong Quân đội có nơi còn mang tính hình thức; tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quân phiệt, bè phái, cục bộ địa phương dẫn đến mất đoàn kết, biểu hiện bằng mặt mà không bằng lòng… Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là nhân tố hiện hữu tác động xấu đến sự đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị. Có người tuy là cán bộ, đảng viên nhưng có tư tưởng thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu trung thực, gây bè kéo cánh, phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đơn vị.

Tình trạng trên đang là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với Quân đội ta. Chúng lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và những yếu kém, khuyết điểm, hạn chế của ta, để bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc mối đoàn kết trong nội bộ đơn vị, gây hoài nghi lẫn nhau, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào lãnh đạo, chỉ huy, khoét sâu mâu thuẫn, bất đồng trong cơ quan, đơn vị nhằm chia rẽ nội bộ Quân đội ta, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội...

Để nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ Quân đội nói chung, trong Quân chủng PK-KQ nói riêng, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng mối đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức đảng gắn với việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng cao, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải là người mẫu mực về tinh thần đoàn kết, biết kết hợp, giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, có khả năng quy tụ tinh thần đoàn kết trong cấp ủy, chi bộ, đảng bộ.

Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp phải thực sự nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, tổ chức xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ. Thường xuyên quán triệt và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng quyền của đảng viên; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quy chụp, áp đặt ý kiến cá nhân, thành kiến, trù dập hoặc e dè nể nang, thiếu trung thực, không dám đấu tranh với những nhận thức và hành động sai trái. Tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến”, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, những biểu hiện mất đoàn kết nội bộ.

Các cấp cần tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và quần chúng có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao tinh thần đoàn kết nội bộ; bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao tính tiền phong gương mẫu, tình thương yêu đồng chí, đồng đội cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, xem đó vừa là chuẩn mực đạo đức cách mạng, vừa là nhân tố cơ bản để xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng, có lòng tự trọng, xây dựng nếp sống kỷ cương, tình thương, trách nhiệm với tổ chức, đồng chí, đồng đội; có biện pháp đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, kích động chia rẽ đoàn kết trong đơn vị. Có cơ chế, chính sách bảo đảm tốt quyền lợi, lợi ích chính đáng của quân nhân. Chăm lo, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, chống tham nhũng, lãng phí, bớt xén tiêu chuẩn, không để bộ đội khó khăn, thiếu thốn về vật chất, tinh thần; mọi bức xúc về tư tưởng của bộ đội phải được giải quyết kịp thời, chính xác. Đồng thời, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu, có thành tích trong xây dựng đoàn kết nội bộ, qua đó động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

Cảnh giác với nhiều mũi công kích hòng "Phi chính trị hóa Quân đội"

Trên các trang mạng xã hội gần đây, tần suất xuất hiện ngày càng nhiều các hình ảnh, clip (hoặc thật, hoặc cố ý cắt ghép) với những động tác, tác phong chưa đúng mực của quân nhân, hoặc ít nhiều liên quan đến Quân đội ta. Đa phần các hình ảnh, clip này được “gắn” những lời tựa, nội dung có dụng ý xấu, với mục đích công kích, chống phá, hòng “Phi chính trị hóa Quân đội” của các thế lực thù địch, phản động.

 Mũi công kích kiểu mới

Trên các trang mạng xã hội gần đây, tần suất xuất hiện ngày càng nhiều các hình ảnh, clip (hoặc thật, hoặc cố ý cắt ghép) với những động tác, tác phong chưa đúng mực của quân nhân, hoặc ít nhiều liên quan đến Quân đội ta. Đa phần các hình ảnh, clip này được kèm theo những lời tựa, nội dung lăng mạ: Bộ đội quay lưng lại với Đảng; bộ đội không còn tôn kính hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”… Tại sao lại như vậy?

Dù bị thất bại nặng nề trong dã tâm thực hiện làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hòng làm cho Quân đội ta biến chất, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước trong quá trình   “góp ý” xây dựng Hiến pháp 2013, các thế lực thù địch, phản động vẫn chưa khi nào thôi ảo vọng “Phi chính trị hóa” Quân đội. Hiện nay, thủ đoạn của chúng đã mới hơn, xảo quyệt, tinh vi hơn, song mục đích vẫn nhằm tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đối lập Quân đội với Đảng, nhân dân, làm cho Quân đội biến chất về chính trị, xa rời hệ tư tưởng cách mạng, tạo khoảng trống về ý thức hệ tư tưởng.

Không chỉ thúc đẩy “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ khi lập hàng ngàn tài khoản mạo danh trên mạng xã hội để đả kích, lên án các lãnh đạo các cấp trong Quân đội, các thế lực thù địch, phản động còn “tung hỏa mù” bằng các bài viết, hình ảnh, clip được cắt ghép tinh vi, dàn dựng công phu hòng làm mất phương hướng chính trị của Quân đội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Quân đội, phục vụ cho mục đích lâu dài là “Phi chính trị hóa” Quân đội.

Chúng ra sức bôi nhọ, nói xấu, đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng thời, họ dựng chuyện, bóp méo các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia. Họ không ngớt thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị Quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ, tham gia giao thông, tham gia các sự kiện. Không những vậy, họ còn hạ thấp uy tín của lãnh đạo Quân đội qua các thời kỳ; tuyên truyền xuyên tạc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta đối với Quân đội trong một số sự kiện. Chúng lợi dụng triệt để sự bất mãn của một số cán bộ Quân đội trong đó có một số cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu, thoái hóa, biến chất để tuyên truyền xuyên tạc nói xấu Đảng hòng làm cho Quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của Quân đội trong xã hội... từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của Quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.

Các thế lực thù địch ra sức rêu rao rằng Quân đội “chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”. Để nhấn mạnh thêm các luận điểm trên, chúng còn đặt vấn đề Quân đội ta cần phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc, đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”, “vì quốc gia dân tộc”, “vì nhân dân” trong mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Chúng bày tỏ “thiện chí” kiên trì “khuyên bảo” chúng ta cần phải thực hiện “chuyên nghiệp hóa” Quân đội càng sớm càng tốt. Chúng cho rằng, Việt Nam cần phải nhìn vào quân đội của các nước tư sản khác mà noi theo, cần phải “học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của quân đội tư sản”, chứ chủ nghĩa xã hội sớm muộn cũng bị diệt vong. Đó là lý luận viển vông, thiếu cơ sở khoa học và hết sức phản động.

Chúng ta phải làm gì?

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh vào những năm 90 của thế kỷ XX, Quân đội Liên Xô thiếu cảnh giác nên đã rơi vào cái “bẫy” “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch mà tự rời xa nguyên tắc xây dựng Quân đội về chính trị, xóa bỏ cơ chế Đảng Cộng sản lãnh đạo Quân đội, nên không còn là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén, tin cậy của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô nữa. Đây là một trong những nguyên nhân rất quan trọng làm cho Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-Viết tan rã, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ.

Để không mắc vào những “cạm bẫy” của kẻ xấu trong mũi công kích kiểu mới của các thế lực thù địch phản động, trước tiên các cơ quan đơn vị trong Quân chủng cần đề cao cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ có liên quan đến đời sống xã hội như tham gia giúp dân, giúp đỡ chính quyền địa phương hay giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao dân sự. Luôn chú trọng chấn chỉnh, tuyên truyền để mọi quân nhân chấp hành nghiêm các quy định về lễ tiết, tác phong, phong cách quân nhân ở mọi lúc, mọi nơi. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ngoài doanh trại có sử dụng phương tiện của Quân đội, mang trang phục quân nhân, cần tránh xa khu vực “nhạy cảm”, chấp hành nghiêm quy định của Quân đội về mang mặc và sử dụng phương tiện khi đi công tác. Đặc biệt, không đưa các hình ảnh, clip trong thực hiện nhiệm vụ lên Internet và xử lý nghiêm với quân nhân vi phạm theo đúng quy định.

Mạng xã hội là một sân chơi hai mặt đối với chúng ta. Đối với các quân nhân trẻ, nó cũng kéo theo rất nhiều hệ lụy khi các bạn không biết kiểm soát chính mình. Nó đồng thời là một phương thức để kết nối con người với nhau nhưng cũng là công cụ truyền bá những tư tưởng và hình ảnh độc hại đến mọi người. Thông tin trên mạng là rất nhiều và rất dễ tiếp cận, nhưng nếu không biết chọn lọc thông tin và đưa thông tin thì bạn sẽ là “miếng mồi ngon” cho những kẻ có ý đồ xấu.

“Phi chính trị hóa” Quân đội là mục tiêu lớn của các thế lực thù địch, phản động. Để phục vụ mục tiêu đen tối ấy, hàng ngày, hàng giờ chúng lại tận dụng những khía cạnh rất nhỏ như ăn mặc, giao tiếp của quân nhân trong đời sống xã hội để thổi phồng, bóp méo. Do vậy, chúng ta cần cảnh giác cao độ bằng việc chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, quy định của Quân đội, nhất là những hoạt động có liên quan đến mạng xã hội.

Phòng chống sản phẩm văn hóa độc hại và các tệ nạn xã hội

Các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội nếu xâm nhập vào các cơ quan, đơn vị sẽ gây tác hại khôn lường. Nó không chỉ làm cho đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, chiến sĩ bị vẩn đục mà còn dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ; là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta.

 Nhận thức được sự nguy hại đặc biệt nghiêm trọng đó, trong thời gian qua, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong Quân đội đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng nhiều quy chế, quy định trong quản lý kiểm duyệt, sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, các xuất bản phẩm, các nội dung sinh hoạt văn hóa, văn nghệ... kiện toàn và phát huy hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, nhất là Phòng truyền thống, Thư viện, phòng đọc ở các cơ quan, đơn vị. Nhờ đó đã chủ động ngăn chặn sự thâm nhập, ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa độc hại; không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá chúng ta.

Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, triển khai nội dung này chưa thực sự hiệu quả, vẫn còn những hạn chế nhất định. Nhiều cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ này; năng lực nhận biết, phân loại, khắc phục tác hại của các sản phẩm văn hóa độc hại... vẫn còn mức độ. Nội dung, hình thức một số hoạt động xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh chậm đổi mới, thiếu sáng tạo, chưa lôi cuốn cán bộ, chiến sĩ tham gia. Hoạt động của một số thiết chế văn hóa chưa hiệu quả, còn nhiều hạn chế.

 Để nâng cao hiệu quả việc phòng, chống các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các cơ quan, đơn vị, trước hết, phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ, gắn với việc chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ các sản phẩm văn hóa độc hại.

Tập trung nâng cao ý thức chính trị, đạo đức, pháp luật, trình độ thẩm mỹ cho cán bộ, chiến sĩ; chú trọng nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho bộ đội có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ chính trị, về các giá trị văn hóa tiêu biểu của Đảng, của dân tộc, của Quân đội; bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ về cảm xúc, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ lành mạnh, từ đó nâng cao khả năng xem xét, đánh giá các giá trị thẩm mỹ, biết phân biệt và đấu tranh ngăn ngừa, loại bỏ những thị hiếu thẩm mỹ lệch lạc, phản động, trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta.

Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, tạo nên sức hấp dẫn, lối cuốn đối với cán bộ, chiến sĩ; tập trung xây dựng, bồi dưỡng để mỗi cán bộ, chiến sĩ là người sống có văn hóa, mỗi cơ quan, đơn vị là một tập thể sống có văn hóa. Đó không chỉ là việc thực hiện nền nếp chính quy, xây dựng cơ quan, đơn vị có cảnh quan, môi trường xanh-sạch-đẹp mà phải là sự biến đổi về chất trên mọi mặt của đời sống bộ đội, từ nơi ăn, ở, học tập, lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, đến phương pháp, tác phong làm việc, phương pháp đối nhân xử thế, quan hệ trên dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội, quan hệ quân dân...

Trong xây dựng đời sống văn hóa mới cần chú trọng nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa văn nghệ, nhất là ở các đơn vị cơ sở; thường xuyên gắn hoạt động văn hóa, văn nghệ với các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, hoạt động huấn luyện, SSCĐ...; tuyệt đối không để xuất hiện các “khoảng trống” để các sản phẩm văn hóa độc hại có cơ hội xâm nhập.

Xây dựng môi trường văn hóa ở cơ quan, đơn vị thật sự trong sạch, lành mạnh là một trong những giải pháp tối ưu để phòng, chống các sản phẩm văn hóa độc hại... xâm nhập vào từng cơ quan, đơn vị; góp phần khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, đánh bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch.

Giữ gìn và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của quân nhân cách mạng được hình thành và phát triển trong suốt hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” trong chiến tranh trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay luôn in đậm trong lòng nhân dân, làm cho mối quan hệ quân dân luôn luôn gắn bó, tạo nên sức mạnh to lớn để Quân đội ta chiến thắng mọi kẻ thù.

 Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, do những tác động nhiều mặt của tình hình thế giới, trong nước; tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; từ sự quản lý không chặt chẽ của các cơ quan, đơn vị và sự thiếu rèn luyện của một số cán bộ, chiến sĩ... đã xuất hiện những lời nói, cử chỉ, hành động không đúng. Nhiều trường hợp quân nhân vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước ở mức độ nghiêm trọng, đăc biệt nghiêm trọng hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, lô đề, cờ bạc, vay nợ không có khả năng chi trả... làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống của Quân đội; đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây cũng chính là một nội dung mà kẻ thù tập trung chống phá, nhằm làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết quân dân. Để góp  phần xây dựng Quân đội ta thực sự vững mạnh các cơ quan đơn vị cần quan tâm đặc biệt đến việc giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Tập trung, nâng cao sức mạnh của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm cao; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân. Các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” bằng những nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực.   

 Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và hoàn thiện thông qua hoạt động thực tiễn. Vì vậy, cần tổ chức cho bộ đội tích cực tham gia các nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời; tăng cường các biện pháp quản lý, duy trì nền nếp, chế độ ở từng cơ quan, đơn vị; quản lý chặt chẽ quân số, nhất là trong các giờ nghỉ, ngày nghỉ; quản lý chắc các mối quan hệ xã hội của quân nhân; quan tâm sâu sát, nắm và quản lý tốt tình hình tư tưởng bộ đội, chú trọng các đối tượng cá biệt trong cơ quan, đơn vị mình; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, tạo sân chơi bổ ích để thu hút bộ đội tham gia. Đồng thời, đẩy mạnh công tác dân vận và thông qua hoạt động thực tiễn để đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng đối tượng. 

 Để việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đạt yêu cầu đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác phấn đấu, rèn luyện theo các tiêu chí đã xác định; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi quần chúng, cấp dưới, công tâm trong xử lý các công việc; giải quyết hài hoà các mối quan hệ; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ.

Coi trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho bộ đội hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; phản bác các quan điểm sai trái, lối sống thiếu lành mạnh, ngại phấn đấu, rèn luyện.

Bên cạnh đó, mỗi quân nhân phải là người tuyên truyền, giáo dục thuyết phục nhân dân bằng chính lời nói và việc làm của mình, phải ra sức giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Bộ đội đi đến đâu đều phải được nhân dân yêu mến, tin tưởng, thực hiện đúng khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”; trong quan hệ với nhân dân, không được đụng đến “cái kim, sợi chỉ” của dân, càng không được làm điều gì phương hại đến lợi ích của nhân dân, trực tiếp là nhân dân địa phương nơi đóng quân.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ không những phải tích cực tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà còn phải tham gia tích cực và có hiệu quả trong các nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở các địa bàn, nhất là đối với các phân đội đóng quân ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo; phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và phòng chống các tệ nạn xã hội...

Trong thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào, ở đâu, cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều phải ra sức phát huy truyền thống tốt đẹp “vì nhân dân quên mình”, thật sự là người chiến sĩ của quân đội cách mạng, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xứng đáng với phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, “Người chiến sĩ PK-KQ ưu tú”.

Tại sao các thế lực thù địch không ngừng chống phá Cách mạng tháng Mười Nga?

Trong suốt hơn 100 năm qua, các thế lực thù địch, phản động đã không ngừng chống phá, xuyên tạc thành quả cách mạng vĩ đại này và chúng sẽ tiếp tục hành xử như vậy. Lý do rất hiển nhiên: vì Cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu thời đại mới, mở ra con đường giải phóng và phát triển cho nhân dân lao động khắp năm châu!

1. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế và chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của giải phóng và phát triển.

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một nhóm siêu cường phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân... 

Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, gắn mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng lao động và giải phóng con người.

2. Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Những kỷ nguyên độc tôn của chủ nghĩa tư bản đã thật sự chấm dứt, buộc họ phải biết cách chung sống hòa bình với chủ nghĩa xã hội. Hiểu theo nghĩa đó, chủ nghĩa xã hội đúng là một trong những nhân tố quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng mơ tưởng về sự hồi sinh của tư bản và, bởi vậy, chúng sẽ còn điên cuồng chống phá con đường tháng Mười Nga trong bối cảnh mới của thế giới ngày nay!

3. Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của cách mạng chống đế quốc.

Theo con đường của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ từ 1492, đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối thế kỷ XX! Bản đồ chính trị của thế giới hiện đại đã được vẽ lại, với sắc đỏ ngày càng rộng mở như hệ quả tất yếu từ ngọn lửa Cách mạng tháng Mười Nga. Các thế lực phản động, thù địch càng hoài niệm bao nhiêu về cái thời mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ thuộc địa mênh mông của chúng, thì càng điên cuồng bấy nhiêu trong công kích, xuyên tạc vai trò, ý nghĩa lịch sử của bản hùng ca Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917!

4. Động lực và cảm hứng từ Cách mạng tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới ngày nay. Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Ngay từ chính các trung tâm tư bản chủ nghĩa đã không ngừng cất lên biết bao lời cảnh tỉnh, phê phán rằng chủ nghĩa tư bản là “một thế giới không thể chấp nhận được” (René Dumond), nó “chứa đựng nhiều vết loét không thể cứu chữa” (Henry Kissinger), nó sẽ rơi vào “cuộc khủng hoảng toàn cầu” (George Soros), vì vậy, loài người sẽ phải vận động đến “làn sóng văn minh thứ ba” (Alvin Toffler), đến một “xã hội hậu tư bản” (Peter Drucker)... Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng xây dựng một xã hội khác thay thế, bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười Nga cách đây 105 năm, đang và tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong thời đại ngày nay.

5. Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển.

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới chủ động đổi mới tư duy và cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin được nhận thức đầy đủ hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa đã sớm khắc phục được khủng hoảng, ra khỏi tình trạnh chậm phát triển và đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Alexander Zinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel…, trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che giấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.