Năm 2023, các trường trong quân đội tiếp tục tuyển sinh theo phương án của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức một kỳ thi chung: Tốt nghiệp trung học phổ thông, lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp đồng thời xét tuyển đại học, cao đẳng.
Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI
LÀNG THÊU CỜ TỔ QUỐC TẤT BẬT TRƯỚC NGÀY 30/4
Làng Từ Vân nổi tiếng xa gần là làng may cờ Tổ quốc truyền thống. Đến nay, làng đã có truyền thống hơn 70 năm may và thêu cờ, cùng chứng kiến bao sự đổi thay của đất nước. Và hơn 70 năm thăng trầm ấy đã tạo nên những con người yêu nghề, nhiệt huyết với nghề may cờ đầy thiêng liêng này.
Những người may cờ truyền thống được ví như những nghệ nhân bởi không chỉ cần có sự kiên trì, chăm chỉ mà một đôi bàn tay khéo léo cũng là yếu tố cần có để tạo ra những lá cờ đạt độ hoàn thiện cao nhất được. Họ đã trao toàn bộ tình yêu nước của mình gửi vào những lá cờ Tổ quốc, vì vậy giá trị kinh tế từ việc sản xuất những lá cờ tại đây không bị đặt nặng mà nghệ nhân đặt cái cốt lõi, cái hồn của dân tộc lên hàng đầu.
Thời điểm này là thời điểm các xưởng đã và đang nhận các đơn hàng chuẩn bị cho ngày 30/4. Các xưởng luôn phải hoạt động hết công suất, thậm chí phải tăng giờ làm cho nhân công trong xưởng để kịp tiến độ giao hàng. Có những ngày xưởng nhà bà Nhung hoàn thiện đến 2000 lá cờ thành phẩm để đáp ứng nhu cầu tăng cao trong những ngày này.
“Đối tác làm ăn ở đây có khi còn chở ra cả đảo, tự hào lắm chứ vì những lá cờ do chính tay mình làm nên đã góp phần bảo vệ, khẳng định chủ quyền đất nước." - một người nghệ nhân kì cựu tự hào chia sẻ.
Chẳng cần đao to búa lớn, tôi tin rằng đâu đó trên khắp rải đất hình chữ S này vẫn luôn có những con người thầm lặng, ngày ngày miệt mài làm những công việc mà chẳng mấy ai biết đến, làm đẹp cho đời, làm đẹp cho đất nước giống như những người nghệ nhân ở mảnh đất Thường Tín này.
Theo VTV
GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho Hải quân và Quân khu V phối hợp giải phóng quần đảo Trường Sa. Bộ tư lệnh Hải quân đã khẩn trương chuẩn bị lực lượng thực hiện nhiệm vụ. Quyết tâm của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh là bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta. Bộ tư lệnh quyết định sử dụng tàu của Đoàn 125 chở lực lượng ra giải phóng đảo, các tàu 673, 674, 675 cấp tốc hành quân từ Hải Phòng vào Đà Nẵng. Đồng chí Trần Phong, quyền Tham mưu trưởng Đoàn 125 đại diện đơn vị bên cạnh đồng chí Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh Hải quân đại diện cho Quân chủng tại Sở chỉ huy mặt trận tại Đà Nẵng theo dõi, thực hiện kế hoạch giải phóng đảo.
Lúc 4 giờ ngày 11 tháng 4 toàn bộ lực lượng Đoàn C75 gồm 3 tàu 673, 674, 675 của Đoàn 125 chở 1 đại đội của Trung đoàn 126 đặc công Hải quân, 1 phân đội hoả lực của đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 471/Quân khu 5 xuất phát từ quân cảng Đà Nẵng đi giải phóng quần đảo Trường Sa. Đồng chí Mai Năng chỉ huy trên tàu 675 chở Phân đội 3 do đồng chí Minh chỉ huy. Tàu 673 chở phân đội 1 do đồng chí Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy. Tàu 674 chở phân đội 2 do đồng chí Đỗ Việt Cường chỉ huy. Vào lúc 4 giờ 30 phút, 2 phát súng B41 mở đầu trận đánh, sau 30 phút chiến đấu ta diệt 6 tên địch, bắt sống 33 tên, trong đó đồng chí Trần Đức Thông mũi trưởng mũi 2 bắt sống tên thiếu uý Phi Hùng đảo trưởng, là con tên chuẩn tướng Phi Long quân nguỵ Sài Gòn. Đến 5 giờ 15 phút ngày 14 tháng 4 năm 1975, ta làm chủ hoàn toàn đảo Song Tử Tây, thu toàn bộ vũ khí trang bị của địch. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được chiến sĩ Lê Xuân Phát kéo lên đỉnh cột cờ trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa.
Sau khi rút kinh nghiệm trận chiến đấu giải phóng đảo Song Tử Tây, nắm chắc diễn biến tình hình thực tế, đại diện Bộ Tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng thống nhất với Bộ Tư lệnh Quân khu 5 mở đợt tiến công giải phóng các đảo còn lại thuộc quần đảo Trường Sa.
Đêm 24 tháng 4, tàu 673 do đồng chí Nguyễn Xuân Thơm làm Thuyền trưởng chở Ban chỉ huy chiến đấu và phân đội 3 Đoàn 126 tiến vào gần đảo Sơn Ca. Vào lúc 2 giờ 30 phút trận đánh bắt đầu. Đến 3 giờ ngày 25 tháng 4, trận đánh kết thúc, ta làm chủ hoàn toàn đảo Sơn Ca. Trong đó 2 tên địch bị tiêu diệt, 3 tên khác bị thương, 13 tên vị bắt sống, ta thu toàn bộ vũ khí trang bị. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi sao vàng 5 cánh được kéo lên cột cờ trên đảo Sơn Ca. Cách đó không xa đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng vẫn yên lặng trong màn đêm của Biển.
Để chỉ huy kịp thời các lực lượng Hải quân tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, trước đó ngày 23 tháng 4 Quân uỷ Trung ương đã quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Hải quân tiền phương để tiếp quản các cơ sở Hải quân từ Cam Ranh, Nha Trang trở vào Nam Bộ, tổ chức lực lượng giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và tổ chức phòng thủ đảo sau khi giải phóng. Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát và Thiếu tướng Hoàng Trà trở lại tăng cường cho Bộ tư lệnh Hải quân, trong đó Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là phái viên của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh Hải quân tiền phương; Đại tá Trần Văn Giang, chính ủy Hải quân kiêm chính ủy và Thượng tá Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh Hải quân kiêm Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Hải quân tiền phương.
Bộ tư lệnh Hải quân ở Hải Phòng vẫn do Thiếu tướng Đoàn Bá Khánh, Tư lệnh quân chủng và Thiếu tướng Hoàng Trà, phái viên của Bộ phụ trách.
Từ thông tin của Đại đội 7 trinh sát / Bộ Tham mưu báo cáo, khi biết tin bị mất đảo Sơn Ca, bọn quân nguỵ trên các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa hoang mang tột độ, sau đó chúng rút ra tàu bảo vệ chạy khỏi đảo. Chớp thời cơ, Bộ Tư lệnh Hải quân tiền phương lập tức chỉ thị cho Đoàn trưởng Mai Năng đang trên tàu 673 ở Song Tử Tây: " Khẩn trương cho lực lượng đến các đảo còn lại, quyết không để một lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội để chiếm đảo". Vào lúc 1 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, tàu 673 nhổ neo rời Song Tử Tây tiến về Nam Yết, một bộ phận của Phân đội 3 đổ bộ lên chiếm giữ đảo. Không một tiếng súng nổ do quân địch đã rút chạy hết. Lá cờ của quân giải phóng phấp phới tung bay trên đảo Nam Yết.
Vào 10 giờ 30 phút ngày 28/4 ta giải phóng, kéo cờ trên đảo Sinh Tồn. Một bộ phận 18 cán bộ chiến sĩ ở lại chốt giữ đảo Sinh Tồn, tàu 673 khẩn trương chở lực lượng đến giải phóng đảo Trường Sa. Lúc 9 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, phân đội chiến đấu của Trung đoàn 126 đã hoàn thành đổ bộ lên đảo Trường Sa. Cờ giải phóng tung bay trên hòn đảo lớn nhất, hòn đảo thứ 5 và cũng là hòn đảo cuối cùng mà quân nguỵ Sài Gòn đóng giữ ở quần đảo Trường Sa.
Quân chủng Hài quân cùng lực lượng phối thuộc của Quân khu 5 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Giải phóng kịp thời các đảo thuộc quần đảo Trường Sa là một chiến công đặc biệt xuất sắc, có ý nghĩa chiến lược. Chiến công đó khẳng định sự chỉ đạo sáng suốt kịp thời của Thường trực Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Quân chủng Hải quân trên mũi tiến công hướng biển trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Chiến công đó cũng khẳng định ý thức tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, tinh thần khắc phục khó khăn, biết nắm thời cơ, triệt để tận dụng thời cơ, táo bạo, mưu trí, dũng cảm chiến đấu; đặc biệt là ý thức rất cao về chủ quyền, về trách nhiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc của bộ đội Hải quân.
Sau khi hoàn thành giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa, bộ đội Đặc công Hải quân đã bàn giao 5 đảo cho lực lượng của Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 2, Quân khu 5 quản lý, bảo vệ theo chỉ đạo của cấp trên. Cuối tháng 5 năm 1975, các đơn vị này chuyển về trực thuộc Quân chủng Hải quân.
Còn 4 đảo nổi gồm: Trường Sa Đông, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh, An Bang chưa ai đóng giữ.
Tháng 3 năm 1977 Thiếu tướng Giáp Văn Cương - Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam được điều về làm Tư lệnh Hải Quân thay Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát chuyển ra làm Thứ trưởng Bộ Hải sản. Bộ tư lệnh Hải quân đã báo cáo lên Bộ Quốc phòng, đến năm 1978 Hải quân Việt Nam đóng giữ hết cả 4 đảo nổi còn lại, nâng tổng số lên 9 đảo nổi.
Quần đảo Trường Sa nằm ở giữa Biển Đông trải trên một khu vực biển khá rộng, chiều ngang từ đông sang tây khoảng 170 hải lý (300 km), chiều dọc từ Bắc xuống nam khoảng 330 hải lý (611 km). Đảo nổi Trường Sa gần nhất cũng cách Cam Ranh 250 hải lý (463 km), đảo Tiên Nữ xa nhất về phía đông cách Cam Ranh 390 hải lý (700 km). Quần đảo bao gồm các đảo, các bãi cạn, bãi đá ngầm với khoảng 140 vị trí.
Tổng số có 17 đảo nổi, Philippines Pin chiếm 7 đảo, Đài Loan chiếm 1 đảo lớn nhất . Việt Nam hiện quản lý 9 đảo, trong đó có 5 đảo giải phóng từ tay quân ngụy Sài Gòn, 4 đảo đóng mới.
Cho đến năm 1987 Trung Quốc chưa có mặt ở Trường Sa.
NHÀ NGUYỄN KHÔNG CHỈ ĐỂ MẤT GIANG SƠN VÀO TAY GIẶC MÀ CÒN PHÁ HỦY HOÀNG THÀNH THĂNG LONG.
Thành Thăng Long được xây dựng kể từ thời nhà Lý, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về đây năm 1010. Trong suốt các triều đại Lý, Trần, thành không có nhiều thay đổi nhưng đến triều Lê thành được mở mang, xây thêm một số công trình, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và cuộc chiến Nam - Bắc triều diễn ra và đến 1592, Triết vương Trịnh Tùng đại thắng quân Mạc, kinh thành bị phá hủy nặng nề. Sau này nhà Lê - Trịnh đã xây dựng lại kinh thành to đẹp.
Thế nhưng đến năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi và chuyển kinh đô vào Huế. Nhằm mục đích hạ thấp vai trò kinh đô cũ, để làm mất tư cách "quốc đô" lâu đời của Thăng Long, năm 1805 triều Nguyễn ra lệnh phá hủy khu hoàng thành cũ được xây dựng từ đời nhà Lê và cho xây một tòa thành mới quy mô nhỏ hẹp hơn nhiều ngay trên vị trí thành cũ...Gia Long, không những là kẻ cổng rắn cắn gà nhà, bán nước mà còn là tội đồ của dân tộc khi ông ta là người đầu tiên của vương triều nhà Nguyễn hủy hoại quốc đô của nước Việt.
Nối nghiệp tổ tiên mình, đến năm thứ nhất đời Tự Đức 1848, vị vua thứ tư của triều Nguyễn lại hạ lệnh phá dỡ những vật liệu thuộc cung điện cũ của nhà Hậu Lê ở trong thành, mang hết các đồ chạm trỗ mỹ thuật bằng gỗ và bằng đá về Huế để trang trí các cung điện trong đó, các di tích xây dựng của các triều đại trước, vì vậy mất mát gần hết, chỉ còn sót lại đôi rồng đá trước thềm điện Kính Thiên". Và sau này khi người Pháp xâm lược, đô hộ nước ta, chúng đã phá nốt những gì còn sót lại của kinh thành Thăng Long, sửa chữa thành đồn bốt phục vụ mục đích quân sự.
Tóm lại, Hoàng Thành Thăng Long bị phá hủy không phải do ngoại bang xâm lược, vì thực tế lúc người Pháp đô hộ nước ta thì Hoàng Thành cũng đã bị nhà Nguyễn phá hủy hầu như toàn bộ trước đó. Chính vương triều hủ bại của Nguyễn Ánh đã tàn phá chính quốc đô của người Việt. Ngày nay, đất nước đang phát triển mạnh mẽ, việc khôi phục lại Kinh đô Thăng Long là điều hết sức cần thiết, Thăng Long - Hà Nội hơn 1000 năm văn hiến, quốc đô vạn đời của đất nước ta cần phải được nghiên cứu, khôi phục để con cháu ngàn đời sau hiểu rõ về thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Thăng Long là đế đô của các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, trải qua hơn 500 năm và kể từ năm 1945 đến nay, là Thủ đô, là trái tim của cả nước. Tầm vóc của Thăng Long - Hà Nội to lớn, vĩ đại chứ không chỉ gói gọn trong cái đế đô của dòng tộc Nguyễn Ánh ở Phú Xuân. Dựng lại kinh thành Thăng Long là ý nguyện của đại đa số nhân dân Việt Nam. Cố đô Huế được bố trí hàng ngàn tỷ để trùng tu, tôn tạo. Hoàng Thành Thăng Long cần phải được quan tâm, đầu tư cho tương xứng với tầm vóc vốn có của Quốc đô vạn đời của nước Việt hùng anh. Hiện tại nhà nước đã có kế hoạch khôi phục Hoàng thành Thăng Long, tin vui cho con dân của nước Việt. Sau này, không chỉ người Việt Nam mà bạn bè quốc tế sẽ hiểu rõ hơn về một thời nước Việt trải qua bao thăng trầm nhưng đầy oai hùng và văn hiến lâu đời./.
CẦN
PHẢI NHẬN DIỆN SAI LỆCH XÃ HỘI VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN
Sai lệch xã hội, dù là về tư tưởng, thái độ hay trong hành vi, cũng đều
chịu sự phán xử của hệ quy chiếu chính thống. Nó thường bị quy thành cái cá biệt,
đáng bị chỉ trích, vì nó đụng chạm đến tâm thể xã hội, gây ra những hệ lụy khó
kiểm soát. Có thể nhận thấy, những gì được coi là sai lệch, trên hết là một vấn
đề được xác định về mặt xã hội bởi một cộng đồng xã hội hay một nhóm người bên
trong cộng đồng đó. Thực tế cũng cho thấy, sai lệch chịu sự chi phối bởi quyền
lực, sự bất công trong xã hội. Chẳng hạn, có những hành vi giống nhau nhưng người
không có quyền lực bị xem là lệch lạc và có thể chịu hình phạt, trong khi người
có quyền lực thì không. Không những vậy, một hành vi có được coi là lệch lạc
hay không tùy thuộc vào quan niệm của xã hội, vào cách mà người khác nhận thức
tình huống. Sai lệch xã hội chỉ tồn tại
trong mối quan hệ với các tiêu chuẩn văn hóa, một hành vi được coi là lệch lạc
trong mối quan hệ với những tiêu chuẩn văn hóa cụ thể. Những tiêu chuẩn văn hóa
rất khác nhau giữa các nền văn hóa, trong mỗi nền văn hóa cũng khác nhau ở các
tiêu văn hóa..; hơn nữa tiêu chuẩn văn hóa còn thay đổi theo thời gian nếu quan
niệm về sự lệch lạc cũng khác nhau và thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, chỉ
những năm gần đây, ở Việt Nam, hút thuốc là ở nơi công cộng được coi là hành vi
lệch lạc, trong khi trước đó và là việc khá bình thường.
1. Các nguyên nhân cơ bản dẫn
đến sai lệch xã hội
Một là, do những sai lệch trong hệ thống giá trị. Hệ thống
giá trị trong xã hội được hình thành qua các thời kỳ lịch sử nhất định. và do vậy
nó mang tính lịch sử; nó sẽ mất đi khi không còn phù hợp với thực tiễn xã hội
song nó lại được hình thành mới khi thực tiễn biến đổi. Hệ thống giá trị được
chia thành các giá trị chung phố quát (giá trị nhân loại) và các giá trị thuộc
về một giai cấp hay tăng lớp nào đó. Bất kỳ một sự chệch hướng giá trị của xã hội
hiện hành đều có thể bị coi là sai lệch xã hội.
Hai là, do sự biến đổi các chuẩn mực xã hội. Trong đời sống
xã hội, chuẩn mực xã hội là những quy ước chung của cả công đồng hay một nhóm
xã hội nhất định, quy định những hành vi gi thể của mỗi cá nhân trong mỗi tình
huống cụ thể nhất định Sự xem nhẹ các chuẩn mực xã hội, không tuân thủ các chuẩn
mực xã hội có thể dẫn tới những hành vi sai lệch xã hội. Tuy nhiên, cũng như bất
kỳ hiện tượng xã hội nào, chuẩn mực xã hội cũng luôn biến đổi theo thời gian.
Chuẩn mực đã biến đổi hoặc bị bóp méo hoặc không được áp dụng đúng chỗ thì dẫn
đến hành vi sai lệch xã hội.
Ba là, do sự thay đổi các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người cùng nhau hoạt động sản xuất và tinh thần. Quan hệ sản xuất vật chất là quan hệ cơ bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là mối quan hệ cơ bản, chi phối mối quan hệ khác. Sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội. Chuẩn mực, giá trị xã hội vừa phản ánh các quan hệ xã hội vừa điều chỉnh các quan hệ xã hội các quan hệ xã hội thay đổi sẽ làm cho hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội cũng biến đổi và dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội.
Bốn là, do sự rối loạn các thiết
chế xã hội. Các thiết chế xã hội có chức năng điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm
soát hành vi con người phù hợp với các chuẩn mực mà thiết chế xã hội tạo ra.
Chúng được thiết lập trên các nhu cầu cơ bản của xã hội. Các thiết chế xã hội
có vai trò kiểm soát và quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong không ít tình huống vì
nhiều lý do khác nhau dẫn đến thiết chế xã hội không được vận hành một cách
bình thường, thậm chí rối loạn dẫn tới mất ổn định xã hội. Vì vậy, bất kỳ một sự
rối loạn hay đổ vỡ thiết chế xã hội nào đều trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng,
dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.
2. Hệ quả của sai lệch xã hội
Thứ nhất, có thể mang nội dung, tính chất tích cực, tiến bộ,
cách tân nếu như nó vi phạm, phá vỡ hiệu lực, sự chi phối của các chuẩn mực xã
hội đã lạc hậu, lỗi thời, phản động, đang kim hãm sự phát triển của cá nhân và
xã hội. Khi đó hành vi sai lệch có thể góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội
và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Thứ hai, hệ quả của sai lệch có thể mang nội dung và tính chất
tiêu cực, ảnh hưởng xấu hoặc nguy hiểm cho xã hội nếu như nó vi phạm, phá vỡ
tính ổn định, sự tác động của những chuẩn mực xã hội phù hợp, tiến bộ, đang phổ
biến, thịnh hành và được thừa nhận rộng rãi. Trong trường hợp này, sai lệch xã
hội bị dư luận xã hội phê phán, lên án hoặc đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp
trừng phạt theo nguyên tắc, quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ ba, sai lệch xã hội được xác định là tích cực hay tiêu
cực cần phải được xem xét từ quan điểm lịch sử - cụ thể để xác định những cách
thức ứng xử hợp lý. Chẳng hạn, có những điều hôm nay là chân lý, là chuẩn mực,
giá trị, ngày mai có thể trở thành cá biệt cản trở sự phát triển. Ngược
lại, cái hôm nay bị coi là lệch lạc, cá biệt, ngày mai có thể trở thành chuẩn mực,
chân lý, được thừa nhận. Đôi khi cái bị quy là “sai lệch xã hội" phải đến
cả trăm năm sau mới được thừa nhận[2]./.
Hành động đẹp của Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng
Sáng 23-4, hai cán bộ, nhân viên thuộc Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Tiên Sa (Biên phòng cửa khẩu cảng Đà Nẵng, Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng đã có hành động đẹp với nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Cụ thể, vào lúc 7 giờ sáng 23-4, trong lúc tham gia thực hiện chương trình “Hãy làm sạch biển” và Ngày Chủ nhật xanh, do đơn vị tổ chức, Đại úy Hoàng Xuân Quý, Đội trưởng Kiểm tra giám sát và Thượng úy QNCN Thái Bá Tuấn, Nhân viên hàng hải (Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Tiên Sa, Biên phòng cửa khẩu cảng Đà Nẵng) đã phát hiện 1 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax (trị giá gần 30 triệu đồng) và 1 chiếc ví bên trong có 2,5 triệu đồng kèm giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Văn Trung.
![]() |
| Ngay lập tức, hai đồng chí đã báo cáo với chỉ huy đơn vị, đăng tải thông tin trên mạng xã hội để tìm chủ tài sản. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nguyễn Văn Trung, trú tại số 4 Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã tới liên hệ. Sau khi xác minh chính xác, Đại úy Hoàng Xuân Quý và Thượng úy QNCN Thái Bá Tuấn đã bàn giao đầy đủ tài sản cho anh Trung. |
Hành động nhặt được của rơi, trả lại người đánh mất của đồng chí Đại úy Hoàng Xuân Quý và Thượng úy QNCN Thái Bá Tuấn là tấm gương sáng về lòng trung thực, thể hiện phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 25 THÁNG 4 NĂM 1961!
TÂM KHÔNG HẸP THÌ ĐỜI SẼ ĐẸP
1. Sở dĩ người ta đau khổ là do đeo đuổi những thứ sai lầm.
2. Đừng nên có thái độ bất mãn người khác. Bạn hãy quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính mình.
3. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời.
4. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong trí tưởng tượng của mình.
5. Muốn không hối hận về sau thì đừng khư khư về cách nghĩ của mình.
6. Đừng lãng phí mạng sống của mình tại những nơi mà nhất định bạn sẽ ân hận.
7. Thời gian sẽ trôi qua. Hãy để dòng thời gian cuốn trôi phiền não của bạn đi.
8. Người không biết thương bản thân thì không thể thương người khác.
9. Người nào trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
10. Khi sống thành thật với chính mình, không ai trên đời sẽ lừa dối bạn được.
11. Hạnh phúc không kéo dài mãi, nhưng khổ đau cũng vậy. Tâm rộng mở thì cuộc đời sẽ đẹp thôi!ghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
10. Khi sống thành thật với chính mình, không ai trên đời sẽ lừa dối bạn được.
11. Hạnh phúc không kéo dài mãi, nhưng khổ đau cũng vậy. Tâm rộng mở thì cuộc đời sẽ đẹp thôi!
CÓ GÌ ĐÂU MÀ BẤT NGỜ ???
Nhìn những bức hình của một số chị em bị bắt thời gian gần đây khiến ai cũng bất ngờ, nhiều người nói vui, tay nghề của mấy anh CA chán quá, dìm hàng quá. Thực ra thì đó là khuôn mặt mộc chân thật nhất, lại chụp bất ngờ trong một tâm trạng hốt hoảng thì làm sao mà dễ coi cho được. Kể cả là hoa hậu khi để mặt mộc đôi khi cũng khiến bạn bất ngờ.
Ai cũng vậy thôi, sáng ra chưa rửa mặt, quần áo thì lôi thôi, tóc tai rối bù, thử nhìn mình trong gương mà xem, đến bản thân mình còn chán mình chứ đừng nói ai, nhìn những bức hình tiều tụy khắc khổ già nua của chị em phạm tội, nhiều người đem so sánh tỏ ra bất ngờ .Không có gì khó hiểu, bình thường thì đẹp khoe xấu che, ta có quyền, dính vòng lao lý không còn cái quyền ấy. Có câu hơn nhau tấm áo tấm quần thả như người trần ai cũng như ai, người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Hơn nữa những bức hình từ thời còn son trẻ ghép với bức hình hiện tại thì sao không khác được, nhan sắc con người tàn phai theo năm tháng.
Thời 4.0 ai cũng dùng ÁP rồi 360 nên đẹp lung linh khi bị bắt mọi sự thật bị phơi bày xấu là phải thôi ! Số chị em không may dính vòng lao lý điều họ sợ nhất khi ra toà không phải là bản án bao nhiêu năm, mà điều họ sợ nhất là thân hình tiều tuỵ nhan sắc tàn phai, họ xấu hổ với những người đàn ông họ từng yêu, những người từng say mê họ, họ xấu hổ với thần tượng của họ. Họ sợ sự thương hại sự mỉa mai của nhân tỉnh thế thái.
Vậy nên phụ nữ hãy sống tỉnh táo biết yêu thương bản thân mình, đừng vì ai mà hủy hoại bản thân, làm gì cũng phải nghĩ đến hậu quả việc mình làm. Hãy sống một cuộc sống ý nghĩa, đừng mù quáng chạy theo những hào nhoáng hư vinh, nó không thể lâu dài, không bao giờ tồn tại, hạnh phúc là biết đủ biết bằng lòng với những gì mình có.
LÒNG THAM VÔ ĐÁY
Nghĩ cho cùng con người ta chết vì lòng tham, tham vô đáy, không biết đâu là giới hạn, không bao giờ biết đủ, không bao giờ biết bằng lòng với những gì mình có. Giàu thì muốn giàu hơn, đẹp thì muốn đẹp hơn, nổi tiếng rồi muốn nổi tiếng hơn nữa. Các cụ nói cấm có sai “Tham thì thâm”. Ở đời bao nhiêu con người vướng vào vòng lao lý, hay chí ít thì cũng tan cửa nát nhà cũng bởi lòng tham.
ĐỂ NHỮNG NGÀY NGHỈ LỄ VUI TƯƠI, AN TOÀN
Hãy chủ động phòng bệnh cho chính mình và gia đình chính là phòng bệnh cho mọi người.
Theo thống kê của Bộ Y tế, kể từ đầu tháng 4, số ca COVID-19 có chiều hướng gia tăng.
Đặc biệt trong các ngày cuối tuần và đầu tuần qua, số ca COVID-19 được báo cáo trên hệ thống đã tăng gấp 5-6 lần so với trung bình 2 tháng gần đây. Số ca COVID-19 chủ yếu tập trung tại miền Bắc, cao nhất là thành phố Hà Nội.
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá thế giới vẫn đang trong giai đoạn đại dịch và cảnh báo về những biến thể mới của virus SARS-CoV-2 có thể làm cho dịch COVID-19 trở nên phức tạp và gia tăng trở lại.
Có thể nói, virus SARS-CoV-2 không hoàn toàn biến mất, vẫn "thập diện mai phục" trong cộng đồng, quanh chúng ta, chờ cơ hội thuận lợi để trở lại.
Hơn 3 năm kể từ khi Việt Nam ghi nhận ca nhiễm COVID-19 đầu tiên, cả nước đã trải qua những ngày tháng cam go nhất để khống chế đại dịch thành công, đưa cuộc sống trở về bình thường.
Việt Nam là một trong những nước sớm khống chế được dịch, mở cửa sớm nhất để phục hồi và phát triển kinh tế, nằm trong top các nước có tỷ lệ tiêm chủng cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, chúng ta chưa công bố dịch COVID -19 đã kết thúc. Dịch còn nghĩa là còn người mắc. Miễn dịch do mắc bệnh hoặc tiêm chủng giảm dần theo thời gian trong khi đó virus liên tục biến đổi với các biến chủng mới, biến chủng phụ tiềm ẩn khả năng lây lan nhanh, nguy cơ dịch bùng phát rất cao.
Nếu chủ quan, lơ là với dịch bệnh, chúng ta sẽ phải trả giá đắt. Sự đau thương, mất mát từ các đợt dịch trước chắc vẫn còn chưa nguôi với không ít người.
Nhưng bây giờ cách nghĩ về dịch, cách phòng chống dịch của một số người đã khác trước. Dường như dịch bệnh thoái lui thì sự chủ quan lại gia tăng.
Giờ ra đường chúng ta dễ bắt gặp nhiều trường hợp không đeo khẩu trang, còn việc sát khuẩn ở nhiều nơi thì "trôi vào dĩ vãng"...
Cũng không ít người không muốn tiêm vaccine mũi 3, 4 vì cho rằng dịch bệnh đã hết – một sai lầm nghiêm trọng.
Chúng ta cần phải ý thức rằng những biến chủng mới của COVID-19 xuất hiện thì khả năng nhiễm càng cao. Nên trong mọi trường hợp thì phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Ngay cả khi chúng ta được tiêm phòng đầy đủ vẫn không được chủ quan với suy nghĩ là đã có "thẻ xanh" an toàn phòng chống COVID. Tốt nhất không để bản thân bị mắc bệnh.
Dù nặng hay nhẹ thì thêm một người mắc thì nhiều người bị ảnh hưởng, bản thân sức khỏe suy giảm mà "mất sức khỏe là mất tất cả".
Chúng ta cần tiếp tục tiêm chủng đầy đủ theo đúng khuyến cáo của ngành y tế. Người có nguy cơ cao khi đến nơi đông người, trong môi trường kín nên đeo khẩu trang. Các đối tượng còn lại khi đến cơ sở y tế, đi trên phương tiện công cộng thì cần đeo khẩu trang. Giữ an tòan cho mình cũng là cho cộng đồng.
Và "tấm áo giáp" quan trọng nữa cần trang bị là "vaccine ý thức" – không được lơ là, chủ quan dù dịch bệnh đang được kiểm soát tốt, trong bối cảnh Việt Nam có độ bao phủ vaccine cao nhưng độ mở cửa cũng rất lớn, nhất là sắp đến kỳ nghỉ lễ dài ngày.
Mỗi người dân có ý thức chung tay thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh (nguyên tắc 2K), bảo vệ sức khỏe của chính mình và cộng đồng chính là góp phần để những ngày nghỉ lễ vui tươi, an toàn.
Không chủ quan lơ là, mất cảnh giác nhưng cũng không hoang mang lo sợ, mất bình tĩnh.
SỨC HÚT, SỨC LAN TỎA CỦA MỘT ĐỀ TÀI GIÀU Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Trải qua 93 năm được tôi rèn, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú và vượt qua những khó khăn, thách thức từ thời cuộc đầy biến động, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
* Hơn 640 tác phẩm của gần 40 cơ quan báo chí trong cả nước tham dự
Đó là cơ sở, niềm tin và cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, sâu sắc, thôi thúc các cây bút thể hiện tình cảm, trí tuệ, lương tâm, trách nhiệm chính trị của mình về đề tài xây dựng Đảng nói chung, về chủ đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng.
Thành phần dự thi đa dạng, thu hút nhiều tên tuổi uy tín
Với tinh thần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ những giá trị tốt đẹp của xã hội, nhiều cơ quan báo chí đã thể hiện tinh thần “bút chiến” không dừng, thông qua việc duy trì thường xuyên, bền bỉ các chuyên trang, chuyên mục như: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Phòng, chống “diễn biến hòa bình”; Phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa”; Đấu tranh tư tưởng-lý luận...
Góp phần làm nên thế trận tuyên truyền rộng khắp đến đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương.
Ban tổ chức Cuộc thi “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ hai (Báo Quân đội nhân dân (QĐND), Hội Nhà báo Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội) rất phấn khởi khi nhận được sự hưởng ứng, tham gia tích cực của gần 40 cơ quan báo chí trong cả nước với hơn 640 tác phẩm dự thi. Ngoài các cơ quan báo chí Trung ương có uy tín, sức ảnh hưởng lớn trong xã hội tiếp tục dự giải như: Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Báo Công an nhân dân, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam..., có nhiều cơ quan báo chí các địa phương lần đầu gửi tác phẩm dự giải đến Ban tổ chức, như: Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Phú Yên, Bạc Liêu...; các tạp chí: Công an nhân dân; Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và Tuyên truyền); Giáo dục Lý luận (Học viện Chính trị khu vực I); Thông tin Khoa học chính trị (Học viện Chính trị khu vực IV); Mặt trận (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam);...
Cuộc thi lần này hội tụ các cây bút đa dạng, phong phú hơn. Bên cạnh các chuyên gia từng tham gia cuộc thi lần trước như: Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương; PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc; PGS, TS Nguyễn Danh Tiên; PGS, TS Nguyễn Văn Dững; PGS, TS Đặng Quang Định... còn có sự hưởng ứng của các cây bút tên tuổi trong giới khoa học như: GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp; GS, TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Phó chủ tịch Hội Triết học Việt Nam; GS, TS Mạch Quang Thắng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); PGS, TS Phạm Quang Long, nguyên Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội...
Điều đáng trân trọng là có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã dành thời gian viết bài, gửi tác phẩm dự giải, như: Trần Thanh Lâm, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; PGS, TS Nguyễn Duy Bắc, Phó giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Mai Đức Ngọc, Chủ tịch Hội đồng trường, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Trung tướng, PGS, TS Trần Vi Dân, Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an (Bộ Công an); TS Phan Tuấn Anh, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế); Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, Ủy ban Luật Quốc tế của Liên hợp quốc...
Sức hút của cuộc thi còn thể hiện ở sự tham gia của nhiều cán bộ chỉ huy, quản lý đang công tác tại các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong Quân đội như: Thiếu tướng Hàn Mạnh Thắng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Quốc phòng); Thiếu tướng Nguyễn Hoài Phương, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Đại tá, TS Vũ Phú Dũng, Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị); Đại tá, ThS Nguyễn Hồng Sơn, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Trường Sĩ quan Chính trị; Trung tá Phan Tấn Toàn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn 2 (Bộ tư lệnh 86)... Đặc biệt, Ban tổ chức rất cảm kích trước tấm lòng của ngài G.S.Bezdetko, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam đã tham dự cuộc thi với tác phẩm “Không thể bóp méo sự thật về Ngày Chiến thắng 9-5” đăng trên Báo QĐND ngày 9-5-2022.
Đó là những minh chứng “biết nói” về hiệu ứng xã hội của cuộc thi ngày càng lan tỏa rộng khắp, đến với nhiều thành phần trong xã hội và nhờ đó, Ban tổ chức càng có thêm cơ sở để lựa chọn, thẩm định, đánh giá những tác phẩm xuất sắc để trao giải.
Cách tiếp cận đề tài, nội dung phong phú, sâu sắc hơn
Có thể nói rằng, so với các đề tài khác, đề tài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là đề tài khó và “kén” người viết, nhưng với tấm lòng yêu mến Đảng, các tác giả tham dự cuộc thi đã tiếp tục làm sáng tỏ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ, góp phần làm cho công chúng ngày càng hiểu biết đầy đủ, nhận thức sâu sắc hơn những giá trị căn cốt về hệ tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiều tác phẩm tiếp tục đi sâu phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; bảo vệ và khẳng định những giá trị truyền thống tốt đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam... Trong đó, tiêu biểu có các tác phẩm của chuyên gia, nhà khoa học đến từ các cơ quan: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông...
Nét mới của cuộc thi năm nay là nhiều tác phẩm đi sâu phân tích, nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái về các vấn đề: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; Nhà nước pháp quyền XHCN; xã hội dân sự; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; kinh tế thị trường định hướng XHCN; chính sách đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; sùng ngoại, lai căng văn hóa; lợi dụng sáng tác văn học-nghệ thuật để “giải thiêng”, bóp méo lịch sử cách mạng... Một số tác phẩm thể hiện sự khám phá mới mẻ khi đưa ra những luận cứ, luận điểm, luận chứng sâu sắc để bóc mẽ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề giải phóng con người, bảo vệ nhân phẩm và quyền con người của Chủ nghĩa Mác; giá trị công bằng xã hội trong Chủ nghĩa Mác.
Với đặc trưng thông tin nhanh nhạy, thể hiện “bút chiến” sắc bén, nhiều tờ báo đã bám sát thời sự, phản ứng kịp thời, đấu tranh kiên quyết với những thông tin sai trái, xấu độc, thù địch xuất hiện trên mạng xã hội trong thời gian gần đây như: Xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực của hệ thống chính trị trong công tác bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng ở Việt Nam; vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân biểu tình, bãi công; xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Nhà nước Việt Nam; xuyên tạc cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế; xuyên tạc việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự của công dân... Tiêu biểu có các báo: QĐND, Công an nhân dân, Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Bắc Giang, Nghệ An, Đồng Nai, Quân khu 4, Quốc phòng Thủ đô,...
So với năm trước, cuộc thi lần này có nhiều tác phẩm nhận diện, phê phán những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, như các biểu hiện: Phai nhạt lý tưởng cách mạng; quan liêu, vô cảm với dân; thói ganh ghét, đố kỵ; sống phô trương, xa hoa, lãng phí...
“Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin” (Tố Hữu). Với tinh thần ấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giờ đây không chỉ là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị, mà là bổn phận của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Minh chứng cho điều đó thể hiện ở các tác phẩm dự giải như: “Văn nghệ sĩ với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch” (ThS Nguyễn Thị Triều); “Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” (Nguyễn Tuấn Anh-Thế Phương); “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải xuất phát từ niềm tin và lòng biết ơn đối với người có công với cách mạng” (TS Lê Đức Hoàng);...
Theo TS Nguyễn Công Dũng, Phó tổng biên tập Thường trực Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Sơ khảo Cuộc thi lần thứ hai, việc Báo QĐND phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội tiếp tục tổ chức Cuộc thi viết "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” là việc làm thiết thực, nhân văn trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ niềm tin đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.
“Sự thiết thực thể hiện ở chỗ, cuộc thi đã huy động được đông đảo cơ quan báo chí trong cả nước tham gia, từ đó khơi dậy tình yêu nghề nghiệp, tinh thần nhiệt huyết của các cây bút chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo cùng đoàn kết trên “trận tuyến” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng của Đảng ta. Còn nhân văn thể hiện ở chỗ, nhờ các tác phẩm về đề tài này được phân tích, luận giải sâu sắc ở các góc độ, các khía cạnh và giàu tính thuyết phục nên đã góp phần củng cố, bồi đắp niềm tin cho các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó khẳng định vị thế, sứ mệnh cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân”, TS Nguyễn Công Dũng khẳng định.
Trên cơ sở thể lệ, quy chế chấm điểm, qua hai vòng chấm sơ khảo và chung khảo bảo đảm nghiêm túc, khách quan, Hội đồng Chung khảo với các nhà báo uy tín hàng đầu cả nước đã thống nhất lựa chọn 30 tác phẩm xuất sắc để trao 3 loại giải, gồm: Giải dành cho báo Trung ương; giải dành cho báo địa phương; giải dành cho tạp chí. Trong đó có: 3 giải nhất, 6 giải nhì, 9 giải ba và 12 giải khuyến khích. Ban tổ chức cũng quyết định tặng thưởng 1 tác phẩm xuất sắc của người nước ngoài và khen thưởng 3 tập thể cơ quan báo chí có nhiều tác phẩm chất lượng tham dự cuộc thi.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975
Chiến thắng 30/4/1975, là một sự kiện trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX, đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực, cường quyền; là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc.
1. Chiến thắng 30 – 4, giá trị lịch sử trường tồn mãi với thời gian. Chiến thắng 30 – 4 đã qua đi 48 năm, nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn trường tồn mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Ca ngợi, đánh giá tích cực đối với sự kiện này, luôn là chiều hướng chủ đạo, được thế giới quan tâm, thừa nhận trong suốt những năm qua. Chúng ta đều biết, lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh, nhưng chưa bao giờ dân tộc ta lại phải đương đầu với đội quân xâm lược hơn hẳn ta về nhiều phương diện như đế quốc Mỹ. Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược thực sự là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nhân dân, quân đội Việt Nam. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là một trong những mốc son vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX, bản thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh, được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, xem đó như một biểu tượng của tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược.
2. Sự thất bại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một tất yếu không thể tránh khỏi. Thực tế, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ khởi xướng có sự tiếp tay của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đã thất bại thảm hại vào 30/4/1975 là một tất yếu không tránh khỏi. Nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn tới thất bại, trước hết, đó là một cuộc ch.i.ến tra.nh phi nghĩa, vô cùng tàn bạo. Từ lâu, Mỹ đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn chiến lược, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Họ cần có một chính phủ chống Cộng, biết nghe lời và phục vụ đắc lực cho mưu đồ bá chủ thế giới. Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, trong khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình, thì ngay từ đầu, Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm, sau đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu đã rắp tâm tìm mọi cách chia cắt, phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước. Các yêu cầu đàm phán, tiến tới Tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam – Bắc liên tiếp được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra nhưng đều bị từ chối. Thay vào đó, các chiến dịch lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, những đảng viên Cộng sản, những ai mong muốn thống nhất đất nước. Tiếp đó, các chiến lược: “Ch.i.ến tr.a.nh đặc biệt”, “Chi.ến tr.anh cục bộ” và “Việt Nam hóa chi.ến tra.nh tàn phá miền Nam, tiêu diệt phong trào đấu tranh của quần chúng, nhằm thực hiện mưu đồ áp đặt cai trị của chúng.
Đã từng phải chịu đựng những thử thách, hy sinh bởi chiến tranh, chia rẽ vùng miền và sự thống trị của ngoại bang, nên hơn ai hết, người dân Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam đã tranh thủ mọi thời cơ để gìn giữ, bảo vệ những giá trị đó, nhưng Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã chà đạp, phá hoại những nguyện vọng thiêng liêng chính đáng của nhân dân Việt Nam, buộc chúng ta không còn lựa chọn nào khác là phải tiếp tục chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua hơn 20 năm, vượt qua vô vàn gian khổ, h.y si.nh, dân tộc Việt Nam đã chiến thắng một đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng hậu hàng đầu thế giới.
3. Lịch sử là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vậy mà vẫn còn những tiếng nói lạc lõng cố tình phủ nhận sự thật lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến, thù địch. Tìm cách đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã không tiếc m.áu xương h.y si.nh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Ch.iến tr.anh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng cả thế giới đã ghi nhận. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó, có cả các quốc gia từng trực tiếp tham gia chi.ến tra.nh xâm lược Việt Nam, nay cùng hợp tác, phát triển. Thế nhưng, vẫn còn một số người, mỗi khi đến dịp 30/4, họ lại tìm cách khuấy lên sự thù hận với các lý lẽ, luận điệu phi lý, ngụy biện, sống sượng xung quanh vấn đề tính chất của cuộc chi.ến tra.nh. Sự can thiệp trắng trợn, vô nhân đạo của đế quốc Mỹ vào chủ quyền của dân tộc Việt Nam được họ coi là một hành động để bảo vệ nền dân chủ. Những người theo chân Đế quốc Mỹ phản bội Tổ quốc, tàn sát đồng bào mình lại được họ coi là một sự lựa chọn đúng, là một lý tưởng cao đẹp. Họ cố tình đặt điều, lấp liếm cho hành động xâm lược, rằng: miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến. Có người còn cho rằng: không cần phải phát động chi.ến tra.nh, không cần phải h.y si.nh xương m.áu đồng bào một cách vô nghĩa, đến một lúc nào đó thực dân đế quốc tự phải trả lại chủ quyền đất nước, v.v.. Thật là xằng bậy! Sự ngụy biện tùy tiện, đổi trắng thay đen diễn ra ở một số người tự xưng là “có tâm với nước, với dân”, thật là đê tiện, không biết hổ thẹn. Tuy nhiên, chân lý chỉ có một, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước đo chân lý chuẩn xác, bác bỏ mọi xuyên tạc sai sự thật.
NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN
Hoàng Ngân tên thật là Phạm Thị Vân, sinh năm 1921, trong một gia đình tiểu thương yêu nước tại phố Chavassieux (nay là phố Quang Trung), thành phố Hải Phòng. Cha chị là nhà tư sản dân tộc Phạm Trung Long và mẹ là bà Vũ Thị Đỗi. Từ năm 1935, gia đình chị đã là cơ sở bí mật của Thành ủy Hải Phòng và Xứ ủy Bắc Kỳ - nơi các đồng chí lão thành cách mạng như Tô Hiệu, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ... thường xuyên lui tới.
14 tuổi, chị đã tham gia chuyển thư từ, công văn cho tổ chức và hăng hái tham gia các phong trào cách mạng. Năm 17 tuổi, chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và đảm nhận việc liên lạc giữa Xứ ủy Bắc Kỳ với Trung ương Đảng và là một trong những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Hải Phòng.
Ngày 1/5/1938, hàng ngàn công nhân ở Hải Phòng tổ chức đình công, biểu tình. Chị được giao nhiệm vụ quyên góp tiền, lương thực từ các gia đình và cơ sở quần chúng yêu nước tiếp tế cho cuộc đấu tranh, được báo chí Đông Dương và Pháp đưa tin.
Ngày 30/5/1939, hơn một vạn nhân dân thành phố Hải Phòng tập trung biểu tình tại ngã tư phố Bắc Ninh (nay là phố Lãn Ông), sau đó kéo lên Tòa Đốc Ký đấu tranh. Khi đoàn biểu tình đến Sở Cẩm thì bị binh lính và cảnh sát đàn áp. Hàng trăm người bị bắt giữ, trong đó có đồng chí Tô Hiệu – Bí thư Thành ủy và đồng chí Hoàng Ngân.
Tháng 01/1941, chị bị địch bắt và kết án 12 năm tù giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Trong tù, dù bị địch tra tấn dã man nhưng chị vẫn một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và kiên cường vận động các tù binh đấu tranh.
Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chị vượt ngục, tiếp tục nhiệm vụ Bí thư Đoàn Phụ nữ cứu quốc Hà Nội, thành ủy viên Đảng bộ Hà Nội. Chị tích cực tổ chức Đội nữ du kích Minh Khai, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Trong hai năm 1946 - 1947, Hoàng Ngân được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về làm Bí thư Đoàn Phụ nữ cứu quốc tỉnh Hải Dương rồi làm Khu ủy viên Khu III phụ trách công tác dân vận và Khu hội phụ nữ. Cuối năm 1947, chị là Bí thư Trung ương lâm thời Đoàn Phụ nữ cứu quốc Việt Nam, Bí thư Ban Phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ...
Mặc dù sức khỏe bị giảm sút do ảnh hưởng thời gian bị địch tra tấn, song chị vẫn tích cực vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào cách mạng, sáng lập ra tờ báo “Tiếng gọi phụ nữ” (Tiền thân của báo Phụ nữ Việt Nam) với nhiều bài xã luận gây tiếng vang lớn.
Ngày 17/7/1949, sau một cơn sốt rét ác tính, chị Hoàng Ngân đã qua đời tại chiến khu Việt Bắc khi mới tròn 28 tuổi.
Sự ra đi của chị để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng chí, bạn bè, đồng thời thôi thúc phụ nữ cả nước đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp. Ngày 9/2/1950, tại Thái Bình, Tỉnh ủy Hưng Yên họp Hội nghị đặc biệt ra Nghị quyết xây dựng đội nữ du kích Hoàng Ngân, mở trường đào tạo nữ cán bộ du kích Hoàng Ngân.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các đội nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên đã giữ vai trò quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân, cùng quân dân trong tỉnh đánh hơn 1.000 trận, hàng trăm nữ du kích đã chiến đấu và anh dũng hi sinh.
Đảng nghiêm minh - Đảng mạnh, dân tin
Thời gian qua, nhân việc Đảng và Nhà nước ta kịp thời phát hiện và xử lý
kỷ luật những cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp, cán bộ, đảng
viên diện do Trung ương quản lý vi phạm kỷ luật của Đảng; các thế lực thù địch,
phản động, cơ hội chính trị trong nước và nước ngoài lại ráo riết tìm mọi cách
để chống phá. Vẫn chiêu bài sử dụng triệt để Internet, chúng lập các tài khoản
ảo, tài khoản mạo danh trên mạng xã hội để tập trung viết các bài vu khống, lôi
kéo những phần tử xấu tham gia phỏng vấn rồi dàn dựng, cắt ghép tạo các clip
với nội dung sai trái tung tràn ngập trên Youtube phục vụ ý đồ gây loạn nhiễu
nguồn tin chính thống, đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin cho rằng việc xử lý
những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước là cuộc đấu đá nội bộ
giữa các phe phái trong Đảng…
Chúng
ta phải biết rằng, kỷ luật là thể hiện sự nghiêm minh của Đảng. Mọi đảng viên
đều tự nguyện, tự giác tuân thủ từ khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Không
chỉ bây giờ mà 88 năm qua, nhờ có kỷ luật nghiêm minh mà Đảng Cộng sản Việt Nam
mạnh hơn, nhân nhân đặt lòng tin vào Đảng vững chãi hơn. Việc thi hành kỷ luật
trong Đảng là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật
của Đảng, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu
của Đảng; là cơ sở để giáo dục tổ chức đảng và đảng viên; là điều kiện để xây
dựng, phát triển đất nước. Việc xử lý kỷ luật là biện pháp cuối cùng, đồng thời
cũng là nỗi đau xót không chỉ cho mỗi tổ chức Đảng, đảng viên mà là nỗi đau
chung của nhân dân. Tuy nhiên, nếu Đảng không nghiêm minh, nếu Đảng không áp
dụng biện pháp cuối cùng ấy, Đảng không chỉ mắc tội với chính Đảng, với nhân
dân, với sự tồn vong của sự nghiệp cách mạng mà vô hình chung, Đảng lại chính
là nơi đẩy đồng chí của mình sa ngã sâu hơn vào con đường lầm lỗi.
Đảng
ta khẳng định, kỷ luật Đảng là thể hiện sức mạnh của Đảng. Tuy nhiên, đồng hành
với pháp luật, ở bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, Đảng ta luôn coi trọng tính nhân
văn, đặt tình người và lẽ sống song hành khăng khít trong kỷ luật. Kỷ luật của
Đảng là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, kỷ luật của những người cùng chung một
lý tưởng, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng, sẵn sàng hi sinh vì lợi ích của
giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với
nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống
nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được thể hiện tập trung trong
các điều khoản của Điều lệ Đảng. Kỷ luật đó xuất phát từ ý chí của toàn Đảng
nhằm bảo đảm cho sự thống nhất, tập trung cao trong Đảng, đồng thời để phát huy
dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của toàn thể đảng viên và các tổ
chức đảng.
Đảng
Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Sức mạnh của Đảng được thể hiện ở tinh
thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của mỗi cán bộ, đảng viên. Kỷ
luật là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, làm cho mọi
cán bộ, đảng viên tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng mà có
gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết
điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa
chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân
chính”. Thấm nhuần lời dạy của Người, mọi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng đều
coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đối
với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự tồn vong của dân tộc Việt Nam để từ đó tận
tâm, tận lực, tự nguyện, tự giác ra sức thực hiện.
Lợi
dụng sự nghiêm minh của Đảng để “thọc gậy bánh xe”, bêu riếu, xuyên tạc chỉ có
ở kẻ xấu. Không coi cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để tăng cường sức mạnh của
Đảng, lòng tin của nhân dân với Đảng chỉ có ở những kẻ cơ hội chính trị thấp
hèn. Không muốn Đảng ta mạnh hơn, chân chính hơn để đủ sức lãnh đạo cách mạng
đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức chỉ có ở kẻ thù. Vậy nên, những kẻ
đi ngược lại con đường cách mạng chân chính của Đảng, đi ngược lại với tâm
nguyện và thành quả cách mạng mà Đảng ta, nhân dân và toàn dân tộc ta đã đổ bao
máu xương để giành, giữ và dựng xây đều đáng phải lên án, vạch mặt.
Không làm ngơ trước biểu hiện suy thoái “thích được đề cao, ca ngợi”
Cổ kim đông tây từng đúc kết,
những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực,
khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt
mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh
mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan
nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể
làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một
trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4,
khóa XII của Đảng đã chỉ ra.
Từ
những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn
lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận
quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần
này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về”
vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để
lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng
suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được
tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần
bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại,
những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a
dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê
đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi
người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh
nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến
cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do
những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị
vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự
nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ”
của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo,
cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng
giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại
khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái
(1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc
gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại
nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn
trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng
tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.
“Tôn
nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu
không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó,
xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ
phận quan chức thời nay
Thực
ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là
một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong
cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập,
lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng
mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn
lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp
dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không
phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không
phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đến
nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu
khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện
tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt
ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường
là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn
tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có
tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý
thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà
khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt”
cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những
lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.
Không
những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung
hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ
nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không
hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ
để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng,
cương trực
Trong
những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua
thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười",
"đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng
tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi”
với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ,
giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy
hiểm lúc nào không hay.
Thực
tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn
sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ
miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng
tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng,
quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách
của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có
thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ
kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai
những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô,
nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh
mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một
trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là
nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta,
người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù
của ta vậy”.
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của
một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu
nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán
bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi
nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí
khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục
quần chúng.
Để
không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề
cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng,
khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng
của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật”
vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe,
coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường
để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp
những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân
cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng
đồng nơi cư trú.
Một
việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ
lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc
chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi
người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày
tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái
sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”,
“mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ
cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng
xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.


