Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

Thời đại bùng nổ thông tin trên Facebook, Zalo... Đảng viên nên làm gì?

Chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ, thời đại mà báo giấy đang ít dần quan tâm của độc giả, thay vào đó là sự bùng nổ thông tin từ những trang báo mạng, blog hay thậm chí là những dòng “status” trên các mạng xã hội lớn như Facebook, Instagram, Zalo... Đứng trước thực tế như vậy, một câu hỏi chẳng phải của riêng ai được đưa ra là: Người đảng viên nên làm gì để có thể ngăn chặn được thực trạng này?

Từ thực trạng hiện nay...

Chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ, thời đại mà báo giấy đang dần mất đi sự quan tâm của độc giả, thay vào đó là sự bùng nổ thông tin  từ những trang báo mạng, blog hay thậm chí là những dòng “status” trên các mạng xã hội lớn như Facebook, Instagram, Zalo... Có thể nói, trong thời đại hiện nay, việc tự do thông tin, tự do nói lên quan điểm cá nhân của mọi người cũng dễ dàng như việc thưởng thức một tách cà phê vậy, chính vì thế mà các nguồn thông tin trở nên đa dạng, đa chiều hơn. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích là giúp mọi người tiếp cận tin tức một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn, thì một số bộ phận có ý đồ xấu lại lợi dụng điều này để tung ra những tin đồn không chính thống, sai lệch thực tế, mang tính chất tiêu cực, và kích động người dân nói chung và một số bộ phận đảng viên nói riêng quay lưng với Đảng, Nhà nước, tiếp tay vào các hoạt động tuyên truyền, phát tán nội dung xấu sai sự thật. Điều đáng sợ là, tiếng lành thì chẳng đồn xa trong khi tiếng xấu thì lại gợi lên cảm giác tò mò, muốn tìm hiểu, muốn đưa ra ý kiến cá nhân dễ dẫn đến mất đoàn kết, mất định hướng và nghiêm trọng hơn là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số bộ phận đảng viên nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung. Đứng trước thực tế như vậy, một câu hỏi chẳng phải của riêng ai được đưa ra là: Người đảng viên nên làm gì để có thể ngăn chặn được thực trạng này?

Hãy là người tiếp nhận thông tin thông thái

Chúng ta là con người có thể nghe được từ nhiều phía, nhiều chiều, tiếp nhận thông tin cũng vậy. Khi đón nhật một thông tin mới, chúng ta cũng nên tiếp nhận theo nhiều chiều, khách quan kết hợp với tổng hợp, phân tích dựa trên các nguồn đưa thông tin để đưa ra kết luận cuối cùng cho nhận thức của bản thân. Đương nhiên, việc đưa ra kết luận cuối cùng còn cần chúng ta phải kết hợp đôi tai lắng nghe với một cái đầu phân tích, cùng một trái tim thấu hiểu, luôn giữ vững lập trường, quan điểm, không dễ dàng bị lung lay, kích động bởi các phần tử xấu trong xã hội. Tuy nhiên, nếu như đối với thông tin nào cũng phải phân tích như vậy thì dường như việc tiếp nhận thông tin lại trở nên quá nặng nề, mệt mỏi. Chính vì thế mà một phương pháp dễ dàng hơn được đưa ra, đó chính lã hãy tìm cho bản thân một vài nguồn cung cấp thông tin có thể tin tưởng được như những trang tin điện tử có xuất bản từ báo in, báo mạng, trang đã được kiểm duyệt hoặc của cơ quan nhà nước để có được một thông tin chính xác.

Đừng im lặng

Là đảng viên, chúng ta mang trong mình trách nhiệm lan tỏa và kết nối cộng đồng. Trong thời đại công nghệ số, chỉ với một bấm chuột đơn giản, ai cũng có thể bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân của mình về một vấn đề nào đó. Những cá nhân, tổ chức có ý đồ xấu đã lợi dụng việc tự do ngôn luận này để phát tán những nội dung xấu. Điều này rất dễ nhận thấy khi trên Facebook xuất hiện nhan nhản những bài viết chia sẻ về những đầu báo, trang veb mang mục đích chống đối, kèm theo những dòng suy nghĩ của người chia sẻ mà chủ yếu là  bày tỏ bất mãn với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vậy nên tại sao những người đảng viên chúng ta không áp dụng tương tự những thao tác đó, để nói lên suy nghĩ, lập trường của bản thân, củng cố cho quan điểm của Đảng và Nhà nước, lan tỏa chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước đến cộng đồng? Nếu mỗi người đều chia sẽ những thông tin tốt, những thông tin chính xác và lạc quan, tin tưởng rằng những thông tin này sẽ lấn át được những tin đồn thất thiệt, nhảm nhí, góp phần định hướng dư luận, nhận thức cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là định hướng tư tưởng cho giới trẻ, những mầm non tương lai của đất nước.

Nhìn ra nước bạn – tin tưởng vào các cơ quan chức năng

Trên thế giới, có không ít quốc gia quản lý chặt chẽ về việc truyền tải nội dung trên trang mạng cũng như nhật báo. Ví dụ như Myanmar, chính quyền sở hữu tất cả nhật báo và chương trình phát thanh, cùng với ba kênh truyền hình. Các phương tiện truyền thông không dám nhắc tới hay làm báo cáo độc lập về những ý kiến chống chính phủ. Số ít chủ sở hữu các ấn phẩm tư nhân phải gửi nội dung cho Hội đồng Giám sát Báo chí phê duyệt trước khi công bố; việc trì hoãn kiểm duyệt đồng nghĩa với việc sẽ không có ai xuất bản theo lẽ thường. Vào năm 2005, chính quyền đã tiến hành kiểm soát Bagan Cybertech, nhà cung cấp dịch vụ internet và truyền hình vệ tinh chính ở Myanmar. Người dân bị bắt vì nghe đài BBC hay Đài Á châu Tự do nơi công cộng. Hay nước bạn Cuba. Hiến pháp Cuba trao cho Đảng Cộng sản quyền kiểm soát báo chí; nhìn nhận “tự do ngôn luận và tự do báo chí phải phù hợp các mục tiêu xã hội chủ nghĩa”. Chính quyền sở hữu và kiểm soát mọi cơ quan truyền thông và hạn chế truy cập Internet. Bốn kênh truyền hình, hai cơ quan báo chí, hàng chục đài phát thanh, ít nhất bốn trang web đưa tin và ba tờ báo chính thể hiện quan điểm của Đảng cộng sản Cu-Ba và các tổ chức đoàn thể khác dưới sự kiểm soát của chính phủ. Ngay nước bên cạnh chúng ta là Trung Quốc, Quốc hội Trung Quốc đã bỏ phiếu cho các luật về kiểm duyệt thông tin trên mạng Internet. Trung Quốc đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thực hiện công tác kiểm duyệt, lọc thông tin thông qua các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Trên thực tế, có thể được kiểm chứng bằng hiện tượng một số trang web hoàn toàn hoặc ở nhiều thời điểm không thể truy cập được. Mặt khác, với sự hợp tác chủ động của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn trong khu vực châu Á (như Goole) nhằm chỉ cho phép tiếp cận những thông tin mà chính phủ Trung Quốc cho là tốt đẹp. Những tin tức có nguồn gốc nước ngoài, đặc biệt là những trang có diễn đàn, phát hiện bất kỳ trang nào là có thể bỏ tù người quản trị. Cụ thể những biện pháp áp dụng như sau: Kiểm duyệt tự động các trang web, giám sát và tuyên truyền, tổ chức kiểm duyệt hàng tháng, hỗ trợ kỹ thuật của các công ty nước ngoài đối với việc kiểm soát, người dân phải khai tên thật khi dùng mạng và phát biểu trên mạng, nhà nước kiểm soát Web ngoại quốc.

Nói tóm lại, trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại, chúng ta những đảng viên phải giữ vững tư tưởng lập trường vững vàng. Có niềm tin tuyệt đối vào chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước. Không ngừng lên tiếng, đóng góp xây dựng Đảng vững mạnh.

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

1. Thời gian qua, có một số người phê phán, thậm chí phủ nhận quan điểm “nghệ sĩ là chiến sĩ, văn nghệ là một bộ phận của công tác tư tưởng-văn hóa Đảng”, vì họ cho rằng do xuất phát từ quan niệm này mà Đảng đã giao cho văn nghệ nhiệm vụ phản ánh những vấn đề của đời sống theo chủ trương của Đảng, chủ trương này đã làm hạn chế, thậm chí tước bỏ sự phong phú, đa dạng của đời sống văn nghệ. Cần phải hiểu đúng bản chất của quan điểm nêu trên. Chủ trương là thế, còn chất lượng phản ánh thế nào lại phụ thuộc vào tài năng và năng lực sáng tạo của nghệ sĩ, vì trên định hướng ấy, chất lượng sáng tạo của nghệ sĩ rất khác nhau, nó phụ thuộc vào trí tuệ, tài năng, tâm huyết của cá nhân mỗi người. Văn học hiện thực đề cao nguyên tắc phản ánh, tái hiện đời sống dưới góc độ “như bản thân đời sống” và nhiều nhà văn hiện thực đã để lại cho đời những tác phẩm sống mãi với thời gian, đã đụng đến những vấn đề mang tầm vóc nhân loại, được mọi xu hướng khác chủ nghĩa hiện thực coi là mẫu mực của sự phản ánh. Suốt đời L.Tolstoy coi cái thật là cái đẹp, ông tìm kiếm và thể hiện nó theo cách của mình. Văn học cách mạng đề cao phản ánh những tấm gương lao động, chiến đấu vì đất nước, cộng đồng. Cũng không có nghệ sĩ nào cho rằng phản ánh đồng nghĩa với thấy gì ghi nấy, tác phẩm chỉ là sự sao chép đời sống mà thực ra từ bản chất, khi lựa chọn cái gì và phản ánh nó thế nào đã chứa đựng sự đánh giá, lựa chọn. Nhưng chất lượng của sự phản ánh phụ thuộc vào tài năng của nghệ sĩ và yêu cầu phản ánh không hề làm mất đi sự sáng tạo của chủ thể. Vấn đề là ở chỗ, tài năng của nghệ sĩ có đủ sức để phản ánh điều đó sâu sắc, đa dạng, hấp dẫn hay không, chứ không phải ở vấn đề phản ánh. Có nhà nghiên cứu văn hóa dân gian từng nói, văn học cách mạng ít vấn đề vì nó chỉ lo phản ánh những gì diễn ra trong thực tiễn; ít chiều sâu mở rộng ra các khía cạnh nằm ở tầng sâu dưới bề mặt cuộc sống nên đơn điệu. Ông đã dẫn chuyện “Bà bủ” của nhà thơ Tố Hữu chỉ là một bài thơ mô tả giản đơn một cuộc sống không có xung đột, không ẩn chứa những vấn đề mang ý nghĩa triết học, nhân sinh thì có gì để nghiên cứu? Thực ra trong bài thơ rất giản dị này của Tố Hữu vẫn phản ánh được mạch ngầm đang diễn ra của đời sống dưới cái bề ngoài giản dị không phải ai cũng nhận thấy; chiều sâu của đời sống, nhận thức và tình cảm con người giấu đi trong những biểu hiện chân chất, bình dị của chính đời sống lúc đó. Nhà thơ không chủ đích nói ra những điều ở đằng sau nhân vật trữ tình có phần đơn giản này, nhưng chỉ riêng sự miêu tả rất đúng tâm trạng của bà mẹ có con đi bộ đội trong một đêm mất ngủ vì lo cho con cũng thấy được cuộc sống đang chuyển động, ý thức con người đang thay đổi. Cái lo của bà bủ bắt đầu từ thương con “đánh giặc đường xa”, rồi đến thương những đồng đội của con mình. Nằm trong nhà nghe gió lạnh thổi ngoài hiên, bà nghĩ ngay đến những thiếu thốn mà con bà và đồng đội của nó đang phải chịu đựng. Cái mưa lạnh từ “chiến khu về” trong ý thức của bà có lý ở chỗ ấy chứ không phải sự gán ghép chính trị. Rồi bà căm thù thằng Tây bởi vì nó mà mẹ con bà xa nhau. Rồi bà tin con bà sẽ trở về. Nếu nhìn từ góc độ ấy (mà đó là điều có thực trong bài thơ, không cần bất cứ sự thêm thắt nào), sẽ thấy rằng văn học kháng chiến đã ghi lại được sự chuyển mình trong nhận thức của những người dân bình thường, điều trước đó chưa có. Đó là chiều sâu giá trị bài thơ “Bà bủ” của Tố Hữu. Cũng không ai có thể phủ nhận giá trị của bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi bởi những cảm xúc và cách viết mới mẻ, pha trộn giữa nhận thức về chiều sâu của truyền thống, lịch sử với những khát vọng của cả một dân tộc trong cuộc chiến đấu vì hạnh phúc làm người. Cảm hứng làm chủ, tư thế chủ nhân của hình tượng thơ xuyên suốt bài thơ là điểm tựa cho những suy nghĩ, cảm xúc khác về đất nước, dân tộc, con người: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Điệp khúc “của chúng ta” lần đầu tiên ngân lên với cảm hứng ấy trong thơ lại không mang những phẩm chất mới sao? Trong thơ lãng mạn trước đó vài năm, người ta chỉ thấy tâm trạng cô đơn, chán chường, bế tắc thì những cảm hứng mới này là một luồng sinh khí mới làm thay đổi mạch chủ đạo của thơ ca. Mới về cảm xúc, mới về tình cảm mà nếu không có cuộc cách mạng làm thay đổi địa vị của người dân mất nước thành người tự do thì nhà thơ khó mà viết được thế. Một vài ví dụ kể trên đều là sự phản ánh, là minh họa cho lòng yêu nước, cho phẩm chất chiến sĩ của người nghệ sĩ. Họ đi sâu vào đời sống, phát hiện ra những nét mới trong đời sống và ghi lại bằng những cảm xúc của mình cho mọi người thấy; động viên, cổ vũ cả dân tộc đứng lên chống kẻ thù chung lại không phải là giá trị sao? Có bao nhiêu nhà văn ở những nền văn học khác ở vào tình trạng tương tự đã làm được điều này? Ảnh minh họa tiết mục văn nghệ kháng chiến cách mạng. Ảnh: qdnd.vn Ảnh minh họa tiết mục văn nghệ kháng chiến cách mạng. Ảnh: qdnd.vn 2. Cùng với hiện thực kháng chiến, các văn nghệ sĩ đã làm một cuộc “lột xác” để về với nhân dân. Họ hiểu ra nhiều vấn đề bản chất của xã hội bất công bắt đầu từ thân phận nô lệ của người dân, từ địa vị mất nước. Họ đứng về phía đám đông một cách tự nguyện, đem ngòi bút của mình phụng sự cuộc kháng chiến kiến quốc theo đúng nghĩa của từ này. Họ hiểu rằng, vai trò chiến sĩ của mình là cần thiết cả ở trên trận tuyến chống quân thù lẫn trong cuộc cách mạng văn hóa là thay đổi ý thức dân tộc, nhận thức của cộng đồng là một sứ mệnh vẻ vang. Về bản chất, từ thời cổ đại, văn nghệ luôn động viên con người đấu tranh chống lại bất công, chống lại cái xấu, cái ác, đề cao những giá trị nhân đạo. Lớp nhà văn đi theo cách mạng nhận thấy giữa lý tưởng xã hội và mục tiêu của văn chương gặp nhau. Để làm tốt điều đó, họ không thể cứ “khép phòng văn hì hục viết” mà phải “từ chân trời một người” đến “chân trời của tất cả”. Đó là một thực tế không thể chối cãi và điều này về bản chất là một bước tiến để đưa văn nghệ về với công chúng, gắn bó văn nghệ với đời sống của đại chúng, đất nước, phụng sự số đông chứ không phải chỉ là thú riêng của một nhóm người sống tách ra khỏi những vấn đề sống còn của xã hội. Nói như Xuân Diệu thì quãng thời gian để từ chỗ “không quan tâm, không chủ nghĩa” đến chỗ hiểu được rằng: Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu;/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao là đoạn đường bỏ lại những “cái tôi riêng” nhỏ hẹp để đến với “cái ta chung” rộng lớn. Đó là một giá trị mà cuộc sống mới là nhân tố quan trọng thay đổi và đào luyện nên họ. Chính văn nghệ kháng chiến đã từ thực tế mà ghi lại được khoảnh khắc chân dung người lính đạt đến tầm vóc “tạc vào thế kỷ”, là “Dáng đứng Việt Nam” trong giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử hiện đại. 3. Lại có người đã khoác cho quan niệm coi “nghệ sĩ là chiến sĩ đồng nghĩa với việc biến họ thành công cụ, thành kẻ phát ngôn cho quan điểm của Đảng, làm cho họ mất tự do, làm cho ngọn lửa sáng tạo trong họ mất đi”. Nói thế rất võ đoán vì không có căn cứ, chưa nhìn thấy những quy luật sáng tạo đặc thù của văn nghệ; là đồng nhất định hướng tư tưởng chính trị với những quy luật sáng tạo đặc thù. Từ thời cổ đại, chưa bao giờ văn nghệ thoát ra khỏi những ràng buộc của hệ tư tưởng, thể chế. Họ là nghệ sĩ nhưng họ cũng là công dân. Cũng chưa từng có văn nghệ sĩ lớn nào tuyên bố rằng họ viết không bị câu thúc hay ràng buộc bởi các tư tưởng nào. Đại văn hào H.Balzac (Pháp) từng nói: “Tôi viết dưới ánh sáng của hai chân lý vĩnh cửu: Chúa và nền quân chủ chuyên chế”. Nhà thờ Thiên Chúa giáo đã lập tòa và kết tội chết Galileo chỉ vì ông dám dùng khoa học chứng minh giáo lý về trái đất và sự ra đời của con người trái với những kết luận khoa học. Những nhà văn lớn khác như L.Tolstoy, F.Dostoevsky (Nga) lại không hơn một lần bị chính quyền gây phiền phức, thậm chí bắt bỏ tù vì những quan điểm chính trị, xã hội trái với quan điểm của nhà cầm quyền. Thế mà những người thổi phồng một cách sai lầm về chuyện tự sáng tạo của nghệ sĩ lại cố tình quên đi những sự thực ấy, họ chỉ vin vào một số hạn chế của văn nghệ thời kỳ kháng chiến rồi “kết tội chính quyền, hạ thấp uy tín nhà văn” là không thỏa đáng, trái với bản chất khoa học và cũng rất thiếu nhân văn. Định hướng về vai trò chiến sĩ của người cầm bút không nên chỉ hiểu họ như một người lính chỉ biết phục tùng mệnh lệnh. Hiểu thế là thô thiển, sai lầm. Người nghệ sĩ thời nào cũng cần đứng ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, trong sự động viên mọi người vươn tới những gì tốt đẹp nhất vì đó là sứ mệnh, thiên chức của họ. Đó là một đòi hỏi chính đáng, là một nhiệm vụ cao cả mà xã hội, bạn đọc giao cho họ và kỳ vọng ở họ. Về bản chất, văn nghệ chân chính phải thuộc loại hàng hóa cao cấp, thuộc giá trị tinh hoa mà từ xưa đến nay chỉ có giới tinh hoa mới có thể dẫn dắt xã hội. Ở thời đại nào cũng thế. 4. Chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược không phải chỉ bằng phương tiện mà cái chính vẫn là con người, là tình yêu Tổ quốc, là sự yên ổn trong tâm hồn người lính, họ sẽ trở về vì ở hậu phương người thân của họ đang chờ. Cả hậu phương hướng ra tiền tuyến và ở tiền tuyến, mọi người cũng nghĩ đến hậu phương. Đó là điểm tựa tinh thần quan trọng, là niềm tin để họ chiến thắng. Văn nghệ kháng chiến đã làm được điều này và đó là một giá trị quốc gia, dân tộc, cộng đồng rất lớn, không mấy nền văn nghệ có được. Cái không khí nhà nhà ra trận, người người ra trận như ở bài thơ “Đường ra mặt trận” của Chính Hữu là thế. Nó không hề giả tạo mà nó nói được cái khí thế cả nước đánh giặc của một thời. Thậm chí, ở một bài thơ về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa rừng Trường Sơn của nhà thơ với cô gái trên đường ra trận trong cánh rừng lá đỏ ào ào rụng xuống, không đao to búa lớn gì nhưng người đọc vẫn cảm thấy cả quê hương cùng ra trận và điểm hẹn gặp nhau ở Sài Gòn là hoàn toàn tự nhiên vì đó là cái đích của cuộc chiến, ai ra trận cũng hiểu, ai cũng mong góp phần vào ngày tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Nói như Tố Hữu: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”, tư tưởng ấy thấm sâu vào mọi người dân, đạo đức xã hội lúc đó là hiểu thấu nghĩa vụ và trách nhiệm trước lịch sử. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, văn nghệ thời kháng chiến cách mạng đã làm rất tốt nghĩa vụ là một bộ phận của cuộc cách mạng và đội ngũ văn nghệ sĩ đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm công dân trước đất nước. Xét từ cơ sở xã hội, tư tưởng triết học đến những vấn đề về đạo đức xã hội hay mỹ học thì văn nghệ cách mạng đã tạo ra những hệ giá trị cho thời đại. Làm được như thế là một kỳ tích của văn nghệ cách mạng. Giá trị ấy không bao giờ cũ. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu của cả xã hội, nhưng những đường hướng đến đích cần phải được tất cả mọi người dân đồng lòng. Thực hiện nhiệm vụ này có vai trò to lớn của văn nghệ. Trách nhiệm xã hội và về bản chất của văn nghệ điều này chưa hề cũ. Chúng ta xây dựng hệ giá trị mới là do yêu cầu của hiện tại và tương lai, nhưng cũng phải căn cứ vào truyền thống để hoạch định bước đi cho cả dân tộc. Có những giá trị chỉ có ý nghĩa trong những thời điểm cụ thể, nhưng cũng có những giá trị không thay đổi. Những gì văn nghệ cách mạng đã làm được với đất nước, với nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc không hề cũ vì nó đã khơi dậy sự đồng lòng, tình yêu Tổ quốc, nhân dân; nó có mặt ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy thì không bao giờ cũ. Nền văn nghệ cách mạng vẫn là một trong những điểm tựa cho ý thức dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

Vài suy nghĩ về sử dụng MXH của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay

Mạng xã hội (MXH) và việc sử dụng MXH là một vấn đề “nóng bỏng”, có nhiều tranh cãi về những mặt tích cực cũng như hệ lụy của nó trong điều kiện xã hội “bùng nổ thông tin” hiện nay.

Ở Việt Nam, MXH xuất hiện sau mạng thông tin toàn cầu (Internet) nhưng mức độ phát triển về số lượng người dùng và ảnh hưởng của nó đang là vấn đề đặc biệt quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý.

Khi sử dụng MXH, hành vi và động cơ hành vi của người dùng rất đa dạng. Bên cạnh giao tiếp bằng hữu, chia sẻ kinh nghiệm, niềm vui trong cuộc sống; quảng bá thương hiệu sản phẩm... hành vi nói xấu, đả kích, bôi nhọ người khác, đăng tin giả... cũng đã và đang xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội gây ảnh hưởng nhiều mặt của đời sống văn hóa, tư tưởng, đạo đức xã hội, nhất là những chủ thể chịu tác động trực tiếp bởi các thông tin tiêu cực. Theo suy nghĩ cá nhân, cán bộ, công chức, viên chức – mặc dù chưa phải là nhóm xã hội có mức sống cao hiện nay – nhưng cũng là lực lượng không nhỏ có điều kiện tham gia MXH với cả hai hình thức gồm máy tính (computer, Laptop) và điện thoại di động thông minh đa chức năng (smartphone).

Hệ thống chế tài đóng vai trò rất quan trọng trong điều chỉnh hành vi cá nhân nhưng điều quan trọng hơn cả là văn hóa ứng xử của mỗi người trong MXH. Chúng ta đã biết, hành vi ứng xử trên MXH cũng như hành vi ứng xử trong xã hội nói chung đã được quy định ở Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật hay đến hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Thế nhưng, như đã nêu trên, chúng ta đã và đang có nhiều điều lo lắng về ứng xử của người dùng trên MXH trong điều kiện việc xử lý của cơ quan công quyền, tổ chức đoàn thể, cộng đồng... còn nhiều bất cập. Nhận thức về những hệ lụy do hành vi tiêu cực mà mình có thể gây ra của người dùng MXH còn nhiều khác biệt, phức tạp gắn với lối sống cá nhân.
Là những người tham gia công tác ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, mỗi cán bộ, công chức cũng cần nhận thức đầy đủ về những mặt tích cực và tiêu cực khi sử dụng MXH, nhất là xác lập thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn của bản thân trong giao tiếp, tiếp nhận, xử lý thông tin trên MXH. Vừa không làm phương hại đến mọi chủ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp luật, đạo đức, văn hóa... vừa góp phần tích cực xây dựng một môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới. Vì vậy, mỗi người sử dụng MXH, trong đó có cán bộ, công chức, viên chức cần lưu tâm một số vấn đề:

- Có thái độ phù hợp trong tiếp cận, xử lý và tiếp nhận thông điệp được gửi đến. Thông điệp được gửi đến bởi chủ thể cụ thể (chủ tài khoản) trong MXH gắn với động cơ, mục đích đưa tin của người gửi. Sẽ càng tối ưu hơn trong phân tích tốt – xấu, đúng – sai nếu ngưỡi dùng nắm bắt được đời sống tâm lý – nhân cách của người gửi, nhất là người có tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên. Phân tích thông điệp bằng việc làm rõ ý nghĩa câu, từ, hình ảnh, video clip mà người gửi muốn nhắn gửi để có định hướng thái độ tiếp nhận/ không tiếp nhận; đồng tình/ phản bác...

- Thận trọng trong truyền đạt thông điệp trên MXH. Đăng tải thông điệp phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Không chia sẻ, bình luận thuận chiều với những thông điệp có nội dung sai trái, vu khống, giả tạo, kích động hành vi tiêu cực.

- Không đăng tải, chia sẻ thông điệp chưa được xác minh tính chân thực, nhất là thông điệp có nội dung làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; gây mất an ninh trật tự trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật...

- Mỗi cán bộ, công chức, viên chức cũng cần xác lập ý thức và thái độ đúng đắn xây dựng phong cách, văn hóa ứng xử không chỉ trong công việc mà còn trong sử dụng MXH; coi đó là một nội dung rèn luyện về đạo đức, tác phong, văn hóa ứng xử trong điều kiện mới hiện nay.

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn. Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta. Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN. Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Trưng bày sách chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ảnh: dangcongsan.vn Trưng bày sách chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ảnh: dangcongsan.vn Nhận diện để đấu tranh Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao. Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập Chủ nghĩa Mác với Chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng, sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của Mác, Ph.Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội. Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng XHCN”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai, dịch Covid-19... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: Kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội. Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên. Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái. Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn lợi dụng mạng xã hội làm công cụ để đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm sai trái, xuyên tạc. Ảnh: tuyengiao.phuyen.gov.vn Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn lợi dụng mạng xã hội làm công cụ để đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm sai trái, xuyên tạc. Ảnh: tuyengiao.phuyen.gov.vn Đề xuất một số giải pháp Những âm mưu, thủ đoạn trên có thể nhận diện được nhưng để tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả thì luôn cần có sự thông suốt, thống nhất tư tưởng, hành động trong toàn Đảng, tinh thần chiến đấu của từng đảng viên, sự thấu hiểu và ủng hộ của quần chúng nhân dân. Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp như sau: Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm. Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet. Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Muốn đấu tranh, trước hết phải tránh xa cám dỗ, thói hư, tật xấu, xây dựng đạo đức thực thi công vụ trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kiên trì, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước. Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực tiễn và thành quả sự nghiệp đổi mới phủ nhận luận điệu xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1. Trong diễn văn kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có những con người được sinh ra, được hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng ấy đã phủ nhận, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và phủ nhận thành quả cách mạng của nhân dân ta. Họ cho rằng, nếu không đi theo con đường XHCN thì dân tộc Việt Nam đã không chậm phát triển, không có tham nhũng; rằng, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, đất nước sẽ phát triển nhanh, xã hội sẽ tiến bộ và công bằng. Thực chất, những luận điệu nêu trên, hoặc là quan điểm sai trái, thù địch, phản động; hoặc là không đủ khả năng nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại. Độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn Độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 2. Có thể khẳng định, từ khi lịch sử loài người xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, bất công, thì tình trạng chiến tranh, thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực, nô dịch cũng xuất hiện. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tình trạng ấy ngày càng trở nên gay gắt. Từ đó, những khát vọng, mong muốn được giải phóng của những giai cấp bị áp bức, bóc lột cũng xuất hiện. Nhiều thế hệ các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng tốt đẹp, nhân đạo, cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ những tư tưởng sơ khai của Aghit, Clêômen thế kỷ 3 trước Công nguyên đến những mô hình, hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh, tiến bộ hơn như T.Moro, G.Babớp, Xanhximông, Ph.Phurie, R.Owen, N.Đôbzôliubốp. Tư tưởng XHCN được khái quát thành hệ thống lý luận khoa học trong Chủ nghĩa Mác. Đến V.I.Lênin, lý luận đó là tiền đề cho sự ra đời CNXH hiện thực. CNXH được hiểu với 3 tư cách: Là một học thuyết, một phong trào cách mạng và một chế độ xã hội. Học thuyết, phong trào, chế độ ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người, chấm dứt bạo lực, cường quyền, chiến tranh; để phát triển toàn diện con người, để sự tự do của mỗi người là tiền đề cho sự tự do của tất cả mọi người. Xuất phát từ nhận thức rằng, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc, thì các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử đều dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Tình trạng này xuất hiện là do giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua bóc lột, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, về thực chất là sự bành trướng, áp bức bóc lột của giai cấp tư sản khi nó đã trở thành giai cấp lỗi thời về mặt lịch sử. Mặt khác, ở mỗi dân tộc nhất định, tính chất tiến bộ cách mạng hay bảo thủ, phản động của giai cấp giữ địa vị thống trị trong phương thức sản xuất sẽ quyết định tính chất của dân tộc. Giai cấp cách mạng, tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển của dân tộc theo hướng tiến bộ, cách mạng. Giai cấp lỗi thời, bảo thủ, lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm sự phát triển của chính dân tộc ấy. Chẳng hạn, sự thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản nói lên tính chất tư bản chủ nghĩa của dân tộc đó. Trong xã hội ấy không thể có tự do thực sự cho tất cả mọi người. Khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công thì dân tộc tư sản chuyển hóa thành dân tộc có tính chất XHCN. Dân tộc ấy thực hiện “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(2) cho tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(3) và “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Hơn nữa, chế độ XHCN ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Theo Hồ Chí Minh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(5). Chế độ chính trị của CNXH sẽ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong CNXH sẽ bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước XHCN sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu. Thực tế là, từ năm 1945 đến nay, không chỉ có Việt Nam giành được độc lập từ sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà có nhiều nước từ Á, Phi đến Mỹ Latin cũng giành được độc lập. Nhưng khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhiều nước vẫn chìm trong bạo lực, chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc, nghèo đói. Các nước ấy bị chi phối, thao túng, và thực sự không có độc lập, tự do. 3. Đến nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia phát triển, nhưng nếu tính từ năm 1945 thì nền độc lập của dân tộc Việt Nam mới được 78 năm và nếu tính từ năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới chấm dứt chiến tranh được 48 năm. Với từng ấy thời gian cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước thì còn quá ngắn so với chế độ tư bản đã có hơn 500 năm kiến tạo. Tuy nhiên, điều căn bản là, ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ mà ở đó “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong khi đó, với thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước, dân tộc và nhân dân Việt Nam ngày càng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong những năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới”. Cách mạng là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, gian khổ, vì cách mạng là thay chế độ xã hội cũ bằng xã hội mới. Lịch sử cho thấy, chiếm hữu nô lệ chỉ tan rã sau 400 năm từ khi xuất hiện mầm mống của chế độ phong kiến trong lòng nó. Giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến để xác lập địa vị thống trị của mình phải mất gần 300 năm, bắt đầu từ cách mạng tư sản Hà Lan (thế kỷ 16), đến tận khi vua Louis XVI lên đoạn đầu đài ở Pháp vào thế kỷ 18 thì chủ nghĩa phong kiến ở châu Âu về đại thể mới chấm dứt sự thống trị. Thậm chí, tàn dư của chế độ phong kiến còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, đúng như Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới”. Do vậy, độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc.

Sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về mạng xã hội ở Việt Nam

Trong bi cảnh tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch, phản động, những phần cơ hội chính trị trong nước liên kết với những phần tử cơ hội ở nước ngoài đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, thông qua việc đưa lên mạng Internet những thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu khống Việt Nam đàn áp mạng xã hội, ở Việt Nam không có tự do mạng xã hội hòng làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang.

Các phần tử phản động cho rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do mạng xã hội và mạng xã hội bị kiểm duyệt gắt gao. Cho đến khi chúng ta chính thức ra mắt mạng Lotus (một mạng xã hội của Việt Nam), thì nhiều đối tượng lại điên cuồng chống phá, cho rằng dùng mạng xã hội “của Việt Nam” như tự sắm dây trói mình. Trong những bài viết này, chúng đã sử dụng những luận điệu xuyên tạc cũ rích về tình hình tự do thông tin, tự do Internet, mạng xã hội nhằm mục đích chống phá nền dân chủ, công kích vào chế độ chính trị - xã hội ở Việt Nam. Chúng rêu rao rằng, mạng xã hội, đặc biệt là Facebook ngày càng trở thành vũ khí của Việt Nam để chống lại những ai bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa. Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, mưu toan dập tắt những tiếng nói bất đồng.

Phương tiện mà các thế lực thù địch sử dụng phổ biến nhất hiện nay là sử dụng các mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, Youtube...; chúng tận dụng tối đa tiện ích chat (trò chuyện), phản hồi thông tin (comment) trên mạng để kêu gọi độc giả tham gia trao đối ý kiến. Mục đích là cổ vũ những độc giả hưởng ứng, cổ súy, ủng hộ các quan điểm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời, chúng còn tạo lập các trang web được xây dựng chế độ mở, cho phép độc giả dễ dàng gửi bài viết trực tiếp, với dung lượng file lớn hoặc có thể cho phép có hạn chế một số người với điều kiện khai báo tài khoản (account) cụ thể để đăng tải bài viết trực tiếp trên các trang này... Với những tiện ích của mạng xã hội, các thông tin, các luận điệu, quan điểm sai trái được chúng cập nhật hằng ngày, hằng giờ với số lượng lớn, truyền tải và nhân rộng trên mạng, được các phần tử cơ hội chính trị, những người kém hiểu biết chia sẻ, phát tán, lan truyền rộng rãi trong xã hội. Tính nguy hiểm và tác động lớn từ các quan điểm sai trái là gây tâm lý bán tín, bán nghi, hoang mang, dao động, tạo sự phân tâm ở một bộ phận công chúng xã hội. Chúng còn tạo lập và huy động những tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, lập các website giả mạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo một số bộ ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng trong xã hội, để thông qua đó tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, từ đó kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập, biểu tình và có các hành vi vi phạm pháp luật...

Thực tế cho thấy, nhiều thông tin sai sự thật hay thông tin giả, thông tin bị xuyên tạc, bóp méo, thậm chí xấu độc, thường xuyên được lan truyền trên mạng xã hội, đã gây tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi của không ít người, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, an ninh trật tự của xã hội là do ý thức và trách nhiệm của người dùng mạng xã hội chưa cao. Sự lệch lạc trong nhận thức về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến sai lầm trong hành vi, tạo nên những mối nguy về an ninh, bất ổn chính trị, xã hội. Trong khi đó, một bộ phận người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thường có xu hướng quan tâm, thích (like) và chia sẻ (share) thông tin giật gân, tiêu cực, trái chiều hon thông tin tích cực, một cách cố tình hoặc vô ý thức, bất chấp các hậu quả. Nhiều người cho rằng, mạng xã hội là ảo, không phải chịu trách nhiệm về những phát ngôn, hành xử của mình. Tâm lý đó cộng hưởng với các công cụ được tạo ra để thu hút người dùng của mạng xã hội, cùng với sự bất cập, hạn chế trong quản lý của các cơ quan chức năng càng làm cho việc phát tán thông tin xấu, độc trở nên dễ dàng và nguy hiểm. Có thể nói, tác động xấu từ các thông tin trên mạng xã hội có thể dẫn đến những hậu quả trực tiếp, tức thì, nhưng cũng có những hậu quả len lỏi, lâu dài tích tụ vào ứng xử, lối sống, dần dần phá vỡ những hệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Những đổ vỡ về giá trị, những tổn thương về tâm lý ảnh hưởng đến đời sống mồi cá nhân, từ đó tác động đến ổn định chính trị, xã hội của quốc gia.

4. Âm mưu, thủ đoạn và hoạt động phá hoại tư tưởng của thế lực thù địch với thế hệ trẻ hiện nay

Giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, mạng xã hội xóa nhòa đi khoảng cách của các cá nhân, quốc gia, biên giới, lãnh thổ đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống của con người như: tính an toàn, chi phí thấp, dễ tiếp cận về mặt tâm lý, dễ lan truyền,... Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại lợi dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, mạng xã hội và những lỗ hổng, hạn chế trong khả năng kiểm soát của các cơ quan chức năng để chống phá cách mạng Việt Nam với những chiêu trò tinh vi, phức tạp đi kèm mức độ nguy hiểm khó lường.

Kể từ sau sự kiện sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động, chống đối trong và ngoài nước đã triệt để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, thực hiện âm mưu thâm độc “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, “tạo dựng ngọn cờ”, tổ chức “biểu tình bất bạo động” khi có thời cơ sẽ tiến hành kích động “gây bạo loạn, lật đổ” hoặc tiến hành “cách mạng màu” với nhiều tên gọi khác nhau... nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt  Nam, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào chế độ, vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, trong đó thế hệ trẻ - lực lượng trụ cột, tương lai của nước nhà không phải là ngoại lệ.

Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội hiện nay thường tập trung vào nhóm thanh thiếu niên không quan tâm đến tình hình chính trị - xã hội của đất nước, thiếu bản lĩnh chính trị, suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống để tấn công trực tiếp vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tìm mọi cách để chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là sai lầm; họ hoan hỉ, tung hô về “sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản” và “sự kết thúc của chủ nghĩa Mác”, ra sức tuyên truyền và cổ súy cho hệ tư tưởng và nền dân chủ tư sản; xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc quan hệ giữa nước ta với các nước khác trên thế giới; lợi dụng, lôi kéo những người dân bị thu hồi đất hoặc đang chịu tác động của ô nhiễm môi trường, những người nhẹ dạ, cả tin để kích động; tìm mọi cách để lập luận, chứng minh Đảng và Nhà nước ta không thực sự vì dân, chỉ có họ mới thực sự vì dân, vì nước, đứng ra đấu tranh để bảo vệ nhân dân; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ... lên án cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước tham nhũng, thiếu dũng khí, quyết tâm trong bảo vệ chủ quyền biển đảo... Khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đưa những vụ án lớn ra xét xử thì họ lại xuyên tạc đó là cuộc đấu đá giữa các phe phái trong Đảng, Nhà nước... Với những sản phẩm truyền thông được đầu tư kỹ lưỡng và được lan tỏa, không chỉ khiến những người dân trình độ thấp, ít thông tin bị mê hoặc mà ngay cả một bộ phận người dân có trình độ cao hơn cũng hoang mang, hoài nghi và tin theo, từ đó hình thành dư luận xã hội tiêu cực một cách sâu rộng. Thủ đoạn tinh vi, phức tạp này còn được kết hợp với thủ đoạn dựng lên và tung ra những tin đồn thất thiệt, những thông tin sai sự thật hoàn toàn hoặc một phần, được nhào nặn khéo léo để xuyên tạc và chia rẽ nội bộ ta. Bởi lẽ âm mưu của các thế lực thù địch đã rõ nét khi xác định đối tượng phá hoại tư tưởng là thế hệ trẻ, vì đây là những người có nhiều ước mơ, hoài bão, khát vọng được khẳng định, bứt phá, cống hiến và năng động, nhưng bản lĩnh và kinh nghiệm sống, kỹ năng mềm còn hạn chế, dễ bị vật chất cám dỗ, bị kích động từ những sự kiện chính trị, xã hội hoặc điểm nóng trong nước từ đó trở thành con cờ trong tay các thế lực chống phá.

Với âm mưu “khai thác các tiến bộ khoa học công nghệ để phá vỡ sự bưng bít thông tin của cộng sản”, thông qua các trang mạng giải trí có lượng người dùng lớn như Youtube, Google... hay các mạng xã hội như facebook, Tiktok, Twiter, Zalo,... các trang blog trực tuyến hoặc các website có máy chủ ở nước ngoài... Thế lực thù địch đã lập ra hàng nghìn trang web, forum chat text, xây dựng nhiều video, thậm chí dựng phim ngắn hoặc dài tập...  để phục vụ hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ. Một số trang điện tử của các tổ chức, cá nhân thù địch có lượng người truy cập, đăng tải bài viết, bình luận hoặc chia sẻ lên tới hàng trăm nghìn lượt như của tổ chức “Việt Tân”, Trương Châu Hữu Danh,  blog Thanh Hiếu Người buôn gió, danlambao.blogspot.com... đã tác động không nhỏ đến tư tưởng của thế hệ trẻ.

Đồng thời, các đối tượng thù địch cũng tìm cách tạo ảnh hưởng, cổ vũ, kích động một số KOL (Key Opinion Leader – người dẫn dắt thông tin) trong nước có sự nổi tiếng, ảnh hưởng trên mạng xã hội để phục vụ mục đích thâm độc của mình, như ĐNQ, NS, CHTV, N10TV... đây đều là những tài khoảng có hàng trăm nghìn fan cùng với hàng nghìn lượt theo dõi và tương tác mỗi ngày. Ngoài ra, chúng còn  chú ý sử dụng các chương trình phát thanh, truyền hình trên nền tảng dịch vụ Internet tuyên truyền, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hiện nay có hơn 400 tờ báo, tạp chí, gần 80 nhà xuất bản, 45 chương trình phát thanh, 05 chương trình truyền hình... đã và đang tiến hành tuyên truyền chống Việt Nam. Số đối tượng chống đối trong nước triệt để dụng các con đường khác nhau để tán phát các tài liệu dưới dạng bài viết lý luận chính trị, hồi kí, tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung sai trái, thù địch. Trong những năm gần đây, các phần tử cốt cán gia tăng phát triển lực lượng hòng “trẻ hóa” nhân sự để thay thế đội ngũ già yếu hoặc đã chết, một số đối tượng nổi bật như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định (đều là luật sư), Phạm Hồng Sơn (bác sĩ), Nguyễn Phương Anh (kỹ sư), Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tiến Trung (sinh năm 1983 – thạc sĩ tin học) được thay thế bằng các đối tượng Trần Hoàng Phúc, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Khiêm, Võ Minh Trí, Trần Vũ Anh Bình, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên... đây đều là những đối tượng trẻ tuổi nhưng sớm bị các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo nhằm “tạo dựng ngọn cờ” để làm thủ lĩnh các phong trào chống đối trong nước.

Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng người truy cập vào báo mạng, nhất là học sinh, sinh viên đang có xu thế tăng nhanh đột biến so với những năm trước đây, trong số những người thường xuyên truy cập mạng Internet đa số là học sinh, sinh viên, đây là một thực tiễn cần đặc biệt chú ý trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực, trong đó có vấn đề “tư tưởng chính trị”. Có thể thấy, trước mỗi sự kiện trọng đại của đất nước, các điểm nóng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thì các quan điểm sai trái, thù địch thường được các thế lực thù địch bên ngoài cùng với bọn chống đối bên trong in ấn, nhân bản, phát tán với số lượng lớn trên các trang mạng xã hội đã và đang gây phân tâm, lo lắng trong một bộ phận lớn thế hệ trẻ. Đáng chú ý, trong khi tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân ta vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đát nước thì có một số người do bị tác động, ảnh hưởng hoặc vô tình hoặc cố ý bị các thông tin xấu độc này chi phối, từ đó xuất hiện sự dao động, hoài nghi, thậm chí có hiện tượng phai nhạt lý tưởng cách mạng, đi đến phủ nhận quan điểm lãnh đạo của Đảng và thành quả cách mạng, tuyên bố “xám hối”, “ly khai” với học thuyết Mác – Lênin và con đường đi lên CNXH do Đảng ta lãnh đạo dưới sự lựa chọn sáng suốt của nhân dân Việt Nam, thậm chí còn cổ vũ, tâng bốc các học thuyết, trào lưu, trường phái học thuật, văn nghệ tư sản, đề cao cái tôi các nhân và lối sống ích kỷ...

Bên cạnh đó, một bộ phận thanh niên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, mắc phải bệnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị”, lại đề cao quan điểm “dân chủ tư sản”, sống thực dụng, tha hóa về nhân cách... nên đã sớm bị các thế lực thù địch lôi kéo, tham gia vào hàng ngũ của địch để biên tập, viết bài, xây dựng phóng sự nói xấu chế độ nhằm xin học bổng, hoặc tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn... 

Phương thức đấu tranh quốc phòng trên không gian mạng

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, những thành tựu của cuộc CMCN 4.0 đã mang lại nhiều lợi ích trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không gian mạng (KGM) đã trở thành môi trường tác chiến, có tác động mạnh mẽ đến hoạt động quốc phòng, an ninh. Để thực hiện đấu tranh quốc phòng trên KGM hiệu quả, cần giải quyết nhiều vấn đ; trong đó, phương thức đấu tranh là nội dung rất quan trọng, phương thức đấu tranh quốc phòng trên KGM cần xác định:

Thứ nhất, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ.

Sử dụng KGM để đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, ngoại giao, quân sự, an ninh, dân tộc, tôn giáo, theo một chiến lược chung; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Thường xuyên cảnh giác, đấu tranh chống quan điểm tư tưởng sai trái, các biểu hiện “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” lực lượng cơ hội chính trị; ngăn chặn tổ chức phản động móc nối, xâm nhập. Theo đó, KGM là nơi các thế lực thù địch tăng cường tận dụng để sử dụng nhiều thủ đoạn tiếp cận người dân quá mạng xã hội nhằm tiến hành âm mưu “diễn biến hòa bình”, kích động bạo loạn vũ trang chống phá Đảng, Nhà nước. Vì vậy, các lực lượng chuyên trách tác chiến KGM phải phát huy vai trò cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, huy động sức mạnh của nhân dân; tăng cưòng tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách đại đoàn kết dân tộc; đồng thời, phối hợp với lực lượng không chuyên trách tiến hành các biện pháp tuyên truyền, đấu tranh, ngăn chặn và bóc gỡ thông tin xấu độc, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng, nhất là mạng xã hội phổ biến, như: Facebook, youtube, twister, intasgram... bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình an ninh, chính trị và lợi ích quốc gia, dân tộc trên KGM.

Thứ hai, phòng chống các thách thức an ninh phi truyền thống.

Lực lượng tác chiến KGM phải thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo đúng các tình huống; kịp thời điều chình, bổ sung kế hoạch, phương án theo diễn biến, sự phát triển của tình hình. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chi huy, điều hành tập trung, thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ. Nhanh chóng triển khai hoạt động phòng, chống; vận dụng linh hoạt các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, quân sự, an ninh, thông tin; kịp thời xử trí các tình huống, bẳo vệ các mục tiêu, bảo vệ nhân dân, khắc phục hậu quả, khôi phục hoạt động bình thường, sẵn sàng đối phó với các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để phá hoại, xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững chủ quyền, tuân thủ quy định của pháp luật, bằo vệ bí mật quốc gia, bí mật quân sự trong hợp tác quốc tế, đối phó vối thách thức an ninh phi truyền thống. KGM tăng cường kết nối, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các ban, Bộ, ngành cũng như các tổ chức quốc tế trong xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống. KGM cần phải tạo lập cơ chế phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kịp thời để xử trí nhanh chóng các tình huống ngày càng gia tăng của an ninh phi truyền thống. Quan điểm về xây dựng KGM rộng khắp trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên KGM là cơ sở để thực hiện các phương thức khai thác hiệu quả KGM trong việc phối hợp, tạo sức mạch tổng hợp trong xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống.

Thứ ba, phòng chống chiến tranh thông tin, chiến tranh KGM.

Để phòng, chống hiệu quả chiến tranh thông tin, chiến tranh KGM, cần phải hình thành thế trận bảo vệ KGM, hệ thống dữ liệu thông tin, hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, điều hành đổng bộ, vững chắc, bí mật. sử dụng lực lượng tác chiến KGM làm nòng cốt, kết hợp với lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm của các ban, Bộ, ngành, chuyên gia trong các tổ chức xã hội, doanh nghiệp công nghệ thông tin, người Việt Nam d nước ngoài, hình thành lực lượng tổng hợp; dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng. Vận dụng tổng hợp các biện pháp chiến thuật, kỹ thuật, công nghệ trong phòng thủ, trinh sát, tấn cồng mạng, ngăn chặn, làm thất bại các biện pháp, thủ đoạn chiến tranh thông tin, chiến tranh KGM của đối phương; bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên KGM, bào vệ hệ thống thông tin lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Đẳng, Nhà nước, Quân đội. Kết hợp hoạt động tác chiến KGM với hoạt động quân sự, đánh trả, làm rối loạn chỉ huy, điều khiển vũ khí phương tiện chiến tranh của địch tại các khu vực, địa bàn tác chiến chủ yếu, góp phần đánh bại các hình thái chiến tranh xâm lược. Lực lượng tác chiến KGM tiến hành các biện pháp phòng thủ, đảm bảo an toàn mạng cho các hệ thống thông tin trọng yếu của Đảng, Nhà nước; tiến hành các hoạt động tác chiến KGM một cách chủ động, ngăn chặn, đập tan mọi hành động tiến hành chiến tranh thông tin, chiến tranh KGM của kẻ thù; phối hợp hoạt động tác chiến phối hợp với các lực lượng tác chiến khác để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Thứ tư, phòng chống xâm phạm chủ quyền, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc; xâm lấn biển, đảo, biên giới bằng biện pháp phi vũ trang.

Để phòng chống xâm phạm chủ quyền, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc; xâm lấn biển, đảo, biên giới bằng biện pháp phi vũ trang. Lực lượng tác chiến KGM cần dựa vào Nhân dân, huy động sức mạnh của Nhân dân; hình thành thế trận quốc phòng toàn dân gắn vối thế trận an ninh nhân dân rộng khắp, có trọng điểm. Phát huy vai trò nòng cốt trong thực thi, bảo vệ pháp luật của Cảnh sát biển phối hợp với Hải quân và các lực lượng khác, kịp thời phát hiện âm mưu, ngăn chặn hành động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Kiên quyết, kiên trì, kết hợp chặt chẽ đấu tranh trên thực địa với đấu tranh ngoại giao, pháp lý, thông tin, tuyên truyền; bảo vệ các hoạt động, hợp pháp, lợi ích của ta; tránh mắc mưu khiêu khích, tạo cớ gây xung đột vũ trang. Khu vực biên giới, cần hình thành thế trận biên phòng nhân dân trên cơ s thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ biên giới vững chắc. Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ đội Biên phòng, cùng với các lực lượng khác và nhân dân; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; quản lỷ chặt chẽ đường biên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hoạt đống xâm lấn, xâm phạm chủ quyền, phá hoại cột mốc, xâm nhập, xâm canh, xâm cư... Kết hợp chặt chẽ biện pháp nghiệp vụ, đấu tranh pháp lỹ, ngoại giao với đấu tranh trên các lĩnh vực khác; bảo vệ an ninh, an toàn tuyến biên giới, các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa khu vực biên giới. Ngay từ thời bình cũng như kh! xảy ra tranh chấp, tiến hành xâm lược lãnh thổ trong khu vực biển, đảo, biên giới... thế lực ngoại xâm tiến hành các hoạt động tạo cớ, vu khống làm tiền đề cho các hoạt động quân sự, đặc biệt là tuyên truyền, tung tin xấu độc, khiêu khích thông qua mạng xã hội, kích động chia rẽ, ngăn cản hoạt động bảo vệ chủ quyển của ta. Do vậy, hoạt động của lực lượng tác chiến KGM được tiến hành thường xuyên, liên tục để tạo thế chủ động, phòng thủ từ sớm, từ xa trước các âm mưu thủ đoạn trên KGM của kẻ thù.

Thứ năm, phòng, chống xung đột vũ trang phát triền thành chiến tranh xâm chiếm biển, đảo; biên giới, xung đột vũ trang trên biền, đảo.

Trong phòng, chống xung đột vũ trang phát triển thành chiến tranh xâm chiếm biển, đảo; biên giới, xung đột vũ trang trên biển, đảo. Theo đó, để đấu tranh quốc phòng trên KGM hiệu quả, lực lượng tác chiến KGM phải dựa vào thế trận phòng thủ các đảo, quần đảo; các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ven biển; thế bố trí Hải quân, cùng với các lực lượng khác, hình thành thế trận phòng thủ KGM vững chắc, có trọng điểm; kịp thời phát hiện âm mưu, ngăn chặn xung đột vũ trang, không để bị động, bất ngờ. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh trên các lĩnh vực, ngăn chặn, đánh bại các hành động xâm phạm chủ quyền, xâm chiếm đảo đá, bãi cạn, bảo vệ các mục tiêu trên biển, không để xung đột kéo dài, lan rộng.

Thứ sáu, phòng, chống chiến tranh xâm lược quy mô lớn.

Để phòng, chống chiến tranh xâm lược quy mô lớn, phương thức đấu tranh quốc phòng trên KGM là Đơn vị tác chiến KGM, phối hợp với các lực lượng làm nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu tiến hành các biện pháp trinh sát, tiến công KGM tạo lợi thế trong hoạt động tác chiến; mục tiêu là hệ thống trinh sát, sở chỉ huy, điểu khiển vũ khí và các hệ thống thông tin tác chiến của địch. Ngoài ra, là lực lượng nòng cốt trong ngăn chặn, đấu tranh, bóc gỡ, vô hiệu hóa các hoạt động tuyên truyền, kích động bạo loạn vũ trang của các thế lực thù địch trong và ngoài nước hỗ trợ cho hoạt động chiến tranh.

Thực hiện cơ chế Đng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quân sự, công an và các ban, ngành làm tham mưu; lãnh đạo, chỉ huy điểu hành tập trung, thống nhất; sử dụng lực lượng phù hợp với các tình huống, đối tượng; đấu tranh toàn diện, kết hợp chặt chẽ đấu tranh trên các lĩnh vực; trong thời bình lấy đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu; bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, địa bàn trọng điểm chiến lược. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương thức đấu tranh quốc phòng trên KGM góp phần nhanh chóng dập tắt bạo loạn; sẵn sàng đối phó với các tình huống đan xen, đổng thời, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.