Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

Những luận điệu xuyên tạc của RFA

 

Thời gian gần đây, các phần tử phản động, chống đối trong và ngoài nước luôn tìm cơ hội để phụ họa bình phẩm, xuyên tạc những bài phát biểu, những bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên trang Facebook: Đài Á Châu tự do RFA, bài viết: Hô hào “vô vọng” thu hút trí thức xây dựng đất nước của Tổng bí thư là điển hình cho sự xuyên tạc này.

Trong bài viết,  RFA cho rằng “….cách ứng xử của Nhà nước Việt Nam đối với những người tri thức nói riêng và với kiểu nói chung không phù hợp….”.

 Trước hết chúng ta cần khẳng định, đây là lời bại đặt, phản động, vô căn cứ. Bởỉ lẽ, trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Do đó, luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và khẳng định: Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng, quan tâm đến thu hút, tập hợp nguồn lực đội ngũ trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài nhằm tạo động lực mới đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

 Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin và internet, đòi hỏi đội ngũ trí thức phải vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Đảng, Nhà nước càng quan tâm đến xây dựng đội ngũ trí thức, cũng như đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng. Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức”.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung và đội ngũ trí thức là người Việt Nam ở nước nói riêng đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng, đóng góp tích cực vào việc hoạch định chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng đưa đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới; đồng thời, tiếp tục có những đóng góp quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển ngành KH&CN, nâng cao nhận thức xã hội, xây dựng và phát triển đất nước nhanh và bền vững.

 Những đóng góp của đội ngũ trí thức được chứng minh thông qua tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016-2020 là 5,8% (cao hơn mức 4,3%/năm của giai đoạn 2011-2015); tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam trong những năm gần đây liên tục tăng vượt bậc (năm 2020 xếp thứ 42/131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập và đứng thứ 3 trong ASEAN); hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam bắt đầu được hình thành và phát triển (hiện có khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam, lượng vốn được công bố đầu tư vào các doanh nghiêp khởi nghiệp sáng tạo đạt xấp xỉ 1 tỷ USD liên tiếp trong 2 năm gần đây); hệ thống sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng ngày càng hoàn thiện, góp phần khuyến khích hoạt động nghiên cứu sáng tạo trong nước, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.

Thực tế trên đã minh chứng, đường lối, quan điểm của Đảng ta về kêu gọi, thu hút đội ngũ tri thức về xây dựng đất nước là hoàn toàn đúng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự quan tâm, cách ứng xử của Nhà nước Việt Nam đối với đội ngũ tri thức Việt Nam nói chung và đội ngũ tri thức là người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng là rất bình đẳng, phù hợp, không miệt thị, coi thường như nhận định của Đài Á Châu tự do RFA đã đăng tải./.

ĐỂ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM: CẦN MỘT THỂ CHẾ THÔNG SUỐT, ĐỒNG BỘ!

         Kết luận 14 ngày 22/9/2021 về "Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung" đã ban hành được gần 2 năm; Bộ Nội vụ cũng đã dự thảo Nghị định và đang lấy ý kiến rộng rãi để cụ thể hóa. Nhưng từ chủ trương đến thực tiễn còn là một khoảng cách khá xa cần phải được thông suốt từ dưới lên trên và có sự đổi mới đồng bộ.

Kết luận 14 quy định: “Đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải báo cáo với người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác; được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm, bảo đảm không trái với Hiến pháp và Điều lệ Đảng”.

Trên thực tế, có ý kiến lo ngại, nếu cấp dưới chủ động đề xuất lên cấp trên, hoặc địa phương đề xuất Trung ương nhưng do chưa có chủ trương, chưa có quy định hoặc quy định không phù hợp thì sẽ rất ít, thậm chí không có vị lãnh đạo cấp trên nào dám đồng ý. Bởi vậy, cũng cần bổ sung thêm quy định nếu thấy cấp dưới đề xuất có căn cứ thực tiễn thì trong một thời hạn nhất định cấp trên “phải quyết” và phải trả lời rõ ràng mới có căn cứ để cấp dưới “dám làm”.

Hậu Giang là tỉnh được đánh giá là “dám nghĩ, dám làm” trong tinh giản biên chế. Ông Nguyễn Minh Trí - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh cho biết, trong thực hiện chủ trương, tỉnh nhận thấy một thực tế là việc tinh giản chỉ có giảm, không có tăng biên chế trong bộ máy sẽ dẫn tới nguy cơ lực lượng công chức, viên chức của tỉnh ngày một già đi không có người thay thế. Chính bởi vậy, Hậu Giang đã làm đề án, trong đó có việc đưa những người hoàn thành nhiệm vụ cả năm nhưng theo "Bộ tiêu chí đánh giá của tỉnh" thì thấp vào đối tượng tinh giản biên chế. Đề án được Ban chấp hành đảng bộ tỉnh thông qua và thống nhất, nhưng đến nay chưa dám triển khai, vì “chưa được cấp có thẩm quyền” đồng ý.

"Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp gặp Bộ trưởng Bộ Nội vụ thì được ủng hộ rất cao. Nhưng Ban Tổ chức Trung ương trả lời là, các đồng chí làm thì ủng hộ nhưng phải đúng quy định của pháp luật. Đồng chí Bí thư nói là dám nghĩ, dám làm nhưng không dám triển khai"- Giám đốc Sở Nội vụ Hậu Giang cho hay. 

Đồng bộ
hệ thống pháp luật
Theo Kết luận 14: “Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”. Dự thảo Nghị định do Bộ Nội vụ soạn thảo cũng cụ thể hóa nội dung này.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Nghị định phải đồng bộ với các luật khác, nếu không sẽ rất khó áp dụng. Một số chuyên gia cho rằng, cần “nâng” việc thể chế hóa Kết luận 14 bằng một đạo Luật hoặc một Thông tư liên ngành của các Cơ quan tư pháp thay vì dự thảo Nghị định của Chính phủ. Ý kiến này không phải không có lý, bởi luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định và khi xử lý thì phải căn cứ vào luật. Từ thực tiễn xét xử các vụ án liên quan cán bộ sai phạm, ông Lê Thanh Phong, Chánh án Tòa án nhân dân TP.HCM đặt vấn đề.

"Đây là vấn đề hết sức quan trọng vì Bộ Luật hình sự còn đó. Những gì vi phạm trên 100 triệu, không phân loại cố ý hay vô ý đều bị bắt giữ. Do đó, trước hết cần có thông tư liên ngành cấp Trung ương của ngành công an, quân sự, tòa án, viện kiểm sát để áp dụng cho Kết luận 14. Thí dụ đối với việc thực hiện những nhiệm vụ theo kết luận này, nếu sai thì không bị xử lý. Đó mới là hành lang pháp lý vững chắc"- ông Lê Thanh Phong nói.

Đổi mới
thanh tra, kiểm tra
Trong đại dịch COVID-19 ở TP.HCM, cả nước được chứng kiến hình ảnh một thành phố nghĩa tình, trách nhiệm và xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ mạnh dạn “vượt rào” vì dân. Nhưng khi đại dịch được kiểm soát, cuộc sống bình thường trở lại, cần sự bứt phá để phục hồi, thì không ít cán bộ “thúc thủ, cầu an”.

Từng nhiều năm lăn lộn ở cơ sở, ông Nguyễn Quyết Thắng, Bí thư Huyện ủy huyện Củ Chi, TP.HCM đúc kết: Để thực hiện đúng quy định của pháp luật trong công tác lãnh đạo và công tác chuyên môn đã khó, chứ dám vượt qua khuôn khổ hay làm trái quy định càng khó hơn. Riêng việc muốn sáng tạo, đột phá thì không ít trường hợp bắt buộc phải vượt qua các quy định và rất dễ bị sai. Và thực tế đã có không ít việc làm sáng tạo, đột phá có thể đúng với địa phương nhưng có thể không đúng với công tác thanh tra, kiểm tra của Trung ương.

"Thành phố có quy định có lợi cho người dân, vận dụng các quy định pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, áp dụng cho thành phố thì được nhưng thanh tra các Bộ, ngành vào thì người ta không chấp nhận. Người ta căn cứ vào thông tư, nghị định chứ không căn cứ vào quy định của thành phố. Cho nên chúng ta cần thể chế hóa các quy định để cán bộ mạnh dạn hơn trong đổi mới, sáng tạo"-ông Nguyễn Quyết Thắng nói.

Để kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí có hiệu quả, thời gian qua, công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường. Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng - Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực II cho rằng, trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán (kể cả điều tra), ngoài phát hiện những cá nhân, tổ chức làm trái quy định thì cần phải xem xét việc làm đó do ý chí chủ quan, do tư lợi cá nhân, hay làm vì lợi ích chung nhưng do chính sách không còn phù hợp với thực tiễn nên dẫn đến làm trái?

PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng kiến nghị, công tác thanh tra, kiểm tra cũng cần phải đổi mới: "Hiện nay chúng ta vẫn giữ những quy định cũ và khi giám sát, kiểm tra chỉ lấy quan điểm cũ ra. Mặc dù trong nội dung giám sát kiểm tra Đảng nói rất rõ, không chỉ kiểm tra sai phạm mà còn phải xem đường lối, chủ trương còn phù hợp nữa hay không. Và những người đó, nếu là người tốt thì phải bảo vệ họ, miễn là anh em không tư túi. Anh em làm vì cái tâm, vì sự phát triển".

Có thể thấy rằng, còn nhiều vấn đề đặt ra khi cụ thể hóa Kết luận 14. Đó là sự thống nhất đánh giá của các cấp, ngành từ địa phương đến Trung ương; sự đồng bộ của các văn bản pháp luật và đổi mới công tác thanh, kiểm tra, kiểm toán. Khi cơ chế đồng bộ, phù hợp đi vào cuộc sống, sẽ xuất hiện nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, góp phần “tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo được chuyển biến mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung” - như Kết luận 14 đề ra./.
Yêu nước ST.

 PHÁT HUY LỢI THẾ THỜI KỲ CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG

Quy mô dân số của Việt Nam hiện đứng thứ 15 thế giới, tốp 3 khu vực Đông Nam Á và hiện đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao. Thời kỳ dân số vàng là cơ hội “có một không hai” để các quốc gia phát triển kinh tế-xã hội. Nhưng muốn phát huy được cơ hội vàng đó, nguồn lao động này phải “vàng” về tri thức, kỹ năng và tay nghề thì mới biến giấc mơ “hóa rồng” thành hiện thực.

Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng từ năm 2007. Tuy nhiên, sự suy giảm tỷ lệ sinh và hạn chế mức sinh đang khiến cho quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh, dự báo Việt Nam sẽ trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2036.

Chất lượng lao động chưa cao

Theo các nhà nhân khẩu học, cơ cấu dân số vàng là thời kỳ mà tỷ lệ những người từ 15 tuổi đến 64 tuổi (những người có thể có khả năng lao động) từ chiếm 66% tổng số dân trở lên. Đây là cơ cấu rất hiếm gặp được đánh giá quý và hiếm như vàng.

GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Dân số và Các vấn đề xã hội (Trường đại học Kinh tế quốc dân) đánh giá giai đoạn cơ cấu dân số vàng của Việt Nam kéo dài từ 30 đến 35 năm. Hiện tỷ lệ người từ 15 đến 64 tuổi của nước ta là 67,5%, như vậy với quy mô khoảng 100 triệu dân, số người có khả năng lao động tương ứng là 67,5 triệu. Đây là dư lợi lớn về lao động do cơ cấu dân số vàng mang lại, tạo cơ hội cho tăng trưởng kinh tế nhanh. Nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc… đã có bước phát triển kinh tế “thần kỳ” trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng.

Tuy nhiên cơ cấu dân số vàng cũng chỉ mang lại cơ hội cho tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước. Để tận dụng được cơ hội này, những người trong độ tuổi lao động phải khỏe mạnh, đủ sức làm việc và phải đủ trình độ; những người đủ sức làm việc phải có việc làm và những người có việc làm phải làm việc với năng suất cao.

Hiện nay, lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm khoảng 30%, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển (khoảng 3% đến 4%). Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật còn thấp, là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến năng suất lao động của Việt Nam chưa cao... Vì vậy, nâng cao năng suất lao động đang là thách thức lớn nhất để đưa nền kinh tế của nước ta đột phá tăng trưởng nhanh hơn nữa, sớm trở thành nền kinh tế có thứ hạng cao trên thế giới, tương xứng với quy mô dân số.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến cuối năm 2022, cả nước có 51,7 triệu người trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, có tới 73,8% số người trong độ tuổi lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; chỉ 26,2% lao động có chuyên môn kỹ thuật (trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học). Tính đến quý I/2023, trong số 52,2 triệu người thuộc lực lượng lao động, vẫn có khoảng 38,1 triệu lao động chưa qua đào tạo. Điều này càng đặt ra những vấn đề cấp bách khi đất nước muốn ứng dụng công nghệ cao để tăng tốc phát triển.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Việt Nam chưa khai thác được hiệu quả lợi thế của cơ cấu dân số vàng. Nguyên nhân là do chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng suất lao động còn hạn chế. Chúng ta chưa tận dụng được nguồn lao động dồi dào mà chủ yếu là khai thác lao động giá rẻ và lao động giản đơn, hiện 33,2% việc làm kỹ năng thấp, chỉ có 11,2% việc làm kỹ năng cao (trung bình các nước phát triển trên thế giới là 20%).

Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế chưa hợp lý, lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ cao; số lượng lao động tăng nhanh nhưng ở khu vực phi chính thức; lao động thời vụ tăng nhưng hạn chế về kỹ năng… Thị trường lao động đang thiếu hụt lao động kỹ thuật trình độ cao, nhất là tại một số ngành dịch vụ như: Ngân hàng, tài chính, thông tin, viễn thông, du lịch và những ngành công nghiệp mới. Ngoài ra, thể lực của lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được cường độ làm việc cao và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tận dụng hai yếu tố “trẻ và lớn”

Dân số trẻ, quy mô lớn, nhưng mức thu nhập vẫn chỉ là trung bình thấp. Vậy làm thế nào để tận dụng hai yếu tố “trẻ và lớn” để nâng cao mức thu nhập cho người lao động đang là bài toán cần tìm lời giải. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Giang Thanh Long (Trường đại học Kinh tế quốc dân), nếu nhìn về cơ cấu, độ tuổi trong khoảng 100 triệu dân hiện nay, chúng ta có thể tận dụng được những tinh túy của dân số vàng hay không, đó là vấn đề cần phải bàn. Dân số vàng nhưng đồng thời cũng đang già.

Như một người đang ở tuổi 35-40, có nghĩa là khoảng hơn 20 năm nữa sẽ xếp vào khu vực dân số già. Nếu thời điểm này vẫn đang chung chiêng về nghề nghiệp thì gần như không có nguồn lực để lo tuổi già. Do đó, cần phát triển hệ thống y tế, giáo dục để thúc đẩy phát triển nhân lực, thể lực, trí lực, giúp người lao động Việt Nam được ra ở tuyến đầu và tuyến cuối của chuỗi sản xuất toàn cầu. Nếu nằm ở giữa chuỗi thì sẽ mãi thu nhập thấp, năng suất sẽ không tăng lên được.

Mục tiêu của nước ta là đến năm 2045 đạt thu nhập trung bình cao. Chúng ta đang có lợi thế cơ cấu dân số trẻ, với lực lượng nhân lực trong độ tuổi thanh niên 15-24 hiện có khoảng hơn 18 triệu người, nếu tận dụng tốt được lực lượng này chắc chắn đạt được tăng trưởng cao. Nhưng có tận dụng được hay không phụ thuộc nhiều vào chính sách.

Những chính sách đưa ra cần đồng bộ từ vĩ mô đến vi mô, từ các chính sách về kinh tế đến giáo dục, y tế, sức khỏe, an sinh xã hội để tạo ra một lực lượng lao động với sức khỏe tốt, chất lượng cuộc sống tốt, khi đó họ sẽ lao động, cống hiến, tạo năng suất lao động hiệu quả. Việt Nam cần chớp lấy thời cơ dân số vàng để phát triển vì cơ hội này sẽ không quay trở lại, nếu có phải ít nhất 100 đến 200 năm sau.

GS Nguyễn Đình Cử nêu rõ, đối với nước ta, xu hướng già hóa dân số đang diễn ra nhanh, nên giai đoạn cơ cấu dân số vàng chỉ kéo dài trong khoảng 30 năm. Hiện nay trật tự và hoạt động kinh tế thế giới đang thay đổi mạnh mẽ; gia tăng quá trình toàn cầu hóa dịch vụ; chuỗi cung ứng toàn cầu linh hoạt, ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy thương mại điện tử minh bạch là các yếu tố không thể tách rời với xu hướng phát triển bền vững. Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, để hội nhập thành công vào nền kinh tế toàn cầu và tận dụng thành công cơ hội của cơ cấu dân số vàng đòi hỏi lực lượng lao động phải “thật sự vàng” về tri thức và kỹ năng, tay nghề.

Do vậy, Chính phủ cần hoàn thiện thể chế, chính sách đồng bộ, thống nhất nhằm tạo dựng và nâng cao hiệu quả vận hành thị trường lao động linh hoạt, hội nhập và bền vững đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp, xu hướng chuyển đổi chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực. Cùng đó là chủ động đào tạo lại, đào tạo thích ứng cho lực lượng lao động đang làm việc; đồng thời thực hiện phương châm học suốt đời, học linh hoạt nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động.

Việt Nam đang khai thác lợi thế về cơ cấu dân số vàng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng để nắm bắt được cơ hội, tận dụng được thời cơ thì cần phải có những đột phá quan trọng về phát triển chất lượng nguồn nhân lực. Xét cho cùng, con người trong mọi lĩnh vực, trên mọi phương diện và ở mọi thời điểm luôn là yếu tố quyết định, bảo đảm thành công cho tất cả các mục tiêu.

Cần nâng cao nhận thức của công nhân, người lao động để họ thấy rõ việc học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp vừa là quyền lợi vừa là yêu cầu để bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh... Đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn, tạo việc làm cho lực lượng lao động trẻ, thanh niên.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi lĩnh vực giáo dục phải thay đổi mạnh mẽ để theo kịp sự thay đổi của thế giới, bảo đảm nguồn nhân lực có tính cạnh tranh. Mặt khác, Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng với thế giới, đòi hỏi người lao động không chỉ có nghề mà còn phải có nhiều kỹ năng; năng suất lao động là một yếu tố quan trọng nhưng quan trọng nhất là đào tạo một con người toàn diện.

 SỨC HÚT, SỨC LAN TỎA CỦA MỘT ĐỀ TÀI GIÀU Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Trải qua 93 năm được tôi rèn, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú và vượt qua những khó khăn, thách thức từ thời cuộc đầy biến động, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

* Hơn 640 tác phẩm của gần 40 cơ quan báo chí trong cả nước tham dự

Đó là cơ sở, niềm tin và cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, sâu sắc, thôi thúc các cây bút thể hiện tình cảm, trí tuệ, lương tâm, trách nhiệm chính trị của mình về đề tài xây dựng Đảng nói chung, về chủ đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng.

Thành phần dự thi đa dạng, thu hút nhiều tên tuổi uy tín

Với tinh thần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ những giá trị tốt đẹp của xã hội, nhiều cơ quan báo chí đã thể hiện tinh thần “bút chiến” không dừng, thông qua việc duy trì thường xuyên, bền bỉ các chuyên trang, chuyên mục như: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Phòng, chống “diễn biến hòa bình”; Phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa”; Đấu tranh tư tưởng-lý luận...

Góp phần làm nên thế trận tuyên truyền rộng khắp đến đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương.

Ban tổ chức Cuộc thi “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ hai (Báo Quân đội nhân dân (QĐND), Hội Nhà báo Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội) rất phấn khởi khi nhận được sự hưởng ứng, tham gia tích cực của gần 40 cơ quan báo chí trong cả nước với hơn 640 tác phẩm dự thi. Ngoài các cơ quan báo chí Trung ương có uy tín, sức ảnh hưởng lớn trong xã hội tiếp tục dự giải như: Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Báo Công an nhân dân, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam..., có nhiều cơ quan báo chí các địa phương lần đầu gửi tác phẩm dự giải đến Ban tổ chức, như: Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Phú Yên, Bạc Liêu...; các tạp chí: Công an nhân dân; Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và Tuyên truyền); Giáo dục Lý luận (Học viện Chính trị khu vực I); Thông tin Khoa học chính trị (Học viện Chính trị khu vực IV); Mặt trận (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam);...

Cuộc thi lần này hội tụ các cây bút đa dạng, phong phú hơn. Bên cạnh các chuyên gia từng tham gia cuộc thi lần trước như: Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương; PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc; PGS, TS Nguyễn Danh Tiên; PGS, TS Nguyễn Văn Dững; PGS, TS Đặng Quang Định... còn có sự hưởng ứng của các cây bút tên tuổi trong giới khoa học như: GS, TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp; GS, TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Phó chủ tịch Hội Triết học Việt Nam; GS, TS Mạch Quang Thắng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); PGS, TS Phạm Quang Long, nguyên Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội...

Điều đáng trân trọng là có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã dành thời gian viết bài, gửi tác phẩm dự giải, như: Trần Thanh Lâm, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; PGS, TS Nguyễn Duy Bắc, Phó giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Mai Đức Ngọc, Chủ tịch Hội đồng trường, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Trung tướng, PGS, TS Trần Vi Dân, Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an (Bộ Công an); TS Phan Tuấn Anh, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế); Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, Ủy ban Luật Quốc tế của Liên hợp quốc...

Sức hút của cuộc thi còn thể hiện ở sự tham gia của nhiều cán bộ chỉ huy, quản lý đang công tác tại các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong Quân đội như: Thiếu tướng Hàn Mạnh Thắng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Quốc phòng); Thiếu tướng Nguyễn Hoài Phương, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Đại tá, TS Vũ Phú Dũng, Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị); Đại tá, ThS Nguyễn Hồng Sơn, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Trường Sĩ quan Chính trị; Trung tá Phan Tấn Toàn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn 2 (Bộ tư lệnh 86)... Đặc biệt, Ban tổ chức rất cảm kích trước tấm lòng của ngài G.S.Bezdetko, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam đã tham dự cuộc thi với tác phẩm “Không thể bóp méo sự thật về Ngày Chiến thắng 9-5” đăng trên Báo QĐND ngày 9-5-2022.

Đó là những minh chứng “biết nói” về hiệu ứng xã hội của cuộc thi ngày càng lan tỏa rộng khắp, đến với nhiều thành phần trong xã hội và nhờ đó, Ban tổ chức càng có thêm cơ sở để lựa chọn, thẩm định, đánh giá những tác phẩm xuất sắc để trao giải. 

Cách tiếp cận đề tài, nội dung phong phú, sâu sắc hơn

Có thể nói rằng, so với các đề tài khác, đề tài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là đề tài khó và “kén” người viết, nhưng với tấm lòng yêu mến Đảng, các tác giả tham dự cuộc thi đã tiếp tục làm sáng tỏ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ, góp phần làm cho công chúng ngày càng hiểu biết đầy đủ, nhận thức sâu sắc hơn những giá trị căn cốt về hệ tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhiều tác phẩm tiếp tục đi sâu phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; bảo vệ và khẳng định những giá trị truyền thống tốt đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam... Trong đó, tiêu biểu có các tác phẩm của chuyên gia, nhà khoa học đến từ các cơ quan: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông...

Nét mới của cuộc thi năm nay là nhiều tác phẩm đi sâu phân tích, nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái về các vấn đề: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; Nhà nước pháp quyền XHCN; xã hội dân sự; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; kinh tế thị trường định hướng XHCN; chính sách đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; sùng ngoại, lai căng văn hóa; lợi dụng sáng tác văn học-nghệ thuật để “giải thiêng”, bóp méo lịch sử cách mạng... Một số tác phẩm thể hiện sự khám phá mới mẻ khi đưa ra những luận cứ, luận điểm, luận chứng sâu sắc để bóc mẽ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề giải phóng con người, bảo vệ nhân phẩm và quyền con người của Chủ nghĩa Mác; giá trị công bằng xã hội trong Chủ nghĩa Mác.

Với đặc trưng thông tin nhanh nhạy, thể hiện “bút chiến” sắc bén, nhiều tờ báo đã bám sát thời sự, phản ứng kịp thời, đấu tranh kiên quyết với những thông tin sai trái, xấu độc, thù địch xuất hiện trên mạng xã hội trong thời gian gần đây như: Xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực của hệ thống chính trị trong công tác bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng ở Việt Nam; vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân biểu tình, bãi công; xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Nhà nước Việt Nam; xuyên tạc cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế; xuyên tạc việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự của công dân... Tiêu biểu có các báo: QĐND, Công an nhân dân, Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Bắc Giang, Nghệ An, Đồng Nai, Quân khu 4, Quốc phòng Thủ đô,...  

So với năm trước, cuộc thi lần này có nhiều tác phẩm nhận diện, phê phán những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, như các biểu hiện: Phai nhạt lý tưởng cách mạng; quan liêu, vô cảm với dân; thói ganh ghét, đố kỵ; sống phô trương, xa hoa, lãng phí...

“Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin” (Tố Hữu). Với tinh thần ấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giờ đây không chỉ là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị, mà là bổn phận của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Minh chứng cho điều đó thể hiện ở các tác phẩm dự giải như: “Văn nghệ sĩ với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch” (ThS Nguyễn Thị Triều); “Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” (Nguyễn Tuấn Anh-Thế Phương); “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải xuất phát từ niềm tin và lòng biết ơn đối với người có công với cách mạng” (TS Lê Đức Hoàng);...

Theo TS Nguyễn Công Dũng, Phó tổng biên tập Thường trực Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Sơ khảo Cuộc thi lần thứ hai, việc Báo QĐND phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội tiếp tục tổ chức Cuộc thi viết "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” là việc làm thiết thực, nhân văn trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ niềm tin đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Sự thiết thực thể hiện ở chỗ, cuộc thi đã huy động được đông đảo cơ quan báo chí trong cả nước tham gia, từ đó khơi dậy tình yêu nghề nghiệp, tinh thần nhiệt huyết của các cây bút chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo cùng đoàn kết trên “trận tuyến” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng của Đảng ta. Còn nhân văn thể hiện ở chỗ, nhờ các tác phẩm về đề tài này được phân tích, luận giải sâu sắc ở các góc độ, các khía cạnh và giàu tính thuyết phục nên đã góp phần củng cố, bồi đắp niềm tin cho các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó khẳng định vị thế, sứ mệnh cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân”, TS Nguyễn Công Dũng khẳng định.

Trên cơ sở thể lệ, quy chế chấm điểm, qua hai vòng chấm sơ khảo và chung khảo bảo đảm nghiêm túc, khách quan, Hội đồng Chung khảo với các nhà báo uy tín hàng đầu cả nước đã thống nhất lựa chọn 30 tác phẩm xuất sắc để trao 3 loại giải, gồm: Giải dành cho báo Trung ương; giải dành cho báo địa phương; giải dành cho tạp chí. Trong đó có: 3 giải nhất, 6 giải nhì, 9 giải ba và 12 giải khuyến khích. Ban tổ chức cũng quyết định tặng thưởng 1 tác phẩm xuất sắc của người nước ngoài và khen thưởng 3 tập thể cơ quan báo chí có nhiều tác phẩm chất lượng tham dự cuộc thi.

Tác động của “diễn biến hòa bình” đến học sinh, sinh viên

Sau thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nước đế quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu và hoạt động chống phá Việt Nam. Âm mưu xuyên suốt và mục tiêu cuối cùng không thay đổi của các nước đế quốc là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, biến Việt Nam thành một nước dân chủ tư sản kiểu phương Tây, đi theo quỹ đạo và trở thành một nước phi xã hội chủ nghĩa.

Tại Đại hội XII, Đảng ta đã chỉ rõ: Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” (DBHB), gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”...hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta

Từ sau Đại hội XII của Đảng, tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp. Cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ; hoà bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố quốc tế, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa một số nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Một mặt, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động DBHB nhằm chuyển hóa chế độ XHCN ở các nước còn lại. Đối với Việt Nam, “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá và can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, kích động bạo loạn, lật đổ và đẩy mạnh hoạt động "DBHB", thúc đẩy "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta. Mặt khác, các tổ chức phản động bên ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng internet, triệt để lợi dụng những tiêu cực, tham nhũng…để tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ uy tín của Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ráo riết phát triển lực lượng, nuôi ý định chống đối chế độ lâu dài. Trong những năm gần đây, các phần tử cốt cán gia tăng phát triển lực lượng hòng “trẻ hóa” nhân sự. Trước mắt, chúng tiến hành trẻ hóa đội ngũ để thay thế dần số già yếu hoặc chết. Loại đối tượng khá trẻ như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định (cả 3 đối tượng này đều luật sư), Phạm Hồng Sơn (bác sĩ), Nguyễn Phương Anh (kỹ sư). Đáng chú ý là đối tượng rất trẻ như thạc sỹ tin học Nguyễn Tiến Trung, sinh năm 1983. Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng người đọc báo mạng, nhất là học sinh, sinh viên (gọi chung là thanh niên hoặc sinh viên) đang có xu thế tăng nhanh đột biến so với một vài năm trước đây; trong số những người thường xuyên truy cập mạng Internet đa số là sinh viên, đây là một thực tiễn rất đáng chú ý trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực, trong đó có vấn đề “tư tưởng chính trị”. Sự phát triển nhanh của mạng internet và dịch vụ viễn thông cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác tư tưởng. Các quan điểm sai trái trên mạng thường được in ấn, nhân bản với số lượng lớn nên phát tán rất nhanh trong xã hội, do đó cũng tác động đến một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên.
Với lượng thông tin sai trái, thù địch trên mạng lớn gấp rất nhiều lần so với cách truyền bá thủ công trước đây, lại được tuyên truyền hằng ngày hằng giờ, đã thực sự tác động mạnh mẽ đối với cộng đồng cư dân mạng.

Thực tế cho thấy một bộ phận cư dân mạng, nhất là “học sinh, sinh viên, đã và đang chịu tác động tiêu cực của mặt trái công nghệ thông tin, bị mê hoặc, lung lạc bởi những ''điều phi lý'' trên mạng internet, trở thành nạn nhân "một cách rất tự nhiên". Những thông tin sai trái, thù địch trên mạng  phát tán rộng rãi, thường xuyên đã và đang gây phân tâm, lo lắng trong một bộ phận lớn cư dân mạng nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng. Điều đáng ngại là, trong khi tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân ta vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì có một số người, do những hoàn cảnh, động cơ khác nhau, hoặc vô tình hoặc cố ý, đã “sập bẫy” cuộc chiến tranh tâm lý - thông tin. Đây đó đã xuất hiện sự dao động, hoài nghi, thậm chí có người phản bội sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Hiện tượng phai nhạt lý tưởng cách mạng; hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả cách mạng; tuyên bố “sám hối”, ly khai học thuyết Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH do Đảng ta lãnh đạo, chạy theo những học thuyết, trào lưu, trường phái học thuật, văn nghệ tư sản vốn đã và đang bị chính học giả các nước tư bản đào thải, phê phán - sa vào chủ nghĩa giáo điều mới; đề cao cái tôi cá nhân và lối sống vị kỷ, ích kỷ...

Các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng chính trị trên mạng internet lan truyền trong xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong một bộ phận thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, tri thức. Một số thanh niên, sinh viên phai nhạt lý tưởng, mắc căn bệnh "nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị". Một số sinh viên đề cao quan điểm “dân chủ tư sản”; sống thực dụng, ích kỷ, cá biệt có hiện tượng tha hoá về nhân cách; một số viết bài cho đài nước ngoài nói xấu chế độ ta để xin học bổng. Ngoài ra, còn hàng trăm thanh niên do nhận thức mơ hồ hoặc bị lừa phỉnh đã tham gia vào các cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên. Do đó, để tăng cường và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng tính đồng thuận xã hội, huy động đông đảo lực lượng học sinh sinh viên góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, thời gian tới cần thực hiện những giải pháp sau:

Thứ nhất, đưa vào nội dung giảng dạy những tri thức cơ bản giúp học sinh, sinh viên nhận thức rõ con đường đi lên CNXH và góp phần đấu tranh với các quan điểm sai trái.

Với mưu đồ hình thành lực lượng lâu dài về sau, nên các thế lực thù địch đã tập trung tác động vào thế hệ trẻ, họ xem đây như chiến lược con người nhằm chuyển hóa tư tưởng của học sinh, sinh viên, phai nhạt dần lý tưởng cộng sản. Học sinh, sinh viên là những lực lượng trẻ, có tri thức lại nhanh nhạy với cái mới và là đối tượng của DBHB. Kinh nghiệm thế giới cho biết, các cuộc biểu tình, đấu tranh, gây sức ép đối với chính quyền đương nhiệm diễn ra ở các nước thời gian qua, dù được tổ chức, chỉ đạo của lực lượng nào thì học sinh, sinh viên, thanh niên luôn là lực lượng nòng cốt.

Thứ hai, các Bộ, ban ngành hữu quan (Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Công An, Ban Tuyên giáo Trung ương…) cần phối hợp, kết hợp trong xây dựng, triển khai và áp dụng các nội dung về âm mưu DBHB của lực lượng thù địch, về con đường đi lên CNXH ở nước ta trong sách giáo khoa ở các cấp học, bậc học, nhất là cấp phổ thông theo hướng phong phú về nội dung, đa dạng về phương pháp và phù  hợp với đối tượng tác động, giúp họ hiểu được âm mưu, hành động phản động của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thứ ba, cần giải quyết dứt điểm, nhanh gọn, không để lan rộng những vấn đề phức tạp nảy sinh trong nhà trường phổ thông và đại học, không để các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng vào tuyên truyền phá hoại tư tưởng, lôi kéo, tập hợp lực lượng đối lập trong học sinh, sinh viên.

Hiện nay vấn đề lối sống, quan niệm sống, cách nhìn nhận về những vấn đề chính trị - xã hội của đất nước trong học sinh, sinh viên rất đáng báo động: tình trạng xem nhẹ những vấn đề thuộc chính trị, khoa học xã hội nhân văn, khuynh hướng thương mại hóa các lĩnh vực nhất là giáo dục, đào tạo, xem đồng tiền là qui chuẩn để định giá trị đang diễn ra khá phổ biến trong lực lượng trẻ. Cần có biện pháp giải quyết những khó khăn, bức xúc trong học tập, sinh hoạt đời sống của học sinh, sinh viên, có chủ trương, phương án giải quyết kịp thời những vấn đề nhạy cảm liên quan như: chính sách về học phí, học bổng, việc làm nhất là việc làm đối với những học sinh, sinh viên chọn nghề theo khoa học Mác - Lênin, khoa học xã hội nhân văn…

Thứ tư, phối hợp giữa các cơ quan chức năng với lãnh đạo nhà trường ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tăng cường giáo dục đạo đức lối sống trong học sinh, sinh viên. Giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nêu cao tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay - chủ nhân tương lai của  đất nước trong tiếp bước xây dựng và bảo vệ  Tổ quốc theo con đường XHCN. Và dĩ nhiên, con đường nhanh nhất đạt được mục đích đó là tuyên truyền, giáo dục, quán triệt những nội dung liên quan đến con đường đi lên CNXH và sự cảnh giác với âm mưu phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về  giáo dục đối với học sinh, sinh viên, nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, học tập các môn học thuộc khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Bộ Giáo dục cần xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó chú ý xem xét đến vấn đề an ninh chính trị quốc gia trong quá trình hợp tác giáo dục và đào tạo, qua đó tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng trong đội ngũ trí thức trẻ, học sinh, sinh viên nhằm nâng cao nhận thức về lập trường, quan điểm chính trị, chống lại mọi biểu hiện sai lệch về nhận thức và hành động sai trái.

Phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" - Nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của toàn hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam

Sau thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, từ giữa những năm 1980 của thế kỷ XX, Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống phá Việt Nam. Ngày 23/9/1992, Thượng nghị Viện Mỹ đã thông qua dự luật thực hiện ''DBHB'' chống Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các vấn đề: ''Yêu cầu cải cách dân chủ'', đòi Việt Nam ''Tự do hoá chính trị''; ''Tôn trọng quyền con người''… xác định Việt Nam là một trong những mục tiêu tác động, tiến công trong chiến lược ''DBHB'', cho rằng nếu xoá bỏ được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước còn lại. Xuất phát từ mục đích đó, Mỹ đã không từ bỏ bất kỳ cơ hội thuận lợi nào nhưng tập trung là hai mũi nhọn là văn hoá - tư tưởng và kinh tế, có kết hợp với bạo loạn lật đổ ở các địa bàn trọng điểm.

Với các mục tiêu mưu toan xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam; mưu toan xóa bỏ chủ nghĩa xã hội - mục tiêu, lý tưởng của Đảng và dân tộc ta; mưu toan xoá bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt Nam. Các thế lực thù địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn để đẩy mạnh hoạt động ''DBHB'' chống Việt Nam. Cụ thể:

Một là, tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp nhằm dần chuyển hóa ý thức hệ, xóa bỏ đấu tranh giai cấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng đưa ra yêu cầu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (cơ sở pháp lý về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam); móc nối, cấu kết và chỉ đạo bọn phản động trong nước tuyên truyền kích động đòi đổi tên nước, tên Đảng, đòi thành lập cái gọi là ''hội nhân dân chống tham nhũng'', tuyên truyền rằng ''tham nhũng chỉ được đẩy lùi khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để các đảng phái giám sát lẫn nhau''; lợi dụng tình hình phức tạp như vấn đề biển Đông để xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ độc lập chủ quyền…

Hai là, lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức. Các TLTĐ ở nước ngoài tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng, móc nối với bọn phản động trong nước thu thập thông tin, tập trung vào những sơ hở của ta trong việc ban hành đường lối, chủ trương, chính sách; chúng đưa thông tin sai lệch kích động nhân dân đứng lên đấu tranh nhằm hạ uy tín của Đảng; xuyên tạc, thổi phồng các thông tin tiêu cực trong xã hội; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa tin bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những ''thâm cung bí sử'' trong Đảng làm gia tăng các biểu hiện ''tự diễn biến'', ''tự chuyển hóa'' trong nội bộ, làm cho nội bộ Đảng mất đoàn kết, chia rẽ, phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Ba là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, chia rẽ Quân đội với Công an. Thông qua các sự kiện lịch sử trong đấu tranh giải phóng, chúng đưa thông tin sai lệch, lật lại sự kiện, thổi phồng khuyết điểm của một số cá nhân, đơn vị làm mất uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi Quân đội đứng ngoài Đảng nhằm làm cho lực lượng vũ trang mất phương hướng chính trị, mất mục tiêu chiến đấu. Chúng mua chuộc cán bộ cao cấp, cài cắm lực lượng vào quân đội, thực hiện âm mưu chui sâu, leo cao hoạt động chống phá từ bên trong. Lợi dụng không gian mạng để biên tập các video dưới dạng cắt xén, lồng ghépvào thời điểm các lực lượng đang thi hành nhiệm vụ, bịa đặt, đăng tải nói xấu, xúc phạm danh dự, hạ thấp uy tín của lực lượng vũ trang; xuyên tạc, kích động, gây mâu thuẫn giữa Công an với Quân đội.

Bốn là, thông qua giáo dục đào tạo để chuyển hóa ý thức hệ của học sinh, sinh viên dưới các hình thức như tổ chức tọa đàm, hội thảo, triển lãm; tham quan các trường đại học danh tiếng, cung cấp học bổng, trong đó ưu tiên con em cán bộ lãnh đạo, cán bộ lão thành cách mạng. Qua đó tuyên truyền những ''giá trị'', lối sống phương Tây làm cho học sinh, sinh viên phai nhạt lý tưởng, nhận thức chính trị lệch lạc, đối lập quan điểm tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách để đưa số cán bộ thân phương Tây đảm nhiệm các cương vị trọng yếu trong trong hệ thống chính trị, đủ điều kiện để chuyển đổi chính sách kinh tế, ý thức hệ, từng bước làm tan rã hệ thống chính trị.

Năm là, bằng chiêu bài ''tự do'', ''dân chủ'', ''nhân quyền'', các thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ cho bọn phản động trong nước hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng áp đặt ''Luật nhân quyền'' nhằm yêu sách đòi ta phải nới lỏng sự kiểm soát đối với các tổ chức xã hội dân sự, trả tự do cho các đối tượng cầm đầu đang bị Nhà nước quản chế; hỗ trợ tài chính cho số đối tượng chống đối trong nước để hoạt động. Đặc biệt, lợi dụng các nền tảng mạng xã hội mà nhiều người sử dụng để lan truyền những thông tin bịa đặt, các thông tin với định hướng xấu độc nhằm triệt để hạ uy tín của Đảng, của cán bộ, đảng viên…

Xuất phát từ vấn đề trên, Đảng ta khẳng định rằng: Bản chất của chiến lược ''DBHB'' này là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc. ''DBHB'' và đấu tranh chống ''DBHB'' thực chất là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt và gay gắt, giải quyết vấn đề ''ai thắng ai'' giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa đế quốc.

Thực tiễn cho ta nhận rõ cuộc đấu tranh chống ''DBHB'' không phải diễn ra trong ngày một, ngày hai mà đó là một cuộc chiến lâu dài và phức tạp. Quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta vẫn đang là quá trình khám phá và phát triển. Khi bước vào công cuộc đổi mới, chúng ta chưa có cả lý luận và thực tiễn xây dựng và quản lý đất nước. Do đó, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta còn có những vấp váp, sai lầm. Vì vậy, Đảng và Nhà nước phải không ngừng đổi mới, cải cách để hoàn thiện phát triển. Hiện nay, chiến lược ''DBHB'' là thủ đoạn ''quốc sách'' của chủ nghĩa đế quốc với tư cách ''thẩm thấu'' dần để biến chủ nghĩa xã hội thành thực thể bên trong của chủ nghĩa tư bản. Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống ''diễn biến hoà bình''. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược ''DBHB'' của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, tiếp tục củng cố, làm kiên định thêm niềm tin của nhân dân trong hành trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ tinh thần lạc quan, niềm tin khoa học về thắng lợi tất yếu sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng chỉ rõ thách thức, khó khăn mà nhân dân ta phải vượt qua, bởi ''xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài''. Vì vậy, cần tránh được tư tưởng giáo điểu hoặc nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Từ đó, gắn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với phát triển kinh tế tri thức, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Thứ hai, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các TLTĐ là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa ''xây'' và ''chống'', lấy ''xây'' là chính. Thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đồng thời, tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch bằng nhiều hình thức sáng tạo, phù hợp hơn trong thời đại hiện nay.

Thứ ba, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN, thể hiện bằng quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược ''DBHB'' của các TLTĐ là thực hiện ''chiến thắng không cần chiến tranh'', tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó, cần nâng cao, giữ vững bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo của nhân dân, quy tụ sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân trong công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội, mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước cần động viên, tổ chức nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân, cần xem xét việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định. Trường hợp chính sách đúng mà người dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì cần có các phương thức tuyên truyền, giải thích, kịp thời điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Dự báo, giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Mặt khác, cần nâng cao cảnh giác, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân trước những hiện tượng tiêu cực. Khi phát huy được vai trò của nhân dân thì tiềm năng của đất nước sẽ được khai thông và bứt phá, mọi mục tiêu của Đảng và Nhà nước sẽ thành công.

Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, toàn thể nhân dân

Thứ năm, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống ''DBHB''. Lực lượng tham gia đấu tranh chống ''DBHB'' phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm.

Thứ sáu, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống ''DBHB''. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Đồng thời, tăng cường giáo dục ý thức XHCN cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại mọi âm mưu của ''DBHB''.

Chủ động phòng, chống sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào Quân đội

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế”(1). Đảng ta cũng kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những nhận thức, hành vi phi giá trị, phản văn hóa (gọi chung là sản phẩm văn hóa xấu độc): “Đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ”(2). Điều đó cho thấy, trong tiến trình phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Đảng ta chủ trương thực hiện phương châm vừa “xây”, vừa “chống”; phải kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Chính vì vậy, phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào Việt Nam nói chung, vào các đơn vị Quân đội nói riêng là vấn đề quan trọng, cấp thiết hiện nay. Có thể thấy sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội thường thông qua một số con đường sau. Thứ nhất, xâm nhập thông qua việc quân nhân sử dụng internet và mạng xã hội. Các thế lực thù địch tận dụng tối đa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại để tán phát sản phẩm văn hóa xấu độc trên internet và mạng xã hội với nhiều chiêu thức mới, tinh vi. Thông qua internet và các nền tảng mạng xã hội mà quân nhân sử dụng, các sản phẩm văn hóa xấu độc trôi nổi tràn lan trên không gian mạng có thể thẩm thấu, tác động và gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách quân nhân. Thứ hai, xâm nhập thông qua hoạt động giải trí vào ngày nghỉ, giờ nghỉ. Tưởng chừng như sản phẩm văn hóa xấu độc không thể xâm nhập bằng con đường này vào đơn vị, nhưng thực tế vẫn xảy ra. Một bộ phận quân nhân vẫn lén lút, tùy tiện nghe, xem các sản phẩm nghệ thuật thiếu lành mạnh như xem phim bạo lực, khiêu dâm, sản phẩm nhạc chế với lời lẽ thô tục. Thứ ba, xâm nhập khi cán bộ, chiến sĩ được đi phép, tranh thủ, làm nhiệm vụ độc lập và công tác xa. Đây là con đường xâm nhập nhanh nhất, có tính chủ động nhất và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nhân cách quân nhân. Sau thời gian dài sống và làm việc trong môi trường chính quy, kỷ luật, khi được đi phép, tranh thủ, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì quân nhân thường tìm cách để “xả hơi” và sẵn sàng tiếp cận, thu nạp các sản phẩm văn hóa xấu độc. Về phương thức, cơ chế xâm nhập là “mưa dầm thấm lâu”, chủ yếu là bí mật (trong các hội nhóm kín trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như Facebook, Zalo, Viber, Instagram...) trên điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay; các sản phẩm văn hóa xấu độc có cơ chế lây lan theo cấp số nhân với tốc độ nhanh và khó kiểm soát. Các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào đơn vị Quân đội “ngấm” dần vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi quân nhân, qua đó từng bước làm thay đổi các thang giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, làm cho một số quân nhân xao nhãng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lơ là chức trách, nhiệm vụ được giao; khơi dậy bản năng thấp hèn, chạy theo lạc thú, lợi ích vật chất tầm thường. Xây dựng “phòng tuyến” ngăn ngừa sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội Quân đội là trường học lớn, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống tốt đẹp. Vì vậy, không thể để cho sự tồn tại của sản phẩm văn hóa xấu độc xuất hiện trong môi trường văn hóa quân sự. Để phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội hiện nay, trước hết, các đơn vị cần tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”(3), các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang của Quân đội, bồi đắp phẩm chất cao đẹp của người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn, những thói hư tật xấu nảy sinh trong một bộ phận quân nhân. Việc cần chú trọng hiện nay là các đơn vị tạo ra bước đột phá trong thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Chú trọng đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quân nhân trên từng lĩnh vực công tác; cổ vũ, động viên những cách làm hay, gương người tốt, việc tốt trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Để cuộc vận động đi vào chiều sâu, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa tốt đẹp, trong đó coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, chiến sĩ, mà cốt lõi là quan hệ cấp trên-cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội. Tích cực xây dựng cảnh quan môi trường văn hóa hài hòa, thân thiện, tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa lành mạnh, phong phú, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của bộ đội. Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, đi trước, làm gương cho quần chúng về đạo đức, bản lĩnh, phong cách và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo sự lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp thẩm thấu vào nhân cách bộ đội. Trong tình hình hiện nay, các đơn vị cần phối hợp với địa phương trong phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các đơn vị cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ cho đơn vị, gắn kết giữa đề cao văn hóa, đạo đức với tuân thủ pháp luật, kỷ luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ, quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân, giáo dục bộ đội không truy cập trang tin xấu độc, không tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các trang mạng xã hội. Phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội hiện nay là góp phần lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, qua đó góp phần “phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4) mà Đảng ta đã xác định.

Vạch trần, đấu tranh với biểu hiện “giả nhân giả nghĩa” của kẻ “hai mặt”

Cơ hội chính trị tinh vi ứng biến với thời cuộc, diễn biến tình hình để lợi dụng “mặt tích cực” và né tránh “bất lợi” đối với bản thân; luôn mang trong mình mưu mô, toan tính và yếu tố bất mãn chính trị; ngược lại, bất mãn chính trị theo đuôi, đồng lõa với cơ hội chính trị và có thể chuyển hóa thành cơ hội chính trị. Xu hướng chung của các phần tử này là câu kết với nhau, dựa vào nhau và gắn bó chặt chẽ với các thế lực thù địch, hoặc bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc, hà hơi, tiếp sức nhằm chống đối, cản trở cái tiến bộ, tích cực; thậm chí biến thành kẻ phản bội, phản động, đứng hẳn về phía đối lập, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, ở nước ta, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được tăng cường, bước đầu đạt những kết quả quan trọng, nhiều vụ án đã được đưa ra ánh sáng, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng một số thiếu sót, khuyết điểm của cuộc đấu tranh này hoặc xuyên tạc, dựng chuyện để kích động, lôi kéo những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã và đang nhận được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực phản động để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phao tin đồn nhảm, tung tin xấu độc trên internet, mạng xã hội nhằm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Dưới đây là một số biểu hiện của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay. Có quan điểm, tư tưởng, lập trường chính trị không vững vàng, luôn ba hoa, ba phải, lươn lẹo, dễ dao động, thiếu niềm tin, hoài nghi, bi quan, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, không tin vào tương lai, tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Do bản chất cơ hội, lập trường mơ hồ, thiếu kiên định cho nên khi cách mạng gặp khó khăn, bất lợi thì hoang mang, thỏa hiệp, phụ họa theo nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái, thù địch, quay lại chửi thề, phản ứng, chống phá Đảng, Nhà nước và chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nhưng khi nhận thấy tình thế đã đổi khác, thì theo đuôi, a dua "nói leo, ăn theo", ra sức tung hô, ủng hộ cách mạng, nói, viết như “đúng rồi” để che đậy dã tâm xấu xa của mình. Biết chọn thời điểm, thời cơ viết bài, tung tin, phát ngôn và lợi dụng triệt để đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng, chủ tâm thu vén, vơ vét cho bản thân và gia đình. Họ thường che giấu bộ mặt thật, ít bày tỏ quan điểm, chính kiến rõ ràng, thái độ chính trị lờ mờ, trung dung, thỏa hiệp, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, dĩ hòa vi quý, chỉ làm việc gì thấy có lợi cho bản thân; lợi dụng hạn chế, khuyết điểm của đồng đội để đồn thổi, “bé xé ra to”, biến “con muỗi thành con voi”; từ đó lồng ý kiến cá nhân vào phê bình, tự phê bình để nịnh bợ, lấy lòng cấp trên, hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ không trong sáng, thậm chí sử dụng biện pháp triệt hạ đối phương. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hoặc bị kỷ luật, không còn giữ chức vụ, không có điều kiện để phô trương thanh thế, cho nên nảy sinh nhiều tâm tư, bất mãn, chán chường, bị thế lực cơ hội, bất mãn tác động, lôi kéo, mua chuộc, họ đã theo đuôi kẻ xấu. Hầu hết những phần tử này có tham vọng chính trị, chức quyền và khi tham vọng không được đáp ứng thì sinh ra bất mãn, thoái chí, phát ngôn thiếu trách nhiệm, không còn ý thức xây dựng cơ quan, đơn vị, chống đối những người đã ngồi vào ghế của mình. Họ lợi dụng xu thế dân chủ hóa, internet, mạng xã hội, tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn để thực hiện mưu đồ xấu xa, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, cản trở sự tiến bộ xã hội. Hám lợi, hám danh, thực dụng về kinh tế, đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền và muốn thể hiện mình trước tổ chức, tập thể, thích nổi danh trên mạng xã hội và trước đám đông; không thừa nhận ai, nhất là cán bộ trẻ. Họ cố tình móc nối, liên kết với một số cán bộ, nhân viên “có ơn huệ với mình” để moi tin, truyền tin, xuyên tạc bản chất sự việc; sẵn sàng rẽ theo con đường khác, kể cả sai trái, miễn là có lợi ích kinh tế, thỏa mãn ý chí cá nhân. Họ thường tự coi là người có học, hiểu biết, tỏ ra nổi trội, luôn tự cho mình có công trạng, có đóng góp cho cách mạng, cho cơ quan, đơn vị nhưng bị bạc đãi, thiếu sự tôn trọng. Vì vậy, họ muốn “nổi sóng”, đưa ra “phát kiến” mới rồi lôi kéo, tổ chức, gây thanh thế, cốt để “đánh bóng tên tuổi” mình, gây khó dễ nhằm triệt hạ đối phương và những người mình không ưa thích. Khi mục đích không đạt được, vì nhiều nguyên nhân khác nhau khiến họ bức xúc, không thể kìm nén, đã phát ngôn thiếu trách nhiệm, xuyên tạc sự thật. Khi ý kiến, góp ý, kiến nghị của họ không được chấp nhận, hoặc mối quan hệ không trong sáng bị phát hiện, ngăn chặn, các phần tử này lập tức thể hiện thái độ chống đối, tìm mọi cách hạ thấp uy tín, danh dự của các cán bộ lãnh đạo cấp trên. Đây chỉ là phác thảo ban đầu nhưng chỉ chừng ấy biểu hiện xấu đã khiến chúng ta phải đề cao cảnh giác, hết sức đề phòng sự phản trắc của những phần tử “hai mặt”, cơ hội chính trị này. Kiên quyết đấu tranh đối với những kẻ “hai mặt”, cơ hội chính trị Để đấu tranh, chặt đứt “cái vòi”, “chân tay”, “râu ria” của những kẻ cơ hội và bất mãn chính trị một cách hiệu quả, cần có các giải pháp toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, cơ chế, chính sách, pháp luật với quyết tâm cao. Muốn vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Cần chú trọng thực hiện một số biện pháp sau. Một là, thực hiện kiên quyết, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; không bị mắc mưu vào các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đây là biện pháp cơ bản, toàn diện và bao trùm trong đấu tranh với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, bí thư cấp ủy phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng; đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp. Cần phải nêu gương thật sự trong lời nói, hành động, công việc, cuộc sống và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy. Hai là, chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội, bất mãn chính trị. Đặc biệt là cần chú trọng việc nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, nâng cao trình độ lý luận, trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ba là, chủ động, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện của tư tưởng cơ hội và bất mãn chính trị trong cơ quan, đơn vị và các quan điểm sai trái, thù địch. Đề cao cảnh giác với các phần tử cơ hội chính trị muốn luồn sâu, leo cao vào bộ máy công quyền các cấp. Phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm phân loại và phát hiện kịp thời, đấu tranh hiệu quả với hoạt động phá hoại của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Bốn là, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị, cần bám sát vào quan điểm, chủ trương, đường lối, kết luận, chỉ thị và hướng dẫn của Đảng và các cơ quan chức năng Trung ương. Dựa trên cơ sở khoa học xác đáng, với luận điểm đúng đắn, luận cứ rõ ràng, luận chứng sắc bén, có tính thuyết phục cao, nhất là đấu tranh bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, bí mật Nhà nước, tình hình nội bộ của cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội; kiểm soát, tổ chức tốt việc thu hồi tài liệu, ấn phẩm mà các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị phát tán để xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong bối cảnh hiện nay, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đặc biệt là những biểu hiện chống phá tinh vi, lươn lẹo của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Trên cơ sở đó có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả, không để chúng “tác oai tác quái”, cản trở chúng ta thực hiện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa": Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn để không tự “đánh mất mình”

Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, tiếp thu, lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các cán bộ hưu trí-những người có kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp tích cực, hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng dân chủ, một số đảng viên, cán bộ hưu trí đã có những phát ngôn đi ngược lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định rằng, đại đa số cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác luôn giữ vững chí khí cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Nhiều cán bộ không những đóng góp tích cực khi còn công tác mà khi nghỉ hưu cũng luôn gương mẫu, đi đầu trong vận động, hướng dẫn, tổ chức nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực cho thế hệ trẻ học tập, noi theo. Đã có rất nhiều cán bộ dành những đồng lương hưu ít ỏi để giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo khó; có những cựu chiến binh tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất để mở đường, xây dựng các công trình góp sức cùng nhân dân trong xây dựng nông thôn mới... Tuy nhiên, cũng thật đáng tiếc, vẫn còn một số cán bộ nghỉ hưu do những bức xúc cá nhân, hoặc không giữ được chí khí người cộng sản, nói, viết trái đường lối, quan điểm của Đảng, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân. Có người thậm chí còn phủ nhận tất cả những nỗ lực, cố gắng không chỉ của dòng họ, gia đình mà còn là sự hy sinh xương máu của cả dân tộc.


Thực tế, một số cán bộ khi đương chức thì không có ý kiến đóng góp thẳng thắn cho Đảng, cho đất nước, cho cơ quan nơi mình công tác, nhưng khi nghỉ hưu thì có biểu hiện phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng, thậm chí sử dụng những thông tin không chính thống để “đưa chuyện”… Một số đảng viên, cán bộ nghỉ hưu, một phần do thiếu thông tin, nên khi tham gia mạng xã hội đã có biểu hiện xa rời tổ chức, “luận bàn thế sự” một cách thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức chính trị, thậm chí bị lôi kéo, kích động. Đáng lẽ, trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, với nền tảng lý luận và thực tiễn của mình, được tích lũy trong nhiều năm công tác, những cán bộ đó phải có lập luận sắc bén, phản biện quyết liệt với những thông tin xuyên tạc, sai lệch, kiểu “đánh bùn sang ao”, “vơ đũa cả nắm” nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, không những không làm được điều đó, một số cá nhân còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất; dẫn đến bình luận chủ quan, hoặc chia sẻ thông tin sai lệch, phiến diện, thiếu tin cậy và không được kiểm chứng.

Khi một số cán bộ nghỉ hưu không giữ được khí tiết của người cộng sản, phẩm chất cách mạng của người đảng viên, không giữ được “lòng trong, tâm sáng”, họ bị sa đà và đánh mất mình với những phát ngôn sai lệch. Họ là những người “khi rời tập thể… dễ tan vào đám đông”, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong chính nội tại bản thân. Đáng buồn hơn, có những cán bộ sắp nghỉ hưu đã có biểu hiện “chợ chiều cuối khóa” cả trong thực hiện nhiệm vụ và chấp hành kỷ luật phát ngôn.

Trong khi hầu hết cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu luôn kiên định với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; tự giác, gương mẫu chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xác định dù nghỉ hưu vẫn tiếp tục đóng góp cho cách mạng, cho quê hương, xóm, phố… thực hiện “sống vui, sống khỏe, sống có ích”… thì vẫn còn một số cán bộ, đảng viên hưu trí đã có những phát ngôn không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng. Điều này đã được Đại hội XII của Đảng cảnh báo và chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cũng chỉ rõ: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu”... 

Đặc biệt, lợi dụng tự do ngôn luận, một số cán bộ, đảng viên nghỉ hưu còn đăng đàn lôi kéo, hoặc bị lôi kéo kích động nói xấu Đảng, Nhà nước, làm những điều đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân đáng chê trách trong thời đại công nghệ số. 

Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân, tổ chức; trong đó có quyền bày tỏ chính kiến, ý kiến, thậm chí cả những ý kiến chưa đồng thuận, trái chiều, nhưng phải bảo đảm tôn trọng sự thật, khách quan; đóng góp mang tính xây dựng và tuân thủ pháp luật. Đặc biệt với cán bộ, đảng viên dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu, đều phải nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; góp ý, kiến nghị đúng nơi, đúng chỗ, đúng quy định; trên cơ sở biện chứng, khoa học; tránh tình trạng sự việc, sự kiện đã qua, không còn phù hợp với hiện tại vẫn được một số người cố tình “xới lên”, thêu dệt, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân. Đó cũng chính là những biểu hiện không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cộng sản, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng, ghi nhận những đóng góp to lớn, tích cực của đội ngũ cán bộ nghỉ hưu trong xã hội. Những năm qua, hằng năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tổ chức hội nghị gặp mặt cán bộ lão thành, nguyên cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, để báo cáo kết quả phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng; kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cung cấp thông tin chính thống liên quan đến các vụ việc, vấn đề dư luận quan tâm. Các ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương… trong cả nước cũng định kỳ và thường xuyên tổ chức gặp mặt, đối thoại, cung cấp thông tin chính thống cho các cán bộ hưu trí đang sinh sống tại địa bàn. Thông qua các kênh khác nhau, việc lấy ý kiến cán bộ, công chức đã nghỉ hưu được Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc… thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, cầu thị, trân trọng những đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, trên tinh thần xây dựng của các đồng chí nguyên lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ hưu trí, coi đây là một kênh quan trọng để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên hưu trí cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong đóng góp, hiến kế tham gia xây dựng đất nước. Cần nắm chắc và thực hiện đúng các quy trình, thủ tục, cách thức tham gia đóng góp ý kiến, phát biểu trước diễn đàn; trong mọi tình huống phải phát biểu chính danh, đúng cách, nhìn nhận sự việc khách quan, đa chiều, tôn trọng sự thật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết. Mỗi ý kiến phát biểu, phát ngôn cần được cân nhắc thận trọng, thấy rõ cả tác động tích cực và tiêu cực; tác dụng và tác hại; khi phân tích, xem xét phải được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể...

Cùng với phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ hưu trí, công tác tuyên truyền, vận động cần được tiếp tục quan tâm hơn nữa; trong đó, việc cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính thống cho cán bộ hưu trí là hết sức cần thiết. Bởi thực tế, một số cán bộ nghỉ hưu phát ngôn chưa đúng là do thiếu thông tin, hoặc chưa tỉnh táo thanh lọc thông tin; bị lợi dụng…

Nhiều cán bộ hưu trí, tuy đã “hưu” nhưng với “trí” sáng, “tâm” trong vẫn luôn nhiệt huyết đóng góp cho cách mạng và cộng đồng. Tiếng nói của các đồng chí có uy tín, có sức thuyết phục nhờ kiến thức, vị thế xã hội, kinh nghiệm và uy tín tích lũy sau nhiều năm công tác. Khi nghỉ hưu cũng là dịp để mỗi cán bộ có điều kiện, thời gian chiêm nghiệm, đúc kết thực tiễn và tiếp tục hiến kế cho Đảng, Nhà nước, đóng góp cho xã hội và cộng đồng. Điều đó rất đáng trân trọng. Tuy vậy, chúng ta không đồng tình khi có một số ít cán bộ hưu trí, do tác động của tuổi tác, sức khỏe, tâm lý; do thông tin, sự tiếp xúc xã hội hạn chế, nên đã có những hành động, lời nói thiếu nhất quán, không đúng đường lối, quan điểm của Đảng; đánh mất vai trò “cây cao bóng cả”; dễ bị đối tượng xấu lợi dụng, kích động, thậm chí phản bội lý tưởng, đi chệch con đường mà chính họ đã suốt cuộc đời cống hiến, hy sinh. Với mỗi người, niềm tin, lý tưởng, nhân sinh quan, lẽ sống là hết sức quan trọng. Đó cũng là bản lĩnh chính trị, là lời thề trước Đảng, là sự trung thành, kiên định với con đường đã chọn của mỗi cán bộ, đảng viên khi đang công tác cũng như khi nghỉ hưu.