Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023

GÌN GIỮ GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 

Lịch sử hàng ngàn năm của đất nước ta đã chứng kiến nhiều thời kỳ phân tranh, cát cứ, chia cắt núi sông như: Loạn sứ quân chia đất nước thành 12 vùng ảnh hưởng khác nhau; chiến tranh Nam - Bắc giữa nhà Mạc và nhà Trịnh, nhà Lê, rồi tiếp đến là thời Trịnh, Nguyễn phân tranh, đất nước thành Đàng trong, Đàng ngoài. Chia cắt thời Tây Sơn, ở phía Nam gọi là Nam Hà, có thực lực và độc lập do nhà Tây Sơn nắm, còn ở phía Bắc, gọi là Bắc Hà. Đến chia cắt thời Pháp thuộc là chia cắt đô hộ, một nước bị chia ra làm ba miền, ba xứ, với ba hệ thống cai trị khác nhau, là Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam Kỳ.

Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam - Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã cho quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng suốt 21 năm ròng rã. Đến ngày 30/4/1975, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai mươi năm, dân tộc ta đã đi qua một cuộc trường chinh muôn vàn gian khổ, chồng chất cam go và mất mát, hy sinh để giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Đấy là chân lý thời đại, là cái "dĩ bất biến" của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình, chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt xung đột. Một dân tộc lấy yêu thương làm cốt lõi tinh thần, lấy minh triết dân gian “Thương người như thể thương thân” để ứng xử là một dân tộc có văn hiến. Bản lĩnh dân tộc cũng sinh ra từ đấy. Và điều đó lý giải vì sao dân tộc Việt Nam đã từng chiến thắng những kẻ thù to lớn hơn mình.

Chiến thắng 30/4/1975 đã tích hợp được đầy đủ các ý nghĩa trọng đại nhất: khẳng định độc lập, tự do của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, non sông liền một dải. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, một chiến thắng quân sự lớn lao lại mở ra một ngày hội mới: Ngày hội thống nhất non sông.

Nhìn lại hành trình phát triển và mở mang đất nước, bờ cõi xứ sở của chúng ta đã mở rộng về phương Nam. Đất nước đã thành một dải kéo dài từ địa đầu Móng Cái tới đất mũi Cà Mau, rồi mở mang ra vùng biển, những Côn Đảo, Phú Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa… Quá trình này đã định hình hình thể đất nước từ đầu thế kỷ 17 đến khoảng giữa thế kỷ 18 thì trọn vẹn như ngày hôm nay…

Ngày nay, đại thắng mùa xuân 30/4/1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc và điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc./.


NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, LẠC LÕNG XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

 

Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới rằng, dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng thống nhất Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đây là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với chính nghĩa trong tay làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại, khiến nhân loại phải kính phục mà sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Đại thắng mùa Xuân 1975 được ghi vào lịch sử dân tộc ta là một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất cuộc kháng chiến và vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.

Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã sử dụng không gian mạng đẩy mạnh tấn công tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các đài báo, trang mạng xã hội của các tổ chức, thế lực thù địch, phản động cố tình xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đại thắng mùa xuân 1975 của chúng ta là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh”; vu cáo đây là cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc, “không có kẻ thua, người thắng, chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”; cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “không cần thiết” và hoàn toàn “có thể tránh khỏi” …

Gần đây, trên một số trang mạng, website, blog cá nhân của các phần tử cơ hội chính trị phát tán nhiều tin, bài xuyên tạc lịch sử. Họ đưa ra luận điệu sai lệch, đòi “định danh lại ngày 30-4 cho phù hợp” vì không chấp nhận 30/4 là Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cho rằng “không nên gọi ngày 30/4 là ngày giải phóng”; xuyên tạc “người Việt trẻ gọi 30/4 là một biến cố buồn”; nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không kém gì Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan… Đây là những luận điệu lạc lõng và hoàn toàn sai trái, bịa đặt, đã phủ nhận sự thật lịch sử một cách trắng trợn.

Đại thắng mùa xuân 30/4/1975 là sự tôn vinh sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người dân, của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những phần tử chống phá coi ngày 30/4 là ngày “quốc hận” - một cái nhìn sai lạc và xuyên tạc sự thật lịch sử, đi ngược lại tinh thần khoan dung, đồng thuận, đoàn kết của toàn dân ta; chính họ tự gieo rắc hận thù, chia rẽ, đi ngược với trào lưu lịch sử. Họ nuối tiếc chính quyền tay sai, phản động để gieo rắc ý thức “quốc hận” là đi ngược với dòng chảy lịch sử, phản lại chính đồng bào, dân tộc mình. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi dưỡng, kích động thù hằn, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, trực tiếp tiếp tay cho kẻ thù phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Ngoài ra, các đối tượng trên còn cố tình xuyên tạc chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ, cho rằng đó là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển. Từ đó, họ quy trách nhiệm cho Đảng ta và con đường mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời là phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà lịch sử đã lựa chọn. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, bản chất của sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”. Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Với cuộc kháng chiến này, quân và dân Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ và lực lượng ngụỵ quân, nguỵ quyền chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, không có chuyện “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”.

Ngày 30/4/1975, miền Nam thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược của đế quốc Mỹ cùng với bè lũ tay sai và là sự kiện đánh dấu lãnh thổ đất nước Việt Nam được trả lại đúng nghĩa đã có trong lịch sử, đáp ứng nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam./.


HAI PHỤ NỮ LỢI DỤNG QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐÃ BỊ BẮT GIAM

 

Vi phạm tội phát tán tài liệu, treo băng rôn, khẩu hiệu nói xấu các cơ quan, đoàn thể không đúng sự thật lên mạng xã hội, viết đơn thư khiếu nại, kiện cáo và gây rối làm mất an ninh trật tự..., hai phụ nữ ở Hà Tĩnh vừa bị lực lượng chức năng bắt giữ.

Ngày 22-4, tin từ Công an huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) cho biết vừa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Thái Thị Bé (67 tuổi, ngụ thôn 7, xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê) và Hoàng Thị Sơn (65 tuổi, ngụ thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê) về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

Theo điều tra, bà Bé và bà Sơn thường viết đơn thư khiếu nại, kiện cáo và gây rối làm mất an ninh trật tự tại cơ quan, công sở và nhà các lãnh đạo ở huyện Hương Khê.

Không chỉ vậy, 2 người này còn phát tán tài liệu, treo băng rôn, khẩu hiệu nói xấu các cơ quan, đoàn thể không đúng sự thực lên mạng xã hội, lôi kéo hàng ngàn lượt người xem và bình luận tiêu cực.

Tuy đã được lực lượng chức năng nhắc nhở và phạt hành chính, song hai đối tượng trên vẫn tiếp tục hành vi khiếu kiện, khiếu nại vượt cấp, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương./.


Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

 


Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa

 

 

Trong nhiều vấn đề được luận giải, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định và làm rõ: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đây là một trong những luận điểm khái quát cốt lõi về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.

Những luận điệu sai trái, lạc lõng


Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới rằng, dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng thống nhất Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đây là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với chính nghĩa trong tay làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại, khiến nhân loại phải kính phục mà sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

Làm sâu sắc hơn nữa quan hệ giữa Việt Nam và Argentina

 

 

Chủ tịch Quốc hội và Tổng thống Argentina nhất trí làm sâu sắc hơn nữa quan hệ chính trị-ngoại giao, giao lưu nhân dân, đồng thời tận dụng lợi thế có các mặt hàng có thể bổ trợ lẫn nhau.

Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

 

Trước hết chúng ta cần nhận diện rõ: Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta. Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Do đó, cần tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên. Tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Luận điệu phản động của Nguyễn Thông

 

Mới đây, trên trang mạng xã hội, Nguyễn Thông lại giật tít: Thành ngữ ‘Đế quốc sài lang’. Trong bài viết, y cho rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “kéo cả dân tộc vào cuộc sống trì trệ, lạc hậu, đói nghèo”. Đây là một luận điệu hết sức phản động, cho thấy dã tâm quyết chống phá Đảng, Nhà nước ta, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Nguyễn Thông. Song, luận điệu phản động của y bị lịch sử và thực tiễn sống động ở Việt Nam hiện nay bác bỏ, bởi lẽ:

Thứ nhất, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, phù hợp với quy luật của lịch sử.

Suốt thời gian dài bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược, nhân dân ta đã thấy rõ bản chất áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo của chủ nghĩa tư bản. Nhiều lực lượng trong xã hội đã đứng lên làm cách mạng nhưng đều bị thất bại; chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam mới chấm dứt sự bế tắc về đường lối cách mạng. Theo đó, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do đó, đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu khách quan, là khát vọng của nhân dân ta, là mục tiêu xuyên suốt đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng; nhờ đó toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã lập nên bao kỳ tích, giành quyền độc lập cho dân tộc, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Tiếp đến là một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu đánh dấu mộc kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến trường kỳ 9 năm chống lại đội quân viễn chinh của đế quốc Pháp với sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ. Và, sau đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất non sông, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo tiền đề quan trọng để nước ta đổi mới và phát triển toàn diện trên tất các lĩnh vực, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ hai, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước là minh chứng sinh động về tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang xây dựng.

Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, sau hơn 35 năm đổi mới, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình, quy mô nền kinh tế ước đạt trên 400 tỷ đô la đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, nằm trong số 40 quốc gia có quy mô GDP lớn nhất thế giới. Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người đạt 4.110 đô la (năm 2022). Đặc biệt, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi mạnh mẽ với tăng trưởng GDP khoảng 8, 02%, trong khi kinh tế thế giới bị giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 và tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine. Tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Việt Nam tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 2,75% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam thuộc Nhóm Phát triển con người cao từ năm 2019.  Nhiều chỉ số về giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN…. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được đã chứng minh rằng: phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Vì vậy, luận điệu của Nguyễn Thông đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, mọi người cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ. Đồng thời, chúng ta luôn vững tin vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI./.

Chiêu trò lật mặt của những kẻ lái buôn thuật ngữ

 

 ­Vì động cơ chống phá Đảng, Nhà nước mà một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn, “đánh tráo khái niệm” nhằm vu cáo, đổ lỗi cho chế độ của Việt Nam. Và lần này, sau hàng loạt sai phạm của một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý, các đối tượng này tiếp tục quay sang công kích chế độ. Họ đổ lỗi rằng, các cán bộ tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện". Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.  

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển. Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Luận điệu phản động của Vũ Đức Khanh

 

Vũ Đức Khanh đã đăng trên trang “Voatiengviet” bài viết.“Xã Hội Dân sự: Độc lập, Đối tác, hay Đối lập với Nhà Nước”, để đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc về tự do, dân chủ, nhân quyền, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay. Vũ Đức Khanh đã đưa ra nhận định hết sức phản động là: “Hơn nữa, nhà cầm quyền Việt Nam nên xem lại các luật lệ về tổ chức hội đoàn, không chỉ trên giấy tờ mà cả việc thực thi luật pháp nữa. Công dân có được tự do thành lập tổ chức xã hội dân sự hay nhà cầm quyền chỉ muốn mọi thứ luôn nằm trong sự kiểm soát và quản lý của  họ”.

Với luận điệu trên mục đích của Vũ Đức Khanh là nhằm xuyên tạc vu khống Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do, nhân quyền, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Cần thấy rõ, Xã hội dân sự, nói chính xác là các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò xây dựng cộng đồng, trợ giúp Nhà nước. Tổ chức xã hội dân sự tồn tại không chỉ trong xã hội tư bản mà cả trong chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam xã hội dân sự thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng thuận xã hội. Tổ chức xã hội dân sự có thể đóng vai trò tích cực, là người phản biện đối với chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách ôn hòa và có trách nhiệm. Song, thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng cho thấy, tổ chức xã hội dân sự, bao gồm cả các đảng chính trị (không nằm trong hệ thống chính trị Nhà nước) cũng có thể trở thành lực lượng đối kháng với Nhà nước, là nòng cốt cho những cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, thậm chí có thể kết nối với các thế lực thù địch bên ngoài gây chiến tranh, làm tổn hại đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đó là sự đơm đặt vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.

Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị – xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mìnhgia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển, gây phương hại đến an ninh quốc gia. Các hoạt động này là trái pháp luật, Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, tiến hành quản lý chặt chẽ, chấn chỉnh, xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Tóm lại, những luận điệu phản động nêu ra trong bài viết của Vũ Đức Khanh đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Y.

 

PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG,

ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

Tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là nền tảng và động lực tinh thần để phát triển xã hội trong đó đạo đức là gốc của mỗi con người. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã ý thức sâu sắc về vai trò đặc biệt quan đạo đức của đảng viên cũng như của toàn xã hội đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội.

Vấn đề suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức của cán bộ đảng viên luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên luôn được nhắc đến và là nỗi trăn trở của toàn Đảng và nhân dân ta trong điều kiện đảng cầm quyền.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; phòng, chống suy thoái trong cán bộ, đảng viên trên các lĩnh vực này, quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

Trong thời kỳ đổi mới, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Tất cả các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương Đảng các khóa tiếp tục đánh giá thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xác định việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng này là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt. Đặc biệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Tình trạng này “làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”. Do vậy, Trung ương yêu cầu phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”. Tuy nhiên, khi nói về những hạn chế còn tồn tại, Văn kiện Đại hội XIII cho rằng: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa … việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay có những biểu hiện sau:

Thứ nhất, không thường xuyên học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, thỏa mãn với những nhậvn thức giản đơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, dao động về lý tưởng, không tin tưởng vào mục tiêu và con đường đổi mới và phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc.

Thứ ba, phủ nhận các thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của dân tộc.

Thứ tư, không chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.

Thứ năm, lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đồng thời không kiên quyết phê phán, đấu tranh với những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc lịch sử, thực tế đất nước, bôi nhọ Đảng, chế độ, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

Về tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang diễn ra với mức độ nghiêm trọng, có xu hướng lan rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng, biểu hiện như sau:

Một là, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, vụ lợi, ích kỷ trong cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi.

Hai là, tệ tham nhũng, hối lộ, bòn rút, lãng phí của công không giảm.

Ba là, sự suy thoái về đạo đức biểu hiện ở lối sống cơ hội, buông thả ngày càng nhiều, trong thái độ với công việc được giao, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm còn phổ biến.

Bốn , tệ quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe và nói sự thật.

Năm là, đạo đức nghề nghiệp không được đề cao, kể cả trong những lĩnh vực rất nhạy cảm, như giáo dục, y tế; giáo dục nhân cách con người không được quan tâm đúng mức, lối sống thực dụng, sự toan tính vụ lợi, ích kỷ đang tác động trực tiếp đến quan hệ đạo đức trong gia đình, đến nền nếp gia phong của gia đình truyền thống Việt Nam.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, đảng viên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính đó là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Có biểu hiện xem nhẹ giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem nhẹ giáo dục đạo đức cách mạng, công tác quản lý cán bộ, đảng viên bị buông lỏng. Nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng chưa được chấp hành nghiêm túc, bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập, để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối, làm xói mòn bản chất tốt đẹp của người đảng viên cộng sản.

Vì vậy để cuộc đấu tranh phòng, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay đạt hiệu quả, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp.

1- Cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Nếu không nhận thức sâu sắc và quyết tâm xóa bỏ được các căn nguyên này, mọi giải pháp khác sẽ khó phát huy hiệu quả, hoặc chỉ có tính chất nhất thời, không thể giải quyết được về cơ bản vấn đề. Khắc phục các nguyên nhân sâu xa này có thể được coi vừa là điều kiện cơ bản nhất, vừa là giải pháp chủ yếu nhất để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

2- Để khắc phục sự yếu kém về lý luận nhằm chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cần thực hiện tốt một số hướng cơ bản sau đây:

- Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận, đưa lý luận về đúng vị trí dẫn đường cho sự phát triển của thực tiễn. Tiếp tục nghiên cứu, lý giải có sức thuyết phục nguyên nhân sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, tăng cường một cách có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, trên cơ sở đó bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

- Đổi mới tư duy, phát triển lý luận về đạo đức, xây dựng hệ thống các giá trị, chuẩn mực đạo đức phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong giai đoạn hiện nay. Coi trọng việc nghiên cứu và truyền bá tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, bao gồm các triết lý, giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc và đạo đức của người cộng sản. Cụ thể hóa, xây dựng các chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh cho từng giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội, gắn liền với lợi ích và thực tiễn cuộc sống của họ. Để việc rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng trở thành lối sống tất yếu thường nhật của mỗi cán bộ, đảng viên.

- Đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; làm thất bại các thủ đoạn tác động vào tư tưởng trong Đảng; tạo cho cán bộ, đảng viên sức đề kháng cao, đủ sức chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; để mỗi cán bộ, đảng viên phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn dù tinh vi đến đâu của chiến lược “diễn biến hòa bình” và vượt lên chính mình, không rơi vào bẫy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

3- Để khắc phục các khiếm khuyết, bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, trong hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành, quản lý đất nước nói riêng, dễ tác động tiêu cực đến tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên do đó cần: Đổi mới chính trị phải được tiến hành đồng thời với đổi mới kinh tế; cải cách bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, có sự phân định chức năng, quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tăng cường tính dân chủ, tính công khai, minh bạch trong hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng. Tăng cường cơ chế giám sát, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, quản lý nhà nước. Tăng cường cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Đổi mới và tăng cường công tác cán bộ và quản lý cán bộ trong hệ thống chính trị. Cải cách cơ chế thi cử, tuyển dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ để các công việc này diễn ra thực sự khách quan, công bằng, công khai theo tinh thần trọng dụng người hiền tài. Triệt để xóa bỏ bao cấp, đặc quyền, đặc lợi, bất bình đẳng, bảo đảm công khai, minh bạch các chế độ chính sách, các khoản chi trả cho cán bộ, kể cả xăng xe, nhà đất cho cán bộ trung, cao cấp..., theo hướng tiền tệ hóa và đưa vào tiền lương, phụ cấp. Tiền lương phải bảo đảm được các nhu cầu sống cơ bản của cán bộ. Bảo đảm cán bộ, công chức có thu nhập bằng tiền lương cao hơn mức trung bình của xã hội và hằng năm điều chỉnh theo mức tăng thu nhập quốc dân. Tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức.

4- Để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống, ngoài các giải pháp cơ bản nêu trên, cần tập trung vào những vấn đề chính là:

- Thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”; ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức, lối sống tư sản.

- Nâng cao chất lượng, triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, duy trì thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Bổ sung vào thang giá trị đạo đức, các phẩm chất đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ.

- Tăng cường cơ chế giám sát về tư cách đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nhất là từ tổ chức đảng. Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định, các thiết chế bảo đảm việc phòng ngừa và khắc phục sự suy thoái trong Đảng, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội có quy định về trách nhiệm và nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

5- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí, hành động trong Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là chi bộ, đảng bộ cơ sở, đặc biệt trong việc giao nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát, quản lý. Thực hiện tốt Quy định số 76-QĐ/TW duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa cấp ủy cơ quan và cấp ủy nơi cư trú.Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. Phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong quy trình đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, chú trọng ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, cấp ủy và nhân dân để tránh chủ quan, lọt những phần tử cơ hội chính trị, cá nhân chủ nghĩa, ngăn chặn tình trạng “mua quan, bán chức”. Xây dựng và thực thi cơ chế thực sự trọng dụng người có đức, có tài, trong đó đức là gốc. Xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài cho đất nước.

Phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay không thể không chú ý phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cán bộ đảng viên trong học tập và rèn luyện, bởi lẽ bản thân mỗi cán bộ đảng viên chính là chủ thể quan trọng nhất trong việc làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Mỗi cán bộ đảng viên cần nêu cao ý thức và trách nhiệm trong học tập và rèn luyện; trước tiên là học tập lý luận chính trị để trang bị cho mình nền tảng lý luận vững chắc, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước các âm mưu của các thế lực thù địch. Khắc phục triệt để tình trạng ngại học, ngại rèn. Ngoài ra, mỗi cán bộ đảng viện cần nêu cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo trước những chiêu bài mua chuộc của các thế lực thù địch; luôn có ý thức trách nhiệm khi tham gia các trang mạng xã hội, nhất là những trang mạng có nội dung chính trị - xã hội. Không bình luận, chia sẻ những bài viết có nội dung bôi nhọ, hạ bệ danh dự của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Không tham gia vào các cộng đồng mạng có dấu hiệu tiêu cực như chống đối, phản bác, biểu tình...

Cán bộ đảng viên là đối tượng hướng tới nhiều nhất của các thế lực thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở Việt Nam. Để phòng, chống chiến lược đó, cần có sự kết hợp của nhiều biện pháp, cách thức, trong đó có những giải pháp cơ bản nêu trên. Những giải pháp này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên vững vàng về tri thức và lập trường chính trị, tư tưởng, kiên định trước mọi sự lôi kéo, chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch.

 

 

 

Thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin

 

Phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang được các thế lực thù địch lựa chọn và xác định là mũi nhọn tấn công và có sức “công phá” mạnh nhất vào thành trì cách mạng Việt Nam. Cuộc tấn công này của chúng diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với các phương tiện, thủ đoạn khác nhau, nhất là trên môi trường không gian mạng.

Môi trường không gian mạng với ưu thế tốc độ lan truyền thông tin nhanh, diện thông tin rộng trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống của con người. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường được các thế lực thù địch, phản động tận dụng tối đa để gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin – Bộ phận cấu thành quan trọng nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, môi trường không gian mạng luôn mở, cho phép kết nối rộng rãi, thông tin đăng ký sử dụng không cần xác thực; Việt Nam cũng là một trong số các nước có số lượng lớn người dân tham gia môi trường không gian mạng. Theo thống kê đến tháng 02/2022, có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội ở Việt Nam, số lượng người dùng mạng xã hội ở Việt Nam vào đầu năm 2022 tương đương 78,1% dân số, trong đó người dùng Facebook là 70,4 triệu người. Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đã sớm xem internet, mạng xã hội là “mảnh đất màu mỡ” để sử dụng chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, bộ phận quan trọng hợp thành nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Tận dụng những lợi thế về phạm vi, đối tượng sử dụng không gian mạng nên các thế lực thù địch, phản động, chống đối đã thường xuyên sử dụng môi trường này để liên kết, móc nối, phát triển lực lượng trong nước, đào tạo, huấn luyện, hình thành và công khai hóa hội, nhóm xã hội dân sự có hoạt động chống đối trên không gian mạng. Chúng thành lập các nhóm Facebook, Fanpage, Blog mang màu sắc chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước dưới hình thức “công khai, kín và bí mật” có sự tham gia, liên kết giữa các đối tượng bất mãn, thành viên của các tổ chức phản động. Sử dụng mô hình hoạt động của nhóm Fanpage, Blog, Youtube, các đối tượng chống đối đăng tải, tán phát, bình luận nhiều thông tin, bài viết, hình ảnh có nội dung công kích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, nhận biết để vạch trần thủ đoạn này của chúng trên không gian mạng là trực tiếp góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới hiện nay.

Trong khi đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thấy rõ sự chống phá của các thế lực thù địch; có biểu hiện thờ ơ, đứng ngoài cuộc; chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm, chính kiến khi tham gia mạng xã hội; thiếu ý thức, hành động phản bác những luận điệu xuyên tạc, đi ngược đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản bác những thông tin gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Qua đó, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng, như nhận định được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin…”. Những hạn chế này đã, đang và sẽ tiếp tục bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá./.

Nhận diện rõ Sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn

 

Thực tiễn đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong thực tế đời sống, xã hội và cam kết quốc tế. Ở Việt Nam hiện có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Những điều đó cho thấy, đâu cần phải có cái gọi là “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra thì tự do ngôn luận ở Việt Nam mới được bảo đảm!

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy. Chính sách của Nhà nước Việt Nam là nhất quán. Không ai có thể phủ nhận những nỗ lực trong thực hiện quyền con người cùng những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho sự nghiệp quyền con người của nhân loại. Ngay từ khi trở thành thành viên của LHQ từ năm 1977, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức này, trong đó có Ủy ban Nhân quyền của LHQ. Đặc biệt, từ đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới cho thấy, Việt Nam đã nỗ lực ở mức cao nhất nhằm bảo đảm chăm sóc sức khỏe người dân, chăm lo thúc đẩy quyền con người trên các lĩnh vực. Chính các nước phương Tây cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ; trong nhiều trường hợp, Việt Nam làm trung gian trong các cuộc thương lượng. Ngày 22-2-2021, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Điều đó cho thấy, Việt Nam thực sự có trách nhiệm và luôn nỗ lực trong việc thực hiện quyền con người cả về chính sách cũng như thực tiễn, luôn là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới"./.

Luận điệu đưa các thông tin sai lệch, xuyên tạc của Voatiengviet

 

Một trong những chiêu bài “diễn biến hoà bình” thường được các thế lực thù địch sử dụng là đưa các thông tin sai lệch, xuyên tạc quyền con người và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Vừa qua trên trang “Voatiengviet” Đài VOA có bài viết: “Dân biểu Mỹ: Việt Nam phải chịu trách nhiệm về tình hình nhân quyền tệ đi”, cho rằng Việt Nam đang vi phạm tự do tôn giáo và quyền con người. Thực tế, VOA đang xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo;…. Đồng thời, quy định nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo;…; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi. Thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo giai đoạn 2012 – 2022, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp quyền sử dụng đất để xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo, như: Thành phố Hồ Chí Minh cấp 7.500 m2,  Đắk Lắk cấp 11.000 m2; Đà Nẵng cấp 9.000 m2…Năm 2022, Nhà nước đã công nhận 36 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn của tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham dự được chính quyền các cấp hỗ trợ đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ,..để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh. Như vậy, tự do tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đảm bảo tốt hơn.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định, quyền con người, quyền công dân  là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng trong phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ở Việt Nam, quyền con người được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng….Bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và bảo đảm quyền lực của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân do nhân dân quản lý và điều hành xã hội. Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, thực thi theo Hiến pháp và pháp luật. Các quyền này gồm: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền, tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân…Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng Hiến pháp, Pháp luật; không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bất cứ ai vi phạm các quyền này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Sự kiện này khẳng định quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam được bảo đảm tốt, điều này không thể xuyên tạc, phủ nhận. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu các thế lực thù địch, làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia – dân tộc và cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân./.

 

ÂM MƯU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng. Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấm đượm tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa, vai trò quan trọng góp phần trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo đảm quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; là nhân tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Hiện nay, Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong khi đó, các thế lực thù địch cũng dùng mọi thủ đoạn, cách thức thâm độc và xảo quyệt nhằm xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hạ thấp vai trò của quân đội. Chúng lợi dụng hiện tượng một số quân nhân vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quan hệ với nhân dân..., để đưa ra luận điệu “Quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Đó thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình” nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Với thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch cũng triệt để sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu độc, nhằm tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong các hoạt động thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dân vận, hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh...

Thực tiễn hơn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã khẳng định: Dù ở điều kiện hoàn cảnh nào, quân đội luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều son sắt thủy chung với Đảng, với Nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chủ động, tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân về “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động để xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, không vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa khác trên mạng xã hội. Cấp uỷ, tổ chức đảng cần quan tâm và chủ động hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến giáo dục pháp luật cho mọi quân nhân, nhất là việc tổ chức quán triệt các quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội về công tác quản lý, sử dụng mạng internet, mạng xã hội nhằm nâng cao nhận thức và hành động đúng đắn cho mọi quân nhân. Thường xuyên, tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục cảnh giác cho quân nhân có nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phản động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, thu thập tin tức tình báo, cùng các hành vi vi phạm pháp luật khác; từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh cho mọi quân nhân góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch.

Đặc biệt, cần tích cực đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan báo chí trong quân đội, phát huy lợi thế của mạng internet, tăng cường cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước trên các báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức và tăng cường hoạt động của lực lượng tham gia đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, nhất là trên mạng xã hội. Các đơn vị tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, cần thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia.

Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nội bộ, nắm chắc tình hình quản lý, sử dụng, hoạt động trên internet nói chung cũng như tham gia mạng xã hội của quân nhân trong đơn vị nói riêng; kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh... có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là, mất cảnh giác của quân nhân khi tham gia trên mạng xã hội; hạn chế các tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với tư tưởng, nhận thức, hành động của quân nhân, góp phần tạo sự “miễn dịch” cho mọi quân nhân trước các tác động, ảnh hưởng tiêu cực của thông tin trên mạng xã hội, làm trong sạch nội bộ. Qua đó, tạo dựng, lan tỏa hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Các cơ quan chuyên môn cần chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản cảm, sai quy định ảnh hưởng tới hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi sai trái của quân nhân khi tham gia mạng xã hội. Khi có vụ việc, tình hình liên quan đến quân nhân vi phạm các quy định trên mạng xã hội, cần kịp thời chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ đơn vị chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan chức năng có liên quan tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến quân nhân tán phát rộng rãi trên mạng xã hội, internet và để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta./.


Nhận diện rõ thủ đoạn và làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch

 

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. 16 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’I, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bà-la-môn giáo, Mặc môn, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bửu Sơn Kỳ Hương10. Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Tiếp tục phát huy vai trò, tác động tích cực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó, Đảng ta nhấn mạnh yếu tố văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; thực hiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộcĐây là mục tiêu trong thực hiện công tác tôn giáo. Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đảng ta đặt mục tiêu của công tác tôn giáo là đoàn kết tôn giáo trong mục tiêu chung đại đoàn kết toàn dân tộc là phù hợp, kế thừa, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phản ánh đúng ý chí, khát vọng của người Việt Nam hiện nay, trong đó có đồng bào có đạo. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người là sự khái quát đầy đủ chủ trương nhất quán của Đảng ta đối với vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ động lắng nghe, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chủ động, kịp thời phát huy những tác động tích cực, hạn chế, phê phán, đấu tranh, xử lý các biểu hiện tiêu cực liên quan đến tôn giáo.

Như vậy, Đảng ta đã kế thừa, bổ sung, tiếp thu những đóng góp quý báu từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nhất là nguyện vọng của đồng bào có đạo, phù hợp với thực tiễn sinh động của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đây là cơ sở định hướng trong nhận thức và thực hiện có hiệu quả công tác tôn giáo, tiếp tục phát huy “các nguồn lực của các tôn giáo” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đồng thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta./.

Cảnh giác âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch

 

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chúng rêu rao: quân đội nên “trung lập hóa về chính trị”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, quân đội phi giai cấp, do đó quân đội chỉ phục tùng Nhà nước chứ không chịu phục tùng bất cứ chính đảng nào. Thực chất chính là làm cho Quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; mưu đồ xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quân đội nào cũng đều mang bản chất của giai cấp và nhà nước sinh ra và nuôi dưỡng nó. Lênin khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản mang bản chất giai cấp công nhân là một tất yếu khách quan. Sự kiện sụp đổ chế độ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ở liên xô là một bài học đắt giá vì Đảng Cộng sản liên Xô để quân đội mất phương hướng mục tiêu chiến đấu. Quân đội nhân dân Việt Nam là tổ chức vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tổ chức, xây dựng và sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chúng ta khẳng định rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, thống nhất hữu cơ giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Quân đội ta sinh trưởng, thắng lợi là nhờ nhân dân, do nhân dân giúp đỡ. Quân đội phải bám dân, rời dân nhất định thất bại. Trong suốt chiều dài của chặn đường phát triển, trưởng thành, Quân đội ta đã lập nên những chiến công vẻ vang, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc Việt Nam XHCN, xứng đáng với lời biểu dương của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.