Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023

Việt Nam thúc đẩy quyền con người gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững

 Qua gần 3 năm thực thi Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA) các hoạt động giao thương, kết nối đầu tư cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân không ngừng được đẩy mạnh với mục tiêu lấy con người làm trung tâm trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên thời gian qua đã xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, thông tin sai sự thật đòi xóa bỏ EVFTA, gây ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối tác giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh châu Âu (EU).

Ngày 28/2/2023, một số nghị sĩ thuộc Nghị viện châu Âu (EP) đã tổ chức Hội thảo xem xét mức độ vi phạm nhân quyền và quyền lợi của người lao động Việt Nam sau hơn 2 năm thực thi Hiệp định Thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (Hội thảo) với nhiều cáo buộc chủ quan, sai sự thật.

Đáng chú ý, qua thông tin, hình ảnh, video được một số tờ báo nước ngoài đăng tải, có thể nhận thấy ban tổ chức Hội thảo dường như không mời Nhóm tư vấn trong nước (DAG) Việt Nam tham gia cuộc họp trên. Cần nói rõ, Nhóm DAG Việt Nam được thành lập theo quy định tại Điều 13.15 của Hiệp định EVFTA.

Nhóm bao gồm các hiệp hội, tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Việt Nam, được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, đại diện cho các lợi ích chính đáng tại Việt Nam liên quan đến thương mại và phát triển bền vững. Chức năng chính của Nhóm DAG Việt Nam là tập hợp, trình bày quan điểm và đưa ra khuyến nghị, tư vấn đối với việc thực thi Chương Thương mại và Phát triển bền vững của Hiệp định EVFTA, phù hợp với cam kết tại Hiệp định. Các thành viên DAG Việt Nam hoạt động độc lập với cơ quan quản lý nhà nước mà DAG Việt Nam cung cấp tư vấn.

Trong khi đó, ban tổ chức Hội thảo lại mời một số tổ chức không thiện chí với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thậm chí mời cả đại diện của tổ chức khủng bố Việt tân. Trên thực tế, tổ chức này luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, nổi bật là hoạt động tuyển dụng, huấn luyện thành viên tham gia các vụ khủng bố, phá hoại, ám sát, phá rối an ninh, kích động bạo loạn.

Nhiều thành viên của tổ chức khủng bố Việt tân đã bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt, xử lý vì các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Có mặt tại Hội thảo, tổ chức khủng bố Việt tân cùng các tổ chức không thiện chí đã lập tức tranh thủ diễn đàn, tung ra những luận điệu bôi đen tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền và xuyên tạc bức tranh chính trị-xã hội Việt Nam sau hơn 2 năm thực thi EVFTA.

Theo đó, các nhóm, tổ chức này vu cáo rằng “tình hình nhân quyền Việt Nam ngày càng thậm tệ hơn”, “Nhà nước Việt Nam tìm đủ mọi cách ngăn cản, gây khó khăn cho người lao động trong việc thành lập nghiệp đoàn độc lập”, “chính quyền Việt Nam đã vi phạm chương 13 của Hiệp định EVFTA”,… cùng nhiều nội dung xuyên tạc khác; đồng thời hối thúc các nghị viên EU “gây sức ép mạnh hơn đối với chính quyền Hà Nội”.

Có thể thấy mục đích hướng tới từ các ý kiến tham gia Hội thảo của những tổ chức này là cổ xúy các hành động chống phá Việt Nam và các đối tượng, hội nhóm phạm pháp. Minh chứng rõ nhất là họ cố tình hiểu sai, xuyên tạc khái niệm “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” (quy định tại khoản 3, Điều 3, Điều 170 của Bộ luật Lao động năm 2019). Từ đó, tạo cớ cho các tổ chức chống phá dưới vỏ bọc “công đoàn độc lập” thực hiện các âm mưu đen tối, dụ dỗ công nhân, người lao động tham gia các hoạt động trái pháp luật.

Cần nhấn mạnh rằng, dù tự xưng là “các nghiệp đoàn, hội nhóm công đoàn độc lập” nhưng các tổ chức này không đăng ký cũng như tiến hành các thủ tục xin phép thành lập mà ngang nhiên hoạt động trái với các quy định của pháp luật Việt Nam. Chẳng những vậy, tuy mang danh là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động nhưng các tổ chức trên lại không hề có ý định hợp tác cùng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam trong việc chăm lo đời sống của công nhân. Thay vào đó, họ chỉ sử dụng hàng loạt kênh mạng xã hội để dụ dỗ, kích động công nhân bỏ việc, tham gia các cuộc đình công, biểu tình bất hợp pháp.

Do đó, những doanh nghiệp, tổ chức có người đại diện pháp luật thực hiện hành vi gian dối, vi phạm pháp luật vì có hành vi trốn thuế trong thời gian dài như Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID; Trung tâm Nghiên cứu pháp luật và chính sách phát triển bền vững (LPSD); Trung tâm truyền thông giáo dục cộng đồng (MEC),… không xứng đáng được gia nhập Nhóm tư vấn trong nước Việt Nam. Đây là sự thật hiển nhiên nhưng một số nghị viên EP và đại diện các tổ chức thiếu thiện chí vẫn ra sức bao biện, phủ nhận, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Đáng buồn đây không phải lần đầu tiên một số nghị viên EP mở các cuộc hội thảo, kỳ họp, đưa ra những báo cáo, tuyên bố thiếu khách quan như vậy. Nhìn lại quá khứ, một nhóm nghị viên EP đã nhiều lần ban hành phán quyết, thư ngỏ với nội dung không chính xác về tình hình bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam, nhất là trong giai đoạn Việt Nam và EU bắt đầu tiến hành đàm phán về hiệp định thương mại tự do.

Ngay cả khi Ủy ban Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu đã thông qua khuyến nghị việc phê chuẩn Hiệp định EVFTA, một số nghị viên EP vẫn giữ nguyên cái nhìn phiến diện, quan điểm sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Điển hình là sự kiện ngày 13/6/2022, cơ quan nghiên cứu của EP đã công bố báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu với thông tin, nhận định thiếu khách quan, không công bằng, dựa trên một số thông tin sai lệch, không có cơ sở, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam.

Đây là điều đáng tiếc, nhất là khi Liên minh châu Âu và Việt Nam đã có cơ chế Đối thoại nhân quyền hằng năm để trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, tìm ra giải pháp tháo gỡ những vướng mắc trong công tác đánh giá tình hình bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Những năm qua, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, bảo đảm người dân được thụ hưởng những thành quả của quá trình phát triển. Do đó, thúc đẩy quyền con người gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững luôn là mục tiêu được Nhà nước Việt Nam đặt lên hàng đầu.

Vì vậy, khi tham gia các hiệp định thương mại tự do, ngoài sự bảo đảm công bằng kinh tế giữa các bên, Việt Nam cũng chủ động hợp tác, tìm ra tiếng nói chung với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế về các nội dung “phi thương mại” như thúc đẩy quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Thế nên, khi EVFTA được thông qua, Nhà nước Việt Nam đánh giá những cam kết về quyền con người trong hiệp định là cơ hội để đất nước tiến nhanh đến các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Có thể khẳng định, gần 3 năm thực thi EVFTA, Việt Nam luôn tuân thủ hiệp định khi không ngừng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, chú trọng cải thiện các quyền về kinh tế, xã hội thông qua gia tăng năng lực sản xuất, tạo việc làm, nâng cao đời sống của người dân, nâng cao các tiêu chuẩn lao động và môi trường trong nước.

Điều này được minh chứng trên nhiều phương diện từ cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho đến xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và người lao động, nhất là trong giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19.

Đồng thời, nhằm hiện thực hóa quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở cùng nhiều quyền lợi khác của người lao động theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Lao động năm 2019, hiện nay Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã và đang khẩn trương triển khai để dự án Luật Công đoàn (sửa đổi) có thể hoàn thành đúng kế hoạch trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8.

Theo ghi nhận của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (Eurocham), “trong 12 tháng qua, Chính phủ Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài… Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới… Điều này đã giúp nâng cao sinh kế, mức sống và triển vọng của hàng triệu người… Hơn nữa, những cải thiện về cơ sở hạ tầng đã góp phần nâng cao đáng kể điều kiện sống.

Năm 1993, dưới 50% người dân được sử dụng điện. Ngày nay điện gần như có ở khắp nơi, ngay cả vùng nông thôn và các hải đảo xa xôi… Việt Nam cũng đạt được một số Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG) trước hạn” (trích Eurocham: “Sách trắng 2022/2023 Nỗ lực hướng tới kinh tế xanh và phát triển bền vững: Thực thi toàn diện EVFTA và hoàn tất phê chuẩn EVIPA”, Tr.17).

Ngày 3/4/2023, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò và những sáng kiến, đóng góp của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người trên tư cách là thành viên của UNHRC.

Mới đây, ngày 4/4, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền của Nghị viện châu Âu Udo Bullmann trong lịch trình chuyến thăm Việt Nam đã gặp và làm việc với Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang. Tại buổi làm việc, ông Udo Bullmann khẳng định, EU coi Việt Nam là đối tác hợp tác ưu tiên và quan trọng; đánh giá cao những thành tựu phát triển mà Việt Nam cũng như vai trò, vị thế của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn đa phương; mong muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.

Đây là những minh chứng thuyết phục cho những kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong vấn đề nhân quyền, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Những tiếng nói lạc lõng, thông tin sai sự thật của một vài cá nhân, tổ chức không thiện chí cần được nhận diện và phê phán, để không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu trong khuôn khổ Hiệp định EVFTA./.


Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, THÂM ĐỘC

Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...

Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

MỘT VIỆT NAM VỚI QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ MỞ RỘNG

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).

Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

NHÀ BÁO VÀ CƠ QUAN BÁO CHÍ TRONG CUỘC CHIẾN ĐẨY LÙI THÔNG TIN XẤU ĐỘC, THÙ ĐỊCH

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo - với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân - phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.

Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.

Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua./.

Vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa

 Tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin luận chứng rằng: sự ra đời, phát triển của dân chủ XHCN là kết quả tất yếu của cách mạng XHCN, nó trở thành một trong những mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin viết: “Giai cấp vô sản cần có một nền dân chủ… có khả năng trở thành một hình thức của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cũng như trở thành công cụ của cuộc cách mạng đó”[1]; “không thể có một chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn”[2]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, giành chính quyền, giành dân chủ, xây dựng nhà nước mới, nền dân chủ mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là nền dân chủ của đa số, do đa số và vì đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo đó, thực hiện dân chủ triệt để, dân chủ toàn diện, dân chủ hoàn toàn vừa là mục tiêu, nhiệm vụ và là động lực to lớn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Mục đích của chúng ta là làm cho hết thảy những người nghèo khổ, không trừ một ai, đều thực tế tham gia quản lý”[3]. Bản chất của nhà nước Xô viết, của chế độ dân chủ XHCN là ở chỗ: “Do đông đảo quần chúng quản lý, do chính những giai cấp trước kia bị CNTB áp bức, quản lý”[4]. Và động lực, phương thức, “phương pháp tuyệt diệu” để xây dựng, hoàn thiện nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là “thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai, tham gia việc quản lý nhà nước”[5]. Nói về việc phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin nhấn mạnh mấy điểm cơ bản sau đây:

i) Phải đoạn tuyệt với định kiến rằng, “chỉ có bọn giàu có hay bọn công chức xuất thân từ các gia đình giàu có mới có khả năng quản lý nhà nước”. Đồng thời, “điều căn bản nhất là gây cho những người bị áp bức và những người lao động tin tưởng vào sức mạnh của bản thân họ rằng họ có thể và phải tự mình quản lý công việc nhà nước hằng ngày”[6]. Tất nhiên, để quản lý nhà nước và xã hội, người lao động phải học quản lý và học ngay lập tức. Lênin yêu cầu: “Giáo dục nhân dân, cho đến tận những tầng lớp ở bên dưới nhất, nghệ thuật quản lý nhà nước, không phải chỉ bằng sách vở, mà bằng cách chuyển lập tức ở khắp nơi sang những hoạt động thực tiễn, sang áp dụng kinh nghiệm của quần chúng”. Lênin đặc biệt lưu ý rằng, việc thu hút tất cả những người lao động tham gia quản lý nhà nước sẽ không thể thực hiện được “nếu không lôi cuốn phụ nữ tham gia sinh hoạt chính trị”[7].

ii) Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ mà quan trọng là phải “xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước[8]. Theo đó, mỗi người dân đều được ở trong điều kiện có thể tham gia thảo ra pháp luật của nhà nước, bầu cử, bãi miễn đại biểu của mình cũng như thi hành pháp luật và kiểm tra việc chấp hành pháp luật[9]; và “làm cho hết thảy quần chúng lao động và bị bóc lột, cùng với tất cả mọi tầng lớp tiểu tư sản, đi theo mình vào con đường kiến thiết kinh tế mới, vào con đường tạo ra những quan hệ xã hội mới, một kỷ luật lao động mới, một tổ chức lao động mới có khả năng phối hợp những thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật tư bản với sự tập hợp đông đảo những người lao động tự giác, những người tạo ra nền sản xuất lớn XHCN”[10].

iii) Bảo đảm dân chủ đi đôi với tập trung, thống nhất và gắn liền với kỷ luật, pháp luật. Lênin nhấn mạnh: Đảng Cộng sản phải gương mẫu bảo đảm “tự do thảo luận, thống nhất hành động”[11] “tập trung chặt chẽ”, “kỷ luật nghiêm ngặt”[12]Xây dựng bộ máy nhà nước theo tinh thần “thà ít mà tốt”; dân chủ phải đi liền với xử lý, trừng trị những phần tử vô nguyên tắc, vô tổ chức, kỷ luật, quan liêu, tham ô, hối lộ, thoái hóa, biến chất. Vì đó là những thành phần, bộ phận có thể phá hoại tổ chức đảng, vô hiệu hóa kỷ luật, pháp luật Nhà nước và tàn phá dân chủ xã hội.

Quá trình xác lập, vận hành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất là quá trình tạo ra một chế độ xã hội, một kiểu tổ chức lao động xã hội mới với kỷ luật lao động tự giác, tự nguyện và năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản nhằm bảo đảm cho nhân dân “thực sự hưởng được tất cả những phúc lợi của nền văn hoá, văn minh và dân chủ”[13]. Với ý nghĩa đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ mà còn là động lực to lớn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay, nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có những đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc trong nhận diện, tạo lập và phát huy các loại động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác định là một trong những động lực cơ bản không thể thiếu của CNXH ở Việt Nam. Việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân (động lực dân chủ) có vị trí, vai trò đặc biệt trong việc tạo nên động lực tổng hợp để đổi mới thành công và xây dựng CNXH thắng lợi. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”[14]. Theo đó, trong thời kỳ đổi mới, động lực dân chủ được nhìn nhận, khai thác, thực hiện, thúc đẩy, mở rộng, phát huy từ các cấp độ, các khía cạnh, các lĩnh vực đời sống xã hội như: 

Động lực dân chủ trên lĩnh vực chính trị được thể hiện và thực hiện bằng việc đổi mới, dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Sức mạnh, động lực của đổi mới, phát triển được tạo ra trước hết từ sự nêu gương thực hành dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức, hoạt động của Đảng; trong việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có phân công, phối hợp, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; trong việc đổi mới tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội nhằm làm tốt vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủtrong việc kết hợp dân chủ đại diện với dân chủ trực tiếp, kết hợp dân chủ từ dưới lên với dân chủ từ trên xuống, dân chủ trong Đảng với dân chủ trong xã hội…

Động lực dân chủ trên lĩnh vực kinh tế được thể hiện và thực hiện bằng việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, mọi người dân được tự do, tự chủ sản xuất kinh doanh theo pháp luật. Nhà nước khuyến khích làm giàu hợp pháp và tích cực xóa đói, giảm nghèo bền vững. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tư nhân cũng là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân… Đây là phương thức, động lực và là con đường tất yếu để phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ các lực lượng sản xuất công nghiệp hiện đại xã hội hóa cao và từng bước thiết lập các quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp theo định hướng XHCN.

Động lực dân chủ trên lĩnh vực văn hóa, xã hội được thể hiện và thực hiện bằng việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc Việt Nam; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; bảo đảm tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người… Theo đó, thực hiện dân chủ trong văn hóa là phương thức cơ bản để văn hóa thực sự là “nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”[15]. Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Từ những phân tích trên cho thấy, rõ ràng, trong đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc về vị trí, vai trò đặc biệt của động lực dân chủ XHCN trong hệ động lực của CNXH ở Việt Nam. Trên thực tế, bằng hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng đầy đủ, đồng bộ, việc phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng để toàn Đảng, toàn dân ta thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, làm cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước ta không ngừng nâng cao. Đây là minh chứng sinh động khẳng định giá trị, sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng V.I.Lênin về phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa.

 Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, đến nay, việc phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của V.I.Lênin vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có mặt chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới, chưa thật sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đều. Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân và giải quyết kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật”[16]. Bốn nguy cơ mà Đảng nêu lên từ Đại hội VII không những vẫn tồn tại mà có mặt còn diễn biến phức tạp hơn. Tham nhũng, tiêu cực vẫn diễn biến phức tạp. Gần đây, tình trạng sợ trách nhiệmkhông dám hành động vì lợi ích chung trong một bộ phận cán bộ là rất đáng lo ngại. Thực trạng đó đòi hỏi chúng ta cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của V.I.Lênin nhằm để tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ và đưa đất nước vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Theo chúng tôi, cần chú ý mấy giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu, nhận thức đầy đủ và sâu sắc di sản V.I.Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, phần lớn di sản tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa vẫn thể hiện tinh thần thời đại sâu sắc. Tất nhiên, nghiên cứu tư tưởng Lênin về phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa phải đặt trong chỉnh thể lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về động lực của chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để nhằm nhận thức, giải quyết những vấn đề thực tiễn đất nước đang đặt ra. Với bản chất khoa học và cách mạng, tư tưởng, lý luận ấy luôn là “cẩm nang thần kỳ”, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, qua gần 40 năm đổi mới, đến nay, Đảng ta đã hình thành về cơ bản lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có hệ thống quan điểm lý luận khá phong phú, sâu sắc về dân chủ xã hội chủ nghĩa và về hệ động lực của đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ví dụ, các quan điểm, luận điểm, chủ trương như: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; Bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực; Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm; thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường..., tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước; “cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Đây là những luận điểm, quan điểm, chủ trương thấm nhuần sâu sắc tinh thần khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phản ánh sâu sắc nhu cầu khách quan của công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Do vậy, cần đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa những quan điểm, luận điểm, chủ trương đúng đắn trên đây thành các quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để triển khai thực thi trong thực tiễn đời sống.


Thứ ba, 
tổ chức thực hiện nghiêm minh, sáng tạo đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, trọng tâm là giải quyết đúng đắn, hài hòa trên thực tế mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thực sự nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Ai không dám vì dân, vì nước phải đứng sang một bên. Ai yếu kém, hư hỏng phải được thay thế kịp thời. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, sâu rộng và thực chất hơn; kỷ cương, phép nước phải được thực hiện nghiêm minh, triệt để, công bằng hơn; các rào cản, vướng mắc, các điểm nghẽn phải được dỡ bỏ; mọi tổ chức cá nhân vi phạm dân chủ, tham ô, tham nhũng, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh, kịp thời để không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội nhằm tạo niềm tin, động lực cho sự phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững của đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

Tài liệu tham khảo

[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 321 - 322

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 324

[3] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 251.

[4] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 286.

[5] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 68.

[6] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 416-418.

[7] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 463.

[8] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 337.

[9] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr192. .

[10] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 20.

[11] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 82.

[12] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 34.

[13] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 116.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 84-85.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 47.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr 88-89.