Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023
CẦN CÓ LUẬT BỔ SUNG ĐỂ TRỪNG TRỊ CÔN ĐỒ!
THÔNG TIN "NGHE MÁY TỪ ĐẦU SỐ LẠ SẼ BỊ TRỪ TIỀN" LÀ TIN GIẢ!
BAO NHIÊU SẢN PHẨM LỚN CỦA VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BẤY NHIÊU SỰ HẸP HÒI NÉM Đ Á CỦA KHÔNG ÍT CHÍNH NGƯỜI VIỆT?
BKAV sau khi ra mắt Bphone đã bị s.oi m.ói từng chân lông kẽ tóc theo kiểu “bới lông tìm vết” để tìm cho ra những “kh. uyết t.ật” của nó, bị cư dân mạng v.ùi d. ập không thương t.iếc, ch.ê b.ai chất lượng sản phẩm đủ điều; hay thời điểm VinFast ra mắt 2 mẫu xe ô tô đầu tiên, rồi dàn xe ô tô điện xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu, có mặt ở các triển lãm xe hơi lớn nhất thế giới... không ít người dè bỉu cho rằng “chẳng ai d.ại gì đi chọn xe Việt Nam. Làm sao chọi lại được với Toyota, BMW”…
Liệu có ở một đất nước nào khác mà một sản phẩm do người nước đó làm ra lại bị chính những người dân nước mình v.ùi d. ập lên bờ xuống ruộng như vậy hay không?
Nhìn lại đất nước mình nghĩ mà b.uồn. Đặt chân tới Hàn Quốc, đâu đâu cũng thấy hình ảnh của Samsung, Huyndai; tất cả phim Hàn Quốc chúng ta xem từ nhân vật giàu có đến ngh.èo khó đều dùng sản phẩm của nước họ; Nhật Bản thì những chiếc ô tô Toyota, Honda chạy đầy đường, người dân dùng hàng điện tử Sony do chính họ sản xuất, làm ra. Hãy nhìn đất nước người ta mà xem, mỗi cá nhân chịu thiệt thòi một chút thì đã sao nào?
Muốn trở thành một dân tộc lớn thì mỗi cá nhân phải nghĩ lớn. Tài năng thì làm chủ, ít tài hơn thì ủng hộ người chủ đó bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ sản xuất ra. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm “nhem nhuốc” của thời mới khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà làm ra những sản phẩm tinh xảo sau này?
Chịu biết bao b. úa r. ìu, n. ém đ.á từ dư luận không th.ương tiếc như thế, ấy vậy mà dõi theo những hành động của vị tỷ phú Phạm Nhật Vượng mới biết ông dành tâm huyết, nhiệt huyết để thay đổi đất nước này như thế nào.
Khi người Việt ch.i bộn tiền m.ua bất động sản ở nước ngoài, làn sóng di cư báo động thì những khu đô thị quy mô, tầm cỡ của Vingroup mọc lên, đẹp chẳng kém gì Singapore hay Hong Kong; Toà nhà Landmark 81 đã sừng sững mọc lên giữa trời Sài Gòn và đã ghi dấu trở thành toà tháp cao thứ 8 trên thế giới; Nhà máy sản xuất ô tô VinFast chỉ mất 650 ngày để hoàn thành…
Hãy nhìn xem, Đặng Lê Nguyên Vũ, cuộc đời, sự nghiệp và triết lý của ông với khát vọng quốc gia, khát vọng toàn cầu rất lớn khi ông bày b.inh bố tr.ận diện rộng khởi nghiệp kiến quốc đường dài ra sao?.
Trước đây, phát biểu tại lễ khánh thành Nhà máy sản xuất ô tô VinFast Thủ tướng ch.ính phủ nhắn nhủ rằng: “Doanh nghiệp Việt Nam phải có khát vọng cùng dân tộc với niềm tự hào sâu sắc về tiềm năng con người Việt Nam. Phải dám nghĩ, dám làm, phải có tinh thần cách mạng dấn thân, nói phải đi đôi với làm, làm thì phải khẩn trương, làm đến nơi đến chốn”.
Người Việt Nam đã từng làm nên nỏ thần thời An Dương Vương hàng ngàn năm về trước; đã từng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ ch.ấn động địa cầu; đã từng xây dựng đường Trường Sơn huyền thoại để mở đường cho chiến dịch Đại thắng mùa Xuân 1975…
Và bây giờ những tỷ phú mang trọng trách gánh vác nền kinh tế như Phạm Nhật Vượng (VinGroup), Nguyễn Thị Phương Thảo (Vietjet), Lê Viết Lam (SunGroup), Trần Đình Long (Hòa Phát), Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên)… hôm nay phần nào mang hình ảnh của những ch.iến b.inh năm xưa, nếu như không có khát vọng, lý tưởng phụng sự, tinh thần, bản lĩnh đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI THÓI XU NỊNH
Thông thường ai cũng muốn được khen ngợi. Lời khen thực hiện đúng lúc, đúng chỗ, đúng người, đúng mực, kịp thời sẽ có tác dụng khích lệ, động viên rất lớn. Tuy nhiên, nếu khen một cách dễ dãi, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành thì đó lại là a dua, nịnh bợ...
Xu nịnh là hành vi có tính toán của những kẻ kém tài, kém đức, sống thiếu trung thực, giả tạo, chủ yếu dùng xảo ngôn, miệng lưỡi “đường mật” để ca tụng, tâng bốc lấy lòng người khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Thói xu nịnh xuất hiện từ xa xưa và tồn tại cho đến ngày nay một phần là do không ít người luôn thích nghe những "lời có cánh” thay vì những lời thẳng thắn, thật lòng.
Thói xu nịnh biến hóa khôn lường với muôn hình vạn trạng. Nó không đơn thuần là cấp dưới nịnh bợ cấp trên mà nhiều khi cấp trên cũng nịnh cấp dưới... Hậu quả của việc này khiến những người được nịnh tự mãn, ảo tưởng, đồng thời những cán bộ, đảng viên chân chính sinh ra chán nản, giảm ý chí phấn đấu, không thiết tha cống hiến. Cơ quan, đơn vị có kẻ nịnh bợ thường dẫn đến cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, mất đoàn kết hoặc đoàn kết xuôi chiều, từ đó năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng giảm sút, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp.
Theo Thượng tá Trần Kim Trọng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3): Hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong đơn vị đều được đào tạo cơ bản tại các trường sĩ quan, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng nên hiện tượng “nịnh hót” xuất hiện không nhiều song vẫn len lỏi đâu đó trong cuộc sống, sinh hoạt, công tác hằng ngày. Tuy biểu hiện chủ yếu chỉ dừng lại ở việc dùng những “lời có cánh” để lấy lòng cấp trên, đồng đội, nhưng nếu không được chấn chỉnh sẽ tạo ra dư luận xấu, ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Theo Trung tá Vũ Xuân Lợi, Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 405 (Quân khu 3): Các đợt sinh hoạt chính trị, phong trào thi đua, cuộc vận động, nhất là việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai rộng khắp, liên tục trong thời gian dài tại các cơ quan, đơn vị đã và đang tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, đảng viên luyện rèn bản lĩnh, bồi đắp lý tưởng, tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị chú trọng mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở, đề cao tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, học tập đã giúp cán bộ, chiến sĩ có điều kiện được bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình một cách thẳng thắn, cởi mở; giúp cho mối quan hệ cán-binh, cấp trên với cấp dưới ngày càng gắn bó, trong sáng trên tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội. Điều này đã góp phần tích cực vào ngăn chặn thói xu nịnh và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.
Để có thể xóa bỏ thói xu nịnh, theo Đại tá Nguyễn Đình Khiêm, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 395 (Quân khu 3): Quan trọng nhất là phải giáo dục, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, giàu lòng tự trọng. Bởi khi cán bộ, đảng viên có phẩm chất, lòng tự trọng sẽ luôn biết giữ gìn danh dự của bản thân, trung thực, giản dị, tỉnh táo, sáng suốt và không bị "mê hoặc" trước những lời lẽ vuốt ve, ca ngợi thái quá.
Đẩy lùi thói xu nịnh không phải vấn đề đơn giản, không phải là việc làm một sớm một chiều nên cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thể hiện thái độ thẳng thắn, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với biểu hiện tiêu cực này. Trước hết, cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng động cơ làm việc đúng đắn, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng nguyên tắc và tuân thủ đúng quy trình; tạo môi trường làm việc lành mạnh, bình đẳng, công bằng để cán bộ, đảng viên cùng nhau nỗ lực rèn luyện, phấn đấu./.
ĐẢNG LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI
“Phi chính trị hóa” Quân đội là một âm mưu, thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, với mục đích tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta
BAO NHIÊU SẢN PHẨM LỚN CỦA VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BẤY NHIÊU SỰ HẸP HÒI NÉM Đ Á CỦA KHÔNG ÍT CHÍNH NGƯỜI VIỆT?
BKAV sau khi ra mắt Bphone đã bị soi mói từng chân lông kẽ tóc theo kiểu “bới lông tìm vết” để tìm cho ra những “khuyết tật” của nó, bị cư dân mạng vùi dập không thương tiếc, chê bai chất lượng sản phẩm đủ điều; hay thời điểm VinFast ra mắt 2 mẫu xe ô tô đầu tiên, rồi dàn xe ô tô điện xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu, có mặt ở các triển lãm xe hơi lớn nhất thế giới... không ít người dè bỉu cho rằng “chẳng ai dại gì đi chọn xe Việt Nam. Làm sao chọi lại được với Toyota, BMW”…
Dân chủ - phương thức và động lực của đổi mới giáo dục và đào tạo
(LLCT) - Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là công việc hệ trọng của quốc gia. Đổi mới không chỉ liên quan đến bản thân nền giáo dục mà còn liên quan đến tương lai và khả năng phát triển đất nước theo định hướng XHCN của dân tộc Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới giáo dục đã bước đầu tạo nên những niềm hy vọng mới cho toàn xã hội. Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, trước hết cần thấm nhuần sâu sắc nội dung và tinh thần dân chủ của Nghị quyết. Có thể xem đây là một trong những điểm quan trọng thể hiện rõ sự đổi mới tư duy của Đảng ta về giáo dục và đào tạo. Theo đó, dân chủ là một trong những mục tiêu, phương thức, động lực cơ bản của việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam.
1. Dân chủ trong giáo dục và đào tạo
Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Nó có sức hấp dẫn lớn và trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Ở Việt Nam, quá trình đổi mới toàn diện đất nước và dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã hội đã khiến dân chủ xã hội nói chung, dân chủ trong giáo dục và đào tạo nói riêng được xem là mục tiêu và động lực của đổi mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) chỉ rõ: “Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...”(1). Tuy nhiên, hiện nay việc nhận thức và thực hiện dân chủ trong nhà trường, dân chủ trong giáo dục và đào tạo chưa thực sự hiệu quả.
Dân chủ trong giáo dụcvà đào tạo bao hàm một số khía cạnh cơ bản sau đây:
- Dân chủ trong giáo dục là nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Công cuộc phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Đó là nền giáo dục đa dạng để mọi người có khả năng và điều kiện học tập suốt đời.
- Giáo dục và đào tạo có nội dung, mục tiêu trang bị giá trị, kinh nghiệm dân chủ, tri thức dân chủ, thái độ, kỹ năng, năng lực làm chủ (làm chủ tự nhiên, làm chủ tri thức, kỹ thuật, làm chủ kinh tế, làm chủ chính trị, văn hóa, xã hội...) cho người học để hướng đến xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội.
- Giáo dục và đào tạo có hình thức, phương pháp tổ chức, hoạt động, vận hành hiệu quả theo quy định của pháp luật, trong đó mỗi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tham gia quá trình giáo dục và đào tạo được tự chủ, tự do phát huy năng lực sáng tạo đa dạng của mình (người dạy, người học, nhà quản lý, nhà giáo, Nhà nước, nhà trường, gia đình, người sử dụng dụng lao động...).
- Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến với công nghệ, kỹ thuật đánh giá trung thực, khách quan; có cơ chế tuyển lựa bài bản, minh bạch, khuyến khích người tài đức; ngăn ngừa và dễ dàng thải loại những cá nhân, tổ chức yếu kém.
Dân chủ xã hội nói chung, dân chủ trong giáo dục và đào tạo nói riêng có quan hệ gắn bó mật thiết. Tính chất, trình độ dân chủ của xã hội và dân chủ trong giáo dục, đào tạo của mỗi nước lệ thuộc vào tính chất và trạng thái của thể chế chính trị; tính chất và trình độ phát triển kinh tế; triết lý giáo dục, trình độ dân trí, năng lực, phẩm chất của nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục, truyền thống văn hóa, truyền thống giáo dục của mỗi quốc gia, dân tộc và cả những nhân tố của thời đại...
Ở Việt Nam, khi công cuộc đổi mới đất nước bước vào thời điểm có tính chất bước ngoặt, đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN và thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn dân chủ trong giáo dục và dân chủ trong các nhà trường. Không thể đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà nếu chúng ta không thực sự xem dân chủ là mục tiêu, phương thức, động lực của việc đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Dân chủ là mục tiêu, phương thức, động lực của việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới giáo dục và đào tạo có nhiều điểm mới. Trong đó, đáng chú ý là: Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học... Bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo... Đây là sự trở lại và tiếp tục tư tưởng về giáo dục và đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Sinh thời, Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo phải hướng đến phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của con người; “Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước”(2).
Như vậy, có thể xem phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội là triết lý đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo lần này. Đổi mới giáo dục và đào tạo phải hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, nhất là năng lực làm chủ, phẩm chất làm chủ để đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chúng ta đã từng nhấn mạnh mục tiêu giáo dục toàn diện nhưng thực tế mục tiêu này đã không được nhận thức và thực hiện đúng. Điều đó đã đưa đến cách làm giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc... Lần đổi mới này, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội phải được xem là mục tiêu cao nhất, là triết lý xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo.
Việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục phải bảo đảm mục tiêu: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”(3). Bằng giáo dục, qua giáo dục, nhờ giáo dục mà những năng lực sẵn có của người học được khơi dậy và phát huy. Người học phải không ngừng tiến bộ về mọi mặt, trong đó nhấn mạnh sự tiến bộ về kỹ năng thực hành, năng lực làm chủ và phẩm chất làm chủ. Theo lứa tuổi và trình độ, người học từng bước vươn lên làm chủ các loại tri thức, làm chủ các loại kỹ năng; biết rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với tự nhiên và các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực đời sống. Những tri thức dân chủ, giá trị dân chủ, thái độ, kỹ năng làm chủ phải được dạy, được học, được thực hành trong nhà trường, trong các cơ sở giáo dục và đào tạo. Nhờ giáo dục, bằng giáo dục, qua giáo dục, người học tự tin và tự chủ, làm việc sáng tạo và hiệu quả hơn, có thêm tri thức và kỹ năng sống để sống tốt hơn. Đó là những năng lực và phẩm chất công dân cần có của một xã hội hiện đại, văn minh, dân chủ. Đó là tri thức, năng lực, kỹ năng để mỗi người, mỗi công dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Phát triển năng lực người học, năng lực làm chủ cho mọi người, mọi công dân để họ là chủ, làm chủ thực sự đã trở thành mục tiêu và sứ mệnh vẻ vang của nền giáo dục Việt Nam trong điều kiện mới.
Tuân thủ triết lý, hướng theo mục tiêu nói trên đòi hỏi toàn bộ quá trình đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo phải thực sự dân chủ hóa. Nội dung, chương trình, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục, kiểm tra, đánh giá; quan hệ dạy - học, quan hệ tổ chức quản lý cũng phải hiện đại hóa, dân chủ hóa. Người dạy, người quản lý, nhà trường, Nhà nước, cá nhân, tổ chức, đơn vị sử dụng nhân lực, gia đình, cộng đồng, xã hội... được tự do, tự chủ phát huy năng lực sáng tạo theo chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đóng góp hiệu quả nhất cho việc phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Theo đó, các tầng lớp nhân dân, nhất là đông đảo nhân dân lao động, tùy theo điều kiện, nhu cầu, năng lực có thể học tập và học tập suốt đời. Học để làm người, để làm việc, để làm chủ, để chung sống. Đó là những biểu hiện cơ bản nhất, khái quát nhất của dân chủ trong nhà trường và dân chủ trong giáo dục, đào tạo. Đó là tính nhân dân, định hướng XHCN của nền giáo dục dân chủ hiện đại. Với ý nghĩa đó, dân chủ được xem là mục tiêu đổi mới giáo dục lần này. Xa rời mục tiêu ấy, không thực hiện được mục tiêu ấy có nghĩa là việc đổi mới giáo dục còn nửa vời, chưa đến nơi, chưa triệt để, chưa căn bản, chưa toàn diện.
Để có một nền giáo dục hiện đại, dân chủ, tiên tiến, làm tốt sứ mệnh phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN của đất nước thì con đường và phương thức cơ bản là phát huy dân chủ, thực hành dân chủ trong từng bước, từng khâu và trong toàn bộ quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo. Với ý nghĩa đó, dân chủ chính là phương thức, động lực to lớn để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam.
Một số điểm cơ bản mang tính phương thức, động lực và giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà:
Thứ nhất, cần dân chủ hóa việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo. Những chủ trương, chính sách liên quan đến đại cục của nền giáo dục quốc dân nhất thiết phải lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân bằng những hình thức, phương pháp, quy trình và lộ trình thích hợp. Là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo không chỉ đòi hỏi phải được ưu tiên đầu tư tiền bạc, kinh phí, mà hệ trọng hơn, chính sách về giáo dục và đào tạo phải đi trước, đi đầu để mở đường cho việc phát triển toàn diện đất nước. Nhiệm vụ đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo lần này rất nặng nề. Nó liên quan đến lợi ích của nhân dân, lòng tin của nhân dân, liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ tới. Chính sách vĩ mô về giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải bài bản, khoa học và khả thi. Do đó, những chính sách ấy phải là sự kết tinh ý chí, trí tuệ toàn Đảng, toàn dân. Nó phải được toàn Đảng toàn dân bàn bạc, lo liệu. Những chính sách ấy phải bảo đảm nguyên tắc do toàn dân hoạch định, toàn dân thi hành và toàn dân thụ hưởng.
Đây là công việc hệ trọng của quốc gia liên quan đến hàng triệu con người nên phải được chuẩn bị rất công phu, khoa học. Tất nhiên, không phải mọi công việc lớn nhỏ của giáo dục và đào tạo đều đưa ra toàn dân để xin ý kiến. Tùy theo nội dung vấn đề mà có thể có đối tượng trưng cầu khác nhau, hình thức, phương pháp, quy trình và lộ trình lấy ý kiến một cách phù hợp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, những chính sách được xây dựng trên cơ sở sáng kiến của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, bảo đảm lợi ích của nhân dân thì chính sách ấy dễ dàng đi vào cuộc sống và đem lại thành công cho cách mạng.
Thứ hai, cần nhận thức và thực hiện đầy đủ, đúng đắn việc xã hội hóa giáo dục và đào tạo; cần thiết lập các điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội, khả năng học tập và học tập suốt đời. Đến nay, nhận thức nhiều người, trong đó có không ít cán bộ chủ chốt các cấp và cả cán bộ quản lý giáo dục về xã hội hóa giáo dục một cách đơn giản, phiến diện. Rằng, xã hội hóa giáo dục là huy động sự đóng góp bằng tiền của vào sự nghiệp giáo dục, là tăng học phí, là đa dạng hóa các loại hình giáo dục và đào tạo, là phát triển trường tư. Hay, xã hội hóa giáo dục là “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; những gì Nhà nước, nhà trường gặp khó khăn thì giao cho nhân dân, giao cho xã hội... Những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục nước ta lâu nay cũng có phần nguyên nhân từ những phiến diện và lệch lạc trong nhận thức và thực hiện xã hội hóa giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục là huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, tham gia vào quá trình giáo dục và đào tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho hoạt động giáo dục. Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển giáo dục - đào tạo. Đồng thời, tạo ra những điều kiện, tiền đề để mọi người dân có cơ hội, khả năng học tập, học tập suốt đời và được hưởng thụ thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao.
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là mọi người, mọi lực lượng chăm lo phát triển giáo dục; mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời; mọi người được thụ hưởng xứng đáng các thành quả do hoạt động giáo dục đào tạo đem lại. Xã hội hóa đúng đắn sẽ là nội dung, con đường cơ bản, hiệu quả để đi đến thực hiện đầy đủ và thực chất dân chủ XHCN trong các nhà trường và trong giáo dục, đào tạo nói chung.
Thứ ba, thực hiện đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, bảo đảm dân chủ, thống nhất, tăng cường tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, coi trọng chất lượng; dân chủ hóa công tác quản lý, quản lý tốt là tiền đề cơ bản để dạy tốt và học tốt. Theo đó, cần nhấn mạnh việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương. Phân định rõ công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục, đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục và đào tạo; có cơ chế, quy định pháp lý mạnh mẽ để phát huy vai trò hội đồng trường. Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin; phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản lý giáo dục và đào tạo. Đồng thời với việc cấp trên đánh giá cấp dưới, thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục và đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cán bộ quản lý cấp dưới tham gia đánh giá cán bộ quản lý cấp trên, cơ sở giáo dục và đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước...
Việc đổi mới giáo dục và đào tạo không thể gọi là căn bản, toàn diện nếu không tạo ra, xây dựng nên một cơ chế vận hành, cơ chế quản lý vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống vừa phát huy cao độ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở, của nhà trường và thực sự phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của giáo viên để thực hiện tốt triết lý giáo dục và mục tiêu giáo dục, đào tạo. Cơ chế ấy phải là môi trường dân chủ, công minh, vừa thúc đẩy sáng tạo, tôn vinh nhân tố tích cực vừa ngăn ngừa tiêu cực và dễ dàng thải loại những giáo viên, học sinh, cơ sở giáo dục, đào tạo, những nhà quản lý yếu kém, hư hỏng.
Thứ tư, quá trình đổi mới phải bao hàm việc bổ sung, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả hơn quy chế dân chủ trong nhà trường, trong các cơ sở giáo dục và đào tạo. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong giáo dục thực chất là dân chủ hóa quá trình giáo dục và dân chủ hóa quản lý nhà trường để phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Phải thực sự coi người học là đối tượng chính của các hoạt động giáo dục và đào tạo; thiết lập mối quan hệ bình đẳng, hợp tác dân chủ giữa thầy và trò, giữa giáo viên và nhà quản lý; xác định rõ quyền và trách nhiệm của từng lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục và đào tạo một cách phù hợp. Mọi quyết sách, chủ trương, kế hoạch của nhà trường phải hợp lòng dân, đúng luật pháp; mọi cá nhân, tổ chức theo vị trí, chức năng của mình, chủ động, tích cực phát huy tốt năng lực sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Đó là con đường, cách thức đi đến xây dựng một nền giáo dục Việt Nam mang đậm bản chất nhân dân theo định hướng XHCN, chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Theo đó, trước hết, trong các nhà trường, trong các cơ sở giáo dục và đào tạo thầy phải làm chủ, trò phải làm chủ, dạy học, quản lý giáo dục và đào tạo phải dân chủ.
Thứ năm, đổi mới, dân chủ hóa, minh bạch hóa, hiện đại hóa, khách quan hóa việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo.
Lần đổi mới này hướng đến mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất người học nên việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu phải là đánh giá năng lực và phẩm chất toàn diện chứ không chỉ đánh giá năng lực ghi nhớ kiến thức của người học. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội. Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định. Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài. Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Thứ sáu, cần khẳng định một cách mạnh mẽ và sâu sắc vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo đối với chất lượng giáo dục và đối với việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Đổi mới, phát triển giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Do đó, cần khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, xây dựng. Nhưng hơn ai hết, lực lượng cơ bản, trực tiếp quyết định hoạt động trong các nhà trường của hệ thống giáo dục là đội ngũ thầy cô giáo các cấp học, bậc học ở mọi miền đất nước. Họ hiểu rõ những thuận lợi và khó khăn của nền giáo dục, những hay, dở của cơ chế, chính sách đối với giáo dục và đào tạo; những điểm mạnh, yếu của học sinh, sinh viên, những bất cập, hạn chế của chương trình, nội dung và phương pháp kiểm tra, đánh giá… Họ hiểu rõ cái gì cần thay đổi, cái gì cần loại bỏ, cái gì cần kế thừa, phát triển. Không ai hiểu rõ thực tiễn giáo dục và đào tạo Việt Nam bằng chính những nhà sư phạm, những thầy cô giáo. Đội ngũ nhà giáo là căn cứ quan trọng để hoạch định chủ trương, chính sách, chiến lược giáo dục và đào tạo. Đội ngũ nhà giáo cũng là một trong những chủ thể tham gia hoạch định chủ trương, chính sách, đề án, chiến lược đổi mới và là những chủ thể cơ bản thực thi chiến lược, đề án, chính sách và chủ trương đổi mới ấy…
Vì lẽ đó, để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam cần có quy trình, cơ chế, phương pháp, cách thức để lắng nghe, tập hợp ý kiến, tiếp thu ý kiến của đội ngũ nhà giáo. Việc này phải được thực hiện từ đầu quá trình, trong suốt quá trình tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, từ nội dung tổng thể đến từng bộ phận cấu thành, từ xác định mục tiêu, nguyên tắc… đến thiết kế nội dung, chương trình của từng môn học, ngành học, cấp học, bậc học…
_____________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2014
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.327.
(2) Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.138.
(3) Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, dangcongsan.vn
nguồn : ThS Nguyễn Anh Tuấn
ThS Nguyễn Minh Hải
Trường Đại học Tây Nguyên
Đổi mới chương trình đào tao ngành giáo dục chính trị ở các trường đại học sư phạm
(LLCT) - Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo có ý nghĩa vô cùng to lớn, đã thổi một luồng gió mới trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta hiện nay. Nghị quyết đặt ra hàng loạt nhiệm vụ bức bách cần phải giải quyết về giáo dục - đào tạo mà xã hội đang quan tâm, trong đó có các vấn đề liên quan trực tiếp đến các trường đại học sư phạm, nơi đào tạo đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục phục vụ sự nghiệp giáo dục của nước nhà.
Các vấn đề đặt ra cần phải đổi mới là: Đổi mới mô hình các trường sư phạm, chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy, cách thức kiểm tra, đánh giá, công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên;... ở tất cả các ngành đào tạo. Bài viết tập trung trao đổi về xây dựng chương trình đào tạo ngành giáo dục chính trị ở các trường đại học sư phạm.
Trước hết, sản phẩm của ngành giáo dục chính trị, các trường đại học sư phạm là những cử nhân có thể giảng dạy môn giáo dục công dân trong các trường trung học phổ thông, các môn lý luận chính trị trong các trường trung học nghề, trung học chuyên nghiệp hoặc các trường cao đẳng, đại học; có thể tham gia giảng dạy, công tác ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, các cơ quan lý luận, tổ chức chính trị - xã hội,... Vì vậy, chương trình đào tạo ngành giáo dục chính trị ở các trường đại học sư phạm cần bảo đảm mục tiêu ấy.
1. Thực trạng chương trình ngành giáo dục chính trị ở các trường đại học sư phạm hiện nay
Ưu điểm:
Nội dung chương trình đã quán triệt đường lối về đổi mới công tác tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đổi mới của sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Về cơ bản, mục tiêu chương trình đã đáp ứng đúng quy định của Luật Giáo dục và đã được cụ thể hóa ở ba bình diện: kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học, đã xác định được chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ làm cơ sở cho việc biên soạn giáo trình, cũng như kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Nội dung chương trình cũng đã đề cập đến giáo dục các giá trị, chuẩn mực chính trị, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật gắn liền với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân - sinh viên, đã phần nào thể hiện được nguyên tắc tích hợp trong lĩnh vực giảng dạy. Kết cấu chương trình có phần mở, mang tính định hướng, gợi mở để người học có thể liên hệ lý luận với thực tiễn cuộc sống của bản thân và thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay.
Chương trình đã bao quát những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm những vấn đề về văn hóa và văn minh, giáo dục chính trị với giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật, những vấn đề về phương pháp giảng dạy và thực hành sư phạm, những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội khác, đáp ứng đầy đủ mục tiêu của từng môn học đã được đặt ra.
Giáo trình các môn học thuộc ngành giáo dục chính trị, về cơ bản, đã bám sát và cụ thể hóa mục tiêu chương trình, được biên soạn một cách công phu, nghiêm túc, bảo đảm tính khoa học và tính chính trị, tính hệ thống và lôgíc chặt chẽ; nội dung chương trình, giáo trình phù hợp với trình độ của sinh viên.
Chính vì thế, chương trình góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng cho sinh viên, để từ đó họ nỗ lực rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, trau dồi chuyên môn, phục vụ công tác dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông, các môn lý luận chính trị trong các trường trung học nghề, trung học chuyên nghiệp hoặc các trường cao đẳng, đại học, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hạn chế:
Nội dung chương trình còn mang nặng tính kinh viện, hàn lâm với những lý luận trừu tượng, chưa bám sát thực tiễn nóng bỏng của thời đại, của đất nước. Chương trình nặng về giáo dục chính trị, nhẹ về giáo dục đạo đức, pháp luật và kỹ năng sống; trọng lý thuyết, nhẹ thực hành, ít liên hệ với thực tiễn cuộc sống của bản thân và đất nước. Chẳng hạn, trong các chương trình còn dành nhiều thời lượng cho các học phần về các tác phẩm kinh điển, về lịch sử triết học, lịch sử các học thuyết kinh tế, lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa,...
Nội dung chương trình chưa chú trọng đến việc hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu và rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên, chưa chú trọng đến việc xây dựng và bồi dưỡng năng lực khoa học và phẩm chất sư phạm của sinh viên, chưa cập nhật được những thay đổi của đất nước và thời đại.
Nhiều nội dung trong các học phần có sự trùng lặp. Thí dụ: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam với lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử các học thuyết kinh tế với lịch sử kinh tế quốc dân, lịch sử triết học với lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cơ sở văn hóa Việt Nam với văn hóa học,...
Khối lượng kiến thức các môn học quá lớn, thời lượng dành cho các môn này lại không nhiều, trong khi việc tự học của sinh viên lại chưa được phát huy đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của việc dạy các môn học này.
Nguồn kinh phí đầu tư riêng cho việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục chính trị còn khiêm tốn, trong khi đội ngũ giảng viên phải dạy quá nhiều giờ, vì vậy, ít có điều kiện đầu tư nghiên cứu khoa học, đặc biệt là những công trình nghiên cứu về đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình chuyên ngành giáo dục chính trị.
Từ thực trạng trên đây, việc đổi mới chương trình ngành giáo dục chính trị trong các trường đại học sư phạm đang được đặt ra một cách bức thiết.
2. Định hướng đổi mới chương trình ngành giáo dục chính trị ở các trường đại học sư phạm
Chương trình, giáo trình ở các trường đại học sư phạm hiện nay không thể phủ định sạch trơn chương trình, giáo trình cũ, đồng thời cũng không thể lắp ráp, rập khuôn toàn bộ chương trình, giáo trình cũ. Việc xây dựng chương trình, giáo trình phải xuất phát từ thực tế đời sống, từ nhu cầu xã hội, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Ở nhiều nước trên thế giới, việc đổi mới chương trình, giáo trình đại học và chương trình, sách giáo khoa phổ thông được diễn ra đồng thời; hoặc đổi mới chương trình, giáo trình đại học là cơ sở, là hình mẫu cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông. Ở nước ta hiện nay, do điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, với thực tế giáo dục phổ thông có nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết, cho nên phải có bước đột phá ngay trong việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa phổ thông. Có thể nói, các cách thực hiện trên đây cho dù có khác biệt về trình tự, nhưng đều thống nhất với nhau ở nguồn gốc, đó là nội dung chương trình, giáo trình, sách giáo khoa phải xuất phát từ thực trạng xã hội, nhu cầu xã hội, từ yêu cầu phát triển của quốc gia và thời đại.
Xuất phát từ thực trạng xã hội, nhu cầu xã hội để xác định mục tiêu giáo dục của các cấp học. Chẳng hạn, ở cấp tiểu học là phát triển thói quen về học tập cơ bản; ở cấp trung học cơ sở là bồi dưỡng năng lực cơ bản và tố chất của học sinh; ở cấp trung học phổ thông là phát triển năng lực hướng nghiệp phù hợp với tố chất của học sinh. Trên cơ sở mục tiêu đã xác định sẽ xây dựng chương trình và sách giáo khoa phổ thông bằng cách tiếp cận năng lực và phẩm chất của học sinh(tức là giáo dục cho học sinh không phải chủ yếu là nhồi nhét kiến thức mà là làm sao cho học sinh biết làm theo năng lực và phẩm chất của mình, thông qua đó phát triển năng lực và phẩm chất của mình.
Xuất phát từ mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa phổ thông để xác định mục tiêu, chương trình, giáo trình của trường đại học sư phạm. Cụ thể là, mục tiêu đào tạo của trường đại học sư phạm là phát triển các năng lực khoa học và phẩm chất sư phạm của sinh viên - những giáo viên tương lai. Do vậy, chương trình, giáo trình của trường đại học sư phạm phải gắn kết với chương trình, sách giáo khoa phổ thông, tức là phải dạy những cái gì để sau này họ có thể vận dụng trong công việc giáo dục của mình. Do vậy, chương trình, giáo trình đối với tất cả các ngành nói chung, ngành giáo dục chính trị nói riêng phải được xây dựng theocách tiếp cận phát triển năng lực khoa học (tư duy, nghiên cứu, tự chủ, sáng tạo,...) và phẩm chất sư phạm (ứng xử, giao tiếp, tổ chức thực hiện,...) của những giáo viên tương lai.
Cho nên, chương trình ngành giáo dục chính trị không chỉ phải khắc phục tính hàn lâm, kinh viện, giáo điều, mà còn cần gia tăng tính nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm cho sinh viên. Mặt khác, chương trình cũng cần bảo đảm tính tích hợp và tính phân hóa trong các môn học. Như vậy, chương trình sẽ rút gọn được những môn học không thực sự quan trọng, xa rời thực tiễn cuộc sống, đồng thời bổ sung thêm những môn học thiết thực, nhất là hình thành các môn học mang tính tích hợp, tránh sự trùng lắp, chồng chéo giữa các môn học.
3. Một số nội dung cơ bản về đổi mới chương trình ngành giáo dục chính trị ở trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Từ thực trạng chương trình ngành giáo dục chính trị hiện nay nói chung với những ưu điểm và hạn chế của nó, cùng với những định hướng chủ yếu trong việc xây dựng chương trình mới đáp ứng việc bồi dưỡng, phát triển năng lực khoa học và phẩm chất sư phạm của sinh viên, nêu một số nội dung cơ bản trong việc đổi mới chương trình ngành giáo dục chính trị ở Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh:
Giảm bớt hoặc bỏ một số học phần mang tính chất hàn lâm, như tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, triết học trong khoa học tự nhiên, lôgíc biện chứng, lịch sử kinh tế quốc dân, kinh tế phát triển, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,...
Tăng thời lượng cho các học phần đạo đức học, pháp luật học, văn hóa học, lý luận và phương pháp dạy học,...
Bổ sung một số học phần mới như: giáo dục kỹ năng sống, giáo dục sức khỏe vị thành niên, giáo dục gia đình, nghệ thuật giao tiếp, nghệ thuật hùng biện, các chuyên đề đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống,...
Kết hợp chương trình giáo dục chính khóa với giáo dục ngoài giờ, nghiên cứu thực tế; kết hợp truyền bá kiến thức với quá trình rèn luyện, hoạt động thực tiễn của sinh viên,...
Bổ sung thêm nội dung về rèn luyện phẩm chất đạo đức, coi kết quả rèn luyện phẩm chất đạo đức như là một trong những nội dung học tập,...
Bổ sung những vấn đề mới của thời đại, những thành tựu nghiên cứu về khoa học của nhân loại, những vấn đề thực tiễn xã hội để làm phong phú thêm nội dung chương trình.
Để đổi mới chương trình, giáo trình ngành giáo dục chính trị trong các trường đại học sư phạm, vấn đề có ý nghĩa quyết định là có sự quan tâm của toàn xã hội và các cơ quan chức năng; tinh thần hợp tác của các nhà hoạt động giáo dục; đặc biệt, mỗi giảng viên thực sự có trách nhiệm với bản thân mình, với nhà trường, với xã hội, với đất nước, với người học và đặc biệt phải có tấm lòng, có tình thương yêu sâu sắc và trách nhiệm với các thế hệ tương lai.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2014
nguồn : TS Nguyễn Ngọc Khá
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, nội hàm cơ bản và đặc trưng chủ yếu
(LLCT) - Hoạt động giáo dục ngày càng thoát ra khỏi những hạn chế của không gian và thời gian, mở ra con đường mới nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người. Thông tin hóa là tiêu chí quan trọng để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại mới.
Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó: “Đặc biệt là tập trung xác định rõ hơn nội hàm đổi mới căn bản và toàn diện”(1), để “Từ đó hoàn thiện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, nhất là những giải pháp chủ yếu, có tính đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo theo tinh thần: chấn chỉnh, khắc phục triệt để những khuyết điểm, bất cập lâu nay; củng cố những kết quả, thành tựu đã đạt được; phát triển, nâng chất lượng giáo dục - đào tạo lên tầm cao mới”(2).
Ý nghĩa của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo có liên quan mật thiết với ý nghĩa của hiện đại hóa, nó vừa là “quá trình”, vừa biểu hiện “trạng thái”. Về quá trình, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chỉ quá trình nền giáo dục truyền thống phù hợp với nền kinh tế tiểu nông qua lựa chọn, cải cách, phát triển đã chuyển hóa thành nền giáo dục hiện đại, phù hợp với thời kỳ CNH, HĐH đất nước và nền chính trị dân chủ, là quá trình nền giáo dục không ngừng củng cố, tăng cường tính hiện đại để thích ứng với nhu cầu phát triển của kinh tế, chính trị, khoa học - kỹ thuật. Về trạng thái, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chỉ sự chuyển biến mang tính tổng thể và sự tiến bộ, toàn diện trên các phương diện của giáo dục như: tư tưởng, chế độ, nội dung, phương pháp giáo dục... Mục tiêu của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chính là tiếp tục hoàn thiện con người trong môi trường văn hóa đương đại.
Về nội hàm, “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo” nổi bật ba điểm sau:
Thứ nhất, là quá trình bắt kịp trình độ tiên tiến ở những giai đoạn phát triển khác nhau, mục tiêu theo đuổi cũng khác nhau.
Thứ hai, là quá trình chuyển đổi từ giáo dục truyền thống sang giáo dục hiện đại, vừa bao gồm sự tiến bộ một cách toàn diện về tư tưởng, nội dung, phương pháp giáo dục, vừa bao gồm sự phát triển toàn diện, hài hòa của các cấp, các loại hình giáo dục.
Thứ ba,là quá trình không ngừng cải cách giáo dục sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, cải cách là động lực mang tính nền tảng cho đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo.
Trong tác phẩm Tư bản luận, C.Mác chỉ ra rằng: “nền công nghiệp hiện đại chưa từng coi hình thức tồn tại hiện nay của quá trình sản xuất là hình thức cuối cùng. Vì thế, cơ sở kỹ thuật của công nghiệp hiện đại là làm cách mạng, còn cơ sở kỹ thuật của tất cả các phương thức sản xuất trong quá khứ về bản chất là cố hữu, không thay đổi”(3). Giáo dục là một hệ thống nhánh trong hệ thống chung của xã hội, sự thay đổi trong các lĩnh vực như chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa... liên tục đưa ra những yêu cầu mới cho hoạt động giáo dục. Để nền giáo dục phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, phải không ngừng cải cách mọi phương diện của giáo dục: chế độ giáo dục, nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục... Cải cách chế độ, thể chế giáo dục là quá trình điều chỉnh, tổ chức lại, cơ cấu lại hình thức tổ chức và cơ chế vận hành vốn có của sự nghiệp giáo dục. Lịch sử phát triển của nền giáo dục chứng tỏ rằng, bất kỳ mô hình cải cách chế độ giáo dục thành công nào cũng đều phản ánh được nguyện vọng và nhu cầu của quần chúng nhân dân, đều quán triệt được tư tưởng lấy sự phát triển của người học làm trung tâm. Do vậy, trong quá trình tiến hành cải cách giáo dục cần phải nghiên cứu một cách tổng thể, khoa học và toàn diện nhằm hạn chế ở mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với môi trường giáo dục.
Đặc trưng chủ yếu của môi trường giáo dục - đào tạo theo mô hình đổi mới căn bản và toàn diện được thể hiện trên những nội dung sau:
Một là, tính toàn dân
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn “Dân ta ai cũng được học hành” và Người cũng đã yêu cầu “Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ”. Đây chính là nội dung quan trọng để hướng tới nền giáo dục mang tính toàn dân.
Tính toàn dân của giáo dục là yêu cầu khách quan để phát triển xã hội hiện đại, bao gồm hai phương diện: tính rộng rãi về đối tượng giáo dục và tính bình đẳng về quyền lợi giáo dục. Tính toàn dân của giáo dục thể hiện ở việc thực hiện chế độ giáo dục nghĩa vụ trong một số năm nhất định và ở sự phát triển theo hướng phổ cập hóa giáo dục giai đoạn phổ thông trung học và đại học, ở sự kéo dài về thời gian toàn dân tiếp nhận giáo dục nhà trường.
Mục tiêu quan trọng và cuối cùng của phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay là xây dựng một nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân để phát triển năng lực người học, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Vì vậy, xây dựng sự nghiệp giáo dục mang tính toàn dân phải là một trong những chiến lược then chốt của giáo dục nước ta trên con đường đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo do Đảng khởi xướng và nó có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Hai là, tính suốt đời
Biểu tượng “học tập suốt đời” và “xây dựng xã hội học tập’’ đã xuất hiện ở nước ta từ lâu. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, song song với việc xoá mù chữ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành giáo dục đã mở ra hệ thống học tập không chính quy dành cho người lớn tuổi, cho người nghèo, cho con em tầng lớp lao động. Khắp nơi trên đất nước hàng loạt các trường phổ thông lao động, bổ túc công nông, bổ túc văn hoá, vừa học vừa làm đã hình thành và đem lại quyền được học hành cho mọi người dân mà trước đây trong lịch sử phát triển giáo dục nước ta chưa từng bao giờ có được. Mặt khác, trong các trường thuộc hệ chuyên nghiệp và đại học, các khoa, lớp tại chức, chuyên tu với tất cả các lĩnh vực, ngành nghề được mở ra để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực lớn mà xã hội đang đòi hỏi. Ngành giáo dục đã bám sát nguyên tắc “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, đồng thời ở khắp nơi trong cả nước cũng giấy lên một không khí sôi nổi thực hiện khẩu hiệu: “Học, học nữa, học mãi” của V.I.Lênin. Những năm tháng này ở nước ta trên thực tế đã có mầm mống hình thành một xã hội học tập. Nhờ những bước đi đúng đắn này, nước ta đã có được một đội ngũ trí thức công nông lớn mạnh, mà trong họ không ít người nhờ qua con đường học không chính quy đã trưởng thành và đạt tới đỉnh cao của các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý, trở thành những cán bộ đầu ngành của hầu hết các lĩnh vực. Đến những năm đổi mới, tại các kỳ Đại hội lần thứ IX, X và XI, Đảng ta đã khẳng định chủ trương phát triển giáo dục - đào tạo theo hướng “cả nước trở thành một xã hội học tập”. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI chỉ đạo: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người”(4).
Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng xã hội học tập là để đảm bảo được việc học tập suốt đời của mọi người, đảm bảo nhu cầu hoàn thiện của từng thành viên trong cộng đồng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự bình đẳng về giáo dục và đào tạo. Đây là một quan niệm về triết lý giáo dục xây dựng con người mới thông qua giáo dục nhân bản, tô đậm bản sắc dân tộc và khai phóng con người Việt Nam bằng học suốt đời với việc coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Xây dựng xã hội học tập là tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục, để từng thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả xã hội, là nền tảng để hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời luôn gắn bó hữu cơ với nhau, đồng thời là một nhu cầu trong một thị trường lao động đang biến động với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và văn hoá. Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời là một chiến lược quan trọng để đạt được sự dân chủ và bình đẳng của mọi người trong xã hội. Đại hội XI khẳng định: “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường.... Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm”(5). Như vậy, học tập suốt đời là một quan niệm triết lý giáo dục mới, là nhu cầu về sự hoàn thiện của mỗi người nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, tính sáng tạo
Giáo dục là một hình thức hoạt động nuôi dưỡng, bồi dưỡng, hình thành nhân cách con người. Thông qua những ảnh hưởng sâu sắc một cách có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch đến con người, nó khiến tâm thức của con người xuất hiện những dự định thay đổi. Trong hệ thống tổ chức đa tầng, đa diện của trình độ hiểu biết của con người, năng lực sáng tạo là nguồn động năng có giá trị nhất. Là một hoạt động nuôi dưỡng, bồi dưỡng con người, sứ mệnh quan trọng nhất của giáo dục là nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo. Giáo dục cần có sự kế thừa và càng cần có sự sáng tạo trên cơ sở kế thừa dưới sự chỉ đạo của sáng tạo. Nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo của con người, nâng cao sức mạnh bản chất của con người là mục tiêu quan trọng mà quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo phải kiên trì theo đuổi. Theo UNESCO, đặc trưng của giáo dục hiện nay là: bồi dưỡng nhân tài có ý thức sáng tạo, có tinh thần sáng tạo, có năng lực sáng tạo. Đó là mục tiêu số một, quan trọng hơn bất kỳ mục tiêu nào mà công cuộc cải cách giáo dục của các nước đang theo đuổi(6).
Bốn là, quốc tế hóa
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chính là kết quả của quá trình học tập và giao lưu lẫn nhau. Con người và tin tức vận động không ngừng trong dòng chảy quốc tế, sự giao lưu, hợp tác quốc tế về giáo dục ngày càng nhiều, mức độ ảnh hưởng và tương tác lẫn nhau giữa nền giáo dục các nước ngày càng cao. Cùng với đó, trên các phương diện như : xác định mục tiêu bồi dưỡng nhân tài, lựa chọn nội dung giáo dục và biện pháp, phương pháp giáo dục, các nước chú trọng hơn tới hình thức mới thích ứng với sự phân công ngành nghề, bổ sung thương mại giữa các nước trên thế giới. Du học là biểu hiện rõ rệt nhất đặc trưng quốc tế hóa của giáo dục. Hợp tác mở trường xuyên quốc gia là hình thức, xu thế mới của quốc tế hóa giáo dục. Yếu tố hạt nhân của quốc tế hóa giáo dục là tận dụng tối đa hai thị trường, nguồn tài nguyên trong nước và quốc tế để bồi dưỡng tạo nên được những nhân tài có tầm nhìn quốc tế, năng lực giao lưu quốc tế và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Năm là, thông tin hóa
Từ khi bộ máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1946 đến nay, công nghệ thông tin hiện đại số hóa đã thúc đẩy xã hội loài người cất cánh từ ‘‘văn minh chữ viết’’ lên ‘‘văn minh số’’, ‘‘văn minh hình ảnh’’. Cùng với sự phát triển của thông tin hóa, nội dung, phương pháp, con đường của hoạt động giáo dục, các kênh lĩnh hội tri thức và thông tin của người học đang có sự biến đổi nhanh chóng. Mô hình dạy học cá biệt hóa vốn bị thay thế bởi cách học theo cấp lớp, chế độ bài giảng đang dần trở lại dưới điều kiện khoa học - kỹ thuật mới, trở thành sự bổ sung quan trọng của hoạt động giáo dục tập thể.
Hoạt động giáo dục ngày càng thoát ra khỏi những hạn chế của không gian và thời gian, mở ra con đường mới nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người. Thông tin hóa là tiêu chí quan trọng để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại mới.
________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2014
(1), (2), (4) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.11,12,128.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.10, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.553.
(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.123.
(6) Xem Ủy ban Giáo dục quốc tế thế kỷ XXI của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp quốc: Giáo dục nơi cất giấu sự giàu có, Nxb Khoa học giáo dục, 1996, tr.6.
nguồn : TS Lê Văn Liêm
Học viện Chính trị khu vực III
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý giáo dục, đào tạo
(LLCT) - Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, giáo dục và đào tạo liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ hết sức hệ trọng là chuẩn bị nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để hoàn thành các mục tiêu đặt ra.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ đổi mới là: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”([1]1); “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(2). Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (6-2014) đã ra Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, là giải pháp quan trọng nhất để xây dựng, hoàn thiện con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu.
Cùng với những thành tựu chung của công cuộc xây dựng đất nước, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Cụ thể là đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý… Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định(3).
Có được những thành tựu đó, Đảng ta đã khẳng định trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của toàn hệ thống chính trị, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước(4).
Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo nước ta còn yếu kém, bất cập cả về quy mô, cơ cấu, nhất là về chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng được những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã chỉ rõ chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Mà một trong những yếu kém đó là: “Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động”(5).
Một trong những nguyên nhân của những yếu kém ấy, đó là: “Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ”(6).
Liên quan đến vấn đề tổ chức và quản lý giáo dục - đào tạo, có thể thấy, sự phối hợp liên ngành còn yếu, các giải pháp còn thiếu đồng bộ. Chính vì vậy, để khắc phục những yếu kém nói trên, vận dụng quan điểm hệ thống vào việc tổ chức, quản lý lĩnh vực giáo dục - đào tạo là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nghị quyết Trung ương 8 khẳng định: “Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp”(7).
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo như một hệ thống thì các yếu tố chủ yếu của nó là nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, cách thức kiểm tra, đánh giá, số lượng, chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Tương ứng với các yếu tố đó, môi trường hoạt động của lĩnh vực giáo dục và đào tạo chủ yếu là các chính sách và pháp luật của Nhà nước, mà sự thuận lợi hay khó khăn của môi trường sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo.
Trong mối quan hệ chủ thể - khách thể thì Nhà nước và các tổ chức giáo dục - đào tạo đóng vai trò là người tổ chức, quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, theo quan điểm hệ thống, vấn đề tổ chức và quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo thể hiện ở sựthống nhất giữa hệ thống các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện trong hoạt động giáo dục và đào tạo. Nghĩa là, để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay có hiệu quả thì cần phải có những nguyên tắc tổ chức, quản lý và sự thể chế hóa những nguyên tắc ấy thông qua những giải pháp cụ thể tương ứng trong việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục - đào tạo.
Từ những phân tích trên, đổi mới lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo hướng căn bản và toàn diện như quan điểm của Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI, theo chúng tôi, cần quán triệt một số quan điểm, giải pháp sau:
Thứ nhất, về phương pháp luận cần nhận thức đúng và từ đó có những biện pháp giải quyết phù hợp mối quan hệ giữa các mục tiêu dân trí, nhân lực, nhân tài trong phát triển giáo dục và đào tạo.
Một nền dân trírộng là điều kiện cần thiết để đào tạo được nguồn nhân lực thích hợp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời dân trí vừa là thành tố vừa là cơ sở để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là dân tộc yếu”(8). Mức độ dân trí có thể đạt được tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, không thể mong muốn vào một mức độ dân trí quá cao thoát ly khỏi điều kiện kinh tế, song cũng không chờ có kinh tế phát triển cao mới mở rộng và nâng cao dân trí.
Dân trí là điều kiện để phát triển nhân lực, nhưng không phải mặc nhiên dân trí sẽ biến thành nhân lực, mà phải có kế hoạch để đào tạo, phát triển nhân lực, nhất là lực lượng lao động lành nghề trong một cơ cấu đồng bộ.
Về nhân tài, một mặt, phải tìm được những cách thức thích hợp để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, nhưng đồng thời, nhân tài sẽ có điều kiện xuất hiện trên một nền dân trí rộng và trên cơ sở việc đào tạo nhân lực tốt. Do vậy, “mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học. Phát triển hệ cao học, đẩy mạnh đào tạo nghiên cứu sinh”(9) là công việc bức bách đang đặt ra cho nước ta hiện nay.
Khẳng định tính đúng đắn của việc giải quyết mối quan hệ ấy, chúng ta cần: “Sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực được đào tạo. Trọng dụng người tài. Khuyến khích mọi người, nhất là thanh niên say mê học tập và tu dưỡng tiền đồ bản thân và tương lai đất nước(10).
Thứ hai,cần thấu suốt quan điểm: “Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội”(11). Đặc biệt, trong việc xác định mục tiêu giáo dục và đào tạo phải xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”(12). Ở đây cần phải tập trung vào các biện pháp:
- Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục - đào tạo, cải tiến thi cử. Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân”(13) .
Xuất phát từ thực trạng xã hội, nhu cầu xã hội để xác định mục tiêu giáo dục của các cấp học. Chẳng hạn, ở cấp tiểu học là phát triển thói quen về học tập cơ bản; ở cấp trung học cơ sở là bồi dưỡng năng lực cơ bản và tố chất của học sinh; ở cấp trung học phổ thông là phát triển năng lực hướng nghiệp phù hợp; ở cấp đại học là phát triển năng lực khoa học và phẩm chất nghề nghiệp tương lai của sinh viên.
Trên cơ sở mục tiêu đã xác định sẽ xây dựng chương trình, giáo trình, sách giáo khoa bằng cách tiếp cận “năng lực và phẩm chất” của người học, tức là giáo dục cho học sinh, sinh viên không phải chủ yếu là nhồi nhét kiến thức mà là làm sao cho học sinh, sinh viên biết làm theo năng lực và phẩm chất của mình, thông qua đó phát triển năng lực và phẩm chất của mình. Đặc biệt, cần nhấn mạnh nội dung giáo dục phải mang tính toàn diện, như Hồ Chí Minh đã nói: “Trong việc giáo dục và học tập phải chú ý đầy đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật và lao động sản xuất”(14). Trong giáo dục, cần: “Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp”(15). Nhờ đó, xã hội mới có được những “con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
- Tập trung giải quyết dứt điểm những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục do mặt trái của cơ chế thị trường gây nên; muốn vậy phải xây dựng một hệ thống pháp quy tốt để vừa giữ nghiêm kỷ cương phép nước, vừa bảo vệ sự trong sáng của nếp sống văn hóa Việt Nam.
- Phải thực hiện tính công bằng xã hội trong giáo dục. Cụ thể là, quan tâm đến việc bảo đảm cơ hội giáo dục cho người học thuộc các diện chính sách; kết hợp sự phát triển có trọng điểm về giáo dục - đào tạo với sự phát triển giáo dục - đào tạo ở các vùng lãnh thổ, tránh gây nên sự chênh lệch xa về nhịp độ và trình độ giữa các vùng. Đây cũng chính là sự thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ba là, phải không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo. Muốn vậy, điểm cốt lõi phải quan tâm là:
- “Giáo dục - đào tạo phải theo hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất”, như Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”(16).
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng trong giáo dục - đào tạo. Một mặt, phải tìm cách huy động nguồn lực khác nhau để tạo điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, phải ưu tiên đầu tư xây dựng các trường sư phạm, nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý các cấp, có đầy đủ năng lực và phẩm chất cách mạng, tăng cường cơ sở vật chất, sử dụng các biện pháp công nghệ hiện đại trong các trường học, cần phát huy nội lực, đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; Mặt khác,phải hình thành các hệ thống tổ chức và cơ chế đặc biệt để kiểm tra chất lượng, chống các tệ nạn và tiêu cực trong giáo dục - đào tạo. Muốn thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo trong điều kiện nguồn lực rất hạn hẹp thì đòi hỏi cần phải hết sức năng động, sáng tạo, phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo, phải phối hợp hài hòa giữa các đơn vị với nhau trong một nhà trường, giữa các trường với nhau trên một địa bàn, giữa các mô hình trường với nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo. Để làm được điều đó phải có quan điểm phức hợp, toàn cục, chống các xu hướng bản vị, cục bộ.
Bốn là,cần quán triệt quan điểm: “Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân”(17). Điều này đòi hỏi cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục - đào tạo. Cụ thể là, tăng cường xây dựng và củng cố tổ chức Đảng để thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các trường học; chú ý bồi dưỡng chính trị, tích cực phát triển đảng trong các trường học. Đảng ta khẳng định: “Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”(18). Đồng thời, tăng cường và đổi mới công tác quản lý của Nhà nước đối với giáo dục - đào tạo. Đảng ta nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng”(19).
Trước mắt từ nay đến năm 2020, lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần tập trung thực hiện những giải pháp sau đây:
- Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch hóa sự phát triển giáo dục - đào tạo. Đưa giáo dục - đào tạo vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương. Có chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Tăng cường phân cấp quản lý một cách hợp lý. Các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở giáo dục - đào tạo cần thực hiện đúng chức năng của mình.
- Thiết lập các cơ chế để nâng cao tính tự chủ đi đôi với việc nâng cao tính chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục - đào tạo, nhất là các trường đại học.
- Mở rộng dân chủ ở các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
- Cùng với việc xác lập thể chế dân chủ, đồng thời phải kiện toàn hệ thống thanh tra giáo dục, đưa công tác thanh tra vào nề nếp. Chỉ có như thế, quyền tự chủ mới không dẫn đến tình trạng vô chính phủ.
- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo. Để làm được điều đó, cần làm cho các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành, địa phương, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, cho đến tận người dân quan tâm và chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Ở đây, cần quán triệt quan điểm giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo trên cơ sở quản lý thống nhất của Nhà nước.
Để thực hiện được các giải pháp đó, như Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo”(20).
Như vậy, tổ chức và quản lý giáo dục - đào tạo với biện pháp phối hợp liên ngành, với các giải pháp được thực hiện một cách đồng bộ, mang tính hệ thống, sẽ mang lại hiệu quả giáo dục - đào tạo cao, góp phần vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN.
_____________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015
(1), (2), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.107, 21, 31.
(3), (4), (5), (6), (7), (12), (13), (15), (18), (19), (20) Xem ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013, tr. 115 - 116, 116-117, 117, 118 -119, 120, 127, 128, 128, 126, 134, 128.
(8), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.8, 759.
(9) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.63.
(10), (17) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.40, 32.
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t.10, tr.10.
nguồn : TS Nguyễn Ngọc Khá
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

