Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023

Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc chống tham nhũng.

 Bằng những lập luận chặt chẽ, logic, sâu sắc, chắt lọc, đúc kết từ thực tiễn phong phú, với tinh thần kiên định, vững vàng, bản lĩnh, trọng trách và tâm huyết người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư đã lý giải một cách rất khoa học, nêu ra những kết quả nổi bật và những vấn đề căn bản trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Những bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy sắc bén, nhãn quan chính trị vượt trội của Tổng Bí thư với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”... 

Phòng, chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng ta, Nhà nước ta nói riêng và các Nhà nước trên thế giới nói chung. Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Đảng ta xác định: “tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”[1]. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN trực thuộc Bộ Chính trị, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo.

Nhìn lại sau 10 năm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập (01/02/2013 -01/02/2023), công tác phòng, chống tham nhũng đã được nâng tầm, mục tiêu được thực hiện khá thành công cùng với thời gian. Qua chừng ấy năm, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những kết quả to lớn, vạch trần được nhiều vụ việc lớn, kỷ luật và xử lý hình sự đối với nhiều cá nhân thoái hóa biến chất. với phương châm “không có vùng cấm”, không loại trừ một ai, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý.

Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong 10 năm qua đã được đồng chí Tổng Bí thư đánh giá, đúc kết lại trong Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”.

Vừa qua, tại Hà Nội, Ban Nội chính Trung ương và Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư. Cuốn sách rất có giá trị, gồm những bài phát biểu, bài nói chuyện, kể cả những chỉ đạo của Tổng Bí thư, thể hiện rõ được ý chí, nguyện vọng, đường lối mà Đảng ta đã, đang và tiếp tục triển khai thực hiện. Những bài viết, bài phát biểu thể hiện tư duy sắc bén, nhãn quan chính trị vượt trội của Tổng Bí thư với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và với tinh thần “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây” như Bác Hồ đã từng chỉ dạy, điều đó thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự nghiêm minh của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần củng cố niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Cuốn sách thể hiện tầm nhìn, trí tuệ sáng suốt, sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, toàn diện đầy sức thuyết phục của Tổng bí thư; từ đó góp phần làm sáng rõ tư duy lý luận của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuốn sách đã nhận được sự chú ý, đón nhận đặc biệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Công trình được kết cấu gồm ba phần, với hơn 600 trang và có 111 bức ảnh. Tựu chung, cuốn sách đã trả lời bốn câu hỏi lớn: Bản chất, biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực là gì? Vì sao phải kiên định, kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực? Muốn chống phải làm gì, làm như thế nào? Chúng ta đã làm được gì và sắp tới phải làm như thế nào? Đây là những vấn đề hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

Phần thứ nhất: Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; gồm bài tổng quan Ðấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược!; bốn bài phát biểu kết luận tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022; nội dung phát biểu kết luận tại các phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cuộc họp thường trực Ban Chỉ đạo do đồng chí làm Trưởng ban.

Phần thứ hai: gồm 14 bài viết, bài phát biểu tiêu biểu về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng từ những năm đầu đổi mới (1986) đến nay và tám bài về rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trong đó có những bài được viết từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước.

Phần thứ ba: tập hợp 96 ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và các chính khách, học giả nước ngoài ủng hộ và thể hiện niềm tin sâu sắc vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bằng những lập luận chặt chẽ, logic, sâu sắc, chắt lọc, đúc kết từ thực tiễn phong phú, với tinh thần kiên định, vững vàng, bản lĩnh, trọng trách và tâm huyết người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư đã lý giải một cách rất khoa học, nêu ra những kết quả nổi bật và những vấn đề căn bản trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc và nhân văn; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng; tăng cường xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng; kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng phòng chống tham nhũng,…đồng thời xác định vấn đề căn cơ trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phòng ngừa từ xa, từ sớm mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đặc biệt là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, tức là trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.

Trong thời gian tới, cuốn sách của Tổng Bí thư cần được tiếp tục phổ biến rộng rãi đến từng cơ sở đảng, các chi bộ đảng và quần chúng nhân dân, trở thành tài liệu thường trực cho những người lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân có thể đọc, tham khảo và triển khai thực hiện những lời đã viết, đã nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ thực tiễn thời gian vừa qua. Đồng thời, cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Trong đó, tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng chống tham nhũng, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Thứ hai, tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo hành lang chính trị, pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ, bảo đảm công tác phòng chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng chống tham nhũng trong nội bộ Đảng, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ; hình thành hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng chống tham nhũng.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, liêm khiết, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tăng cường quản lý, kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên, công chức để kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.

Thứ tư, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được vận hành công khai, minh bạch.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vi; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý.

Thứ sáu, tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phòng chống tham nhũng.

Trên đây là những biện pháp căn bản góp phần triển khai, thực hiện tốt công cuộc chống tham nhũng mà Đảng và Tổng Bí thư đặc biệt quan tâm trong bối cảnh hiện nay. Công cuộc chống tham nhũng - “giặc nội xâm” ở nước ta chỉ thành công khi toàn bộ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu các cấp ủy đảng gương mẫu, nâng cao ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tu dưỡng đạo đức, lối sống, một lòng một dạ vì lợi ích chung của nhân dân và toàn dân tộc. Công cuộc đó cũng đòi hỏi Đảng ta tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung sát sao, thống nhất; sự vào cuộc của các cơ quan chức năng với tinh thần liêm chính, công tâm, minh bạch; và dưới sự giám sát chặt chẽ của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt những lời căn dạy của Tổng Bí thư - người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng, công cuộc chống tham nhũng ở nước ta sớm đạt kết quả tốt đẹp, đưa đất nước ta phát triển hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các nước anh em như điều Bác Hồ hằng mong muốn./.



[1] Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Kết luận Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khoa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng.

Tăng cường tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 Chiều 22/4, tại TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Báo Quảng Trị tổ chức Hội thảo Báo Đảng các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên, lần thứ 10 (vòng 4) với chủ đề “Báo Đảng với việc tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”.


Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đăng Quang phát biểu tại Hội nghị. 

Tham dự Hội thảo có các đồng chí: Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đăng Quang; Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Đinh Như Hoan; Phó Vụ trưởng Vụ Báo chí – Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương Phan Thị Quỳnh Mai; cùng hơn 400 đại biểu là các nhà báo của 45 cơ quan báo Đảng Trung ương, địa phương.

Đồng chí Trương Đức Minh Tứ, Tổng Biên tập Báo Quảng Trị phát biểu đề dẫn tại Hội thảo. 

Phát biểu đề dẫn tại Hội thảo, đồng chí Trương Đức Minh Tứ, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Quảng Trị - Tổng Biên tập Báo Quảng Trị cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, tác động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng các trang mạng xã hội tăng cường những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì thế, việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn.

 Quang cảnh Hội thảo.

Tuy nhiên, chủ đề đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch trên mặt trận báo chí vẫn còn có những mặt hạn chế. Có thời điểm, thông tin trên báo chí chưa toàn diện, chưa phản ánh đầy đủ hoạt động đa dạng của xã hội. Một số trường hợp thông tin đưa còn chậm, chưa kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là các vụ việc quan trọng, phức tạp, nhạy cảm. Tính thuyết phục, sức chiến đấu của một số tác phẩm báo chí chưa cao, còn khô cứng, thiếu tính sáng tạo, hấp dẫn.

Chính vì vậy, rất cần sự vào cuộc và định hướng dư luận một cách nhanh chóng, kịp thời của các cơ quan chức năng cũng như các cơ quan báo chí, trong đó có hệ thống Báo Đảng để phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh của Nhân dân chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng chí Tổng Biên tập Báo Quảng Trị mong muốn,  hơn bao giờ hết, hệ thống Báo Đảng cần đề cao trách nhiệm đi đầu trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tình hình mới hiện nay đòi hỏi báo chí cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nhiệm vụ tuyên truyền Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị ở một cấp độ cao; cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng với cơ quan báo chí trong việc cung cấp và định hướng thông tin; có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các loại hình báo chí; nâng cao kỹ năng tác nghiệp cho những cây bút bình luận chuyên sâu; hoàn thiện kỹ năng, tiếp cận nhanh các công cụ, thiết bị mới, giữ vững bản lĩnh chính trị, tuân thủ nghiêm quy trình tác nghiệp của người làm báo để sáng tạo ra những tác phẩm báo chí có nội dung đặc sắc, có hàm lượng chất xám cao, có sức cuốn hút, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc.

 Hơn 400 đại biểu là các nhà báo của 45 cơ quan báo Đảng Trung ương, địa phương đã đến dâng hương, hoa, viếng nghĩa trang Liệt sĩ  Quốc gia Trường Sơn.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đăng Quang đánh giá cao Hội thảo Báo Đảng các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên, lần thứ 10 (vòng 4) đã chọn chủ đề “Báo Đảng với việc tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” để thảo luận, đánh giá những mặt mạnh, những mặt còn hạn chế, từ đó có giải pháp thiết thực và hiệu quả để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đặc biệt quan trọng này của Báo Đảng các tỉnh, thành phố.

Tại hội thảo, các đại biểu đã dành nhiều thời gian tham luận, bàn thảo xoay quay các nội dung như: Làm gì để tuyên truyền có hiệu quả chủ đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới; Cách thức tổ chức, xây dựng đội ngũ những người làm báo giỏi chính luận, trình độ; sự đầu tư nguồn lực, sự quan tâm đào tạo nghiệp vụ của các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí cho đội ngũ viết về xây dựng Đảng; phát huy vai trò, thế mạnh của báo điện tử, các trang mạng xã hội của các Báo Đảng trong công tác tuyên truyền; những kinh nghiệm hữu ích, phát huy tính gương mẫu, đi đầu của mỗi người làm báo của các cơ quan Báo Đảng trong công tác bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng… 

Trước đó, các đồng chí lãnh đạo cùng hơn 400 đại biểu là các nhà báo của 45 cơ quan báo Đảng Trung ương, địa phương của 63 tỉnh thành trên cả nước đã đến viếng, dâng hương, hoa tại Di tích Thành Cổ Quảng Trị; đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ; tổ chức đêm hoa đăng trên sông Thạch Hãn; viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn; tham quan Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải./.

Không ngừng mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trong Đảng.

 Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến nhấn mạnh: Cùng với việc thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách, tăng cường trách nhiệm cá nhân, Đảng bộ thành phố không ngừng mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trong Đảng; bảo đảm quyền của đảng viên. Việc mở rộng dân chủ sẽ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng...

Quang cảnh Hội nghị. 

Chiều 20/4, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Thành ủy Hà Nội tổ chức hội nghị tọa đàm “Thực trạng thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng tại Đảng bộ thành phố Hà Nội”.

Chủ trì hội nghị tọa đàm có các đồng chí: Trần Tiến Hưng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội; Hoàng Trọng Quyết, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội.

 Chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Theo báo cáo tại Hội nghị, Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đồng thời, nêu cao tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân; thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát quyền lực, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

Thành ủy Hà Nội chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm; tuyệt đối chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy; tổ chức triển khai kịp thời, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Các cấp chính quyền thường xuyên đổi mới phương pháp chỉ đạo, điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, thành phố cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, giảm cấp trung gian, từ đó đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cấp.

Đáng chú ý, nguyên tắc tập trung dân chủ đã được phát huy cao độ trong công tác tổ chức, cán bộ. Thành ủy và các cấp ủy Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổ chức, cán bộ, có nhiều đổi mới, ngày càng khoa học, chặt chẽ, đi vào nền nếp. Quy trình công tác cán bộ được triển khai nghiêm túc, đúng quy định, bảo đảm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.

Tuy nhiên, Thành ủy Hà Nội cũng chỉ ra một số vấn đề còn khó khăn, vướng mắc, như một số tổ chức Đảng, nhất là cấp cơ sở, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, có lúc chưa gắn việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chưa coi trọng phát huy vai trò giám sát, tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền của cán bộ, đảng viên, các tổ chức, đoàn thể và nhân dân.

Thành ủy Hà Nội cũng nêu 4 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong đó, đề cao, phát huy vai trò của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt trong việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với giữ vững và chủ động, tích cực phòng, chống tình trạng xa rời nguyên tắc này.

Tại hội nghị, các đồng chí lãnh đạo các địa phương, đơn vị đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm trong triển khai nguyên tắc tập trung dân chủ. Các ý kiến cho rằng, cơ chế cốt lõi nhất để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là xây dựng quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ chặt chẽ, đúng quy định, thường xuyên cập nhật, bổ sung kịp thời với tình hình thực tiễn. Quá trình xây dựng quy chế làm việc phải được thực hiện trên nguyên tắc khoa học, thông suốt, thể hiện rõ trách nhiệm của các cấp ủy Đảng với chính quyền, phân công rõ trách nhiệm cá nhân theo quy định. Các ý kiến cũng nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là rất quan trọng... 

Bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân

Phát biểu tại hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến cho biết, thời gian qua, Đảng bộ thành phố đang thực hiện 5 nguyên tắc rất quan trọng, đó là: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất; giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Trong đó, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng.

Đảng bộ thành phố cũng luôn xác định việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả nguyên tắc này và đây là yếu tố quyết định trong công tác xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Cụ thể, Đảng bộ thành phố đã thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng; bảo đảm tuân thủ các quy trình chặt chẽ, chuẩn bị kỹ lưỡng, đưa ra thảo luận, bàn bạc công khai, dân chủ trong Thường trực, Ban thường vụ, Ban chấp hành; những chủ trương lớn được công bố rộng rãi để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp, được thảo luận dân chủ, rộng rãi từ cơ sở.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến phát biểu tại hội nghị. 

Đảng bộ thành phố cũng thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Các vấn đề đều được đưa ra bàn bạc dân chủ, thảo luận và biểu quyết tập thể; tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy và chi bộ ngày càng thực chất, thể hiện tinh thần xây dựng. Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng được thực hiện hiệu quả trong công tác tổ chức, cán bộ. Nhờ đó, công tác cán bộ trong hệ thống chính trị cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị...

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng tâm mà thành phố sẽ thực hiện trong thời gian tới. Đó là cùng với việc thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách, tăng cường trách nhiệm cá nhân, Đảng bộ thành phố không ngừng mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trong Đảng; bảo đảm quyền của đảng viên. Việc mở rộng dân chủ sẽ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực theo hướng quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể, nhưng không ngừng đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

Đảng bộ thành phố cũng sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các trường hợp vi phạm phải được đấu tranh làm rõ và xử lý kịp thời, đúng người, đúng việc theo hướng có chức vụ càng cao thì trách nhiệm càng nặng, xử lý phải càng nghiêm và “không có vùng cấm” như thời gian qua.

Phát biểu kết luận tại hội nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Tiến Hưng ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến tham luận tại hội nghị và phát biểu của Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Thị Tuyến. Ban Chủ nhiệm đề tài sẽ ghi nhận toàn bộ ý kiến tham luận để hoàn thiện đề tài khoa học của Trung ương trong thời gian tới./.

Lý luận về đảng kiểu mới của Lênin đã phát triển, hoàn chỉnh học thuyết về Đảng Cộng sản.

 Lý luận về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân mà Lênin phát kiến đã khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Mác-Ăngghen về Đảng Cộng sản, từ đó mở ra một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Nhân kỷ niệm 153 năm Ngày sinh V.I. Lê-nin (22/4/1870 - 22/4/2023), chúng ta cùng nhắc nhớ lại những công lao vĩ đại của ông trong lịch sử thế giới và với nền cách mạng Việt Nam.

Lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với sự nghiệp phát triển của học thuyết Mác, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Những tư tưởng đó thể hiện trong tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” năm 1904, trong đó chỉ rõ những nguyên lý cơ bản để xây dựng chính đảng kiểu mới, căn cứ, nguyên tắc để phân biệt một đảng cách mạng, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân với các tổ chức chính trị, đảng phái khác.

Lênin nhận định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng là cách mạng vô sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản. Theo Lênin, nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là: lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng tổ chức của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đoàn kết thống nhất là quy luật trong xây dựng và phát triển của Đảng; tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng và phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng; chủ nghĩa Quốc tế Vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng.

 Đêm 7/11/1917, Đại hội các Xô Viết được triệu tập, thành lập Chính quyền Xô Viết do V.I. Lê-nin đứng đầu. (Ảnh tư liệu)

Theo V.I.Lênin, khi có chính quyền, cuộc đấu tranh giai cấp chưa chấm dứt, mà tiếp tục diễn ra dưới những nội dung, hình thức và phương pháp mới. Để phối hợp hành động và hướng hoạt động của cả hệ thống chính trị vào xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản “về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo”. Muốn vậy, theo Lênin, là bộ phận của hệ thống đó nên Đảng phải là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”.

Để bảo đảm vai trò lãnh đạo và giữ vững bản chất công nhân của Đảng, Lênin cho rằng, Đảng phải quan tâm đến công tác thanh đảng vì đảng cầm quyền phải biết làm cho hàng ngũ của mình trong sạch bằng cách đuổi bọn thoái hóa biến chất, cơ hội, thù địch ra khỏi Đảng. Theo Người, mục đích thanh đảng là loại trừ những người không đủ tiêu chuẩn, bọn khiêu khích, thoái hóa biến chất, cơ hội, thù địch ra khỏi Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; công khai đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tiêu chuẩn. Thanh đảng nhằm vào đối tượng bè phái chống Đảng; những phần tử tuyên truyền quan điểm chống Đảng; những đảng viên gian giảo, quan liêu, không trung thực, nhu nhược, xu nịnh, luồn lọt; bọn tham ô, ăn cắp; bọn người lập ra hết ban này ban nọ mà không làm và không biết làm một công tác thực tiễn nào, tức là những đảng viên có phẩm chất đạo đức xấu và yếu kém về năng lực. V.I.Lênin cho rằng, việc thanh đảng cần được thực hiện dưới nhiều hình thức như: đăng ký lại đảng viên, động viên ra khỏi Đảng... Những kẻ đê tiện lẩn lút trong Đảng, hiếp đáp quần chúng thì cần có những biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ, kiên quyết khai trừ ra khỏi Đảng, xử lý dứt điểm theo pháp luật tương xứng với tội lỗi đã gây ra.

Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới đã khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Mác-Ăngghen về Đảng Cộng sản, đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bôsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.

Với tư cách là Lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, V.I.Lênin là người mác-xít đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, đưa lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết. Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã... Chính V.I.Lênin là người đã làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

 V.I. Lê-nin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Moskva trong Lễ kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, ngày 7/11/1918. (Ảnh tư liệu)

Vận dụng lý luận về đảng kiểu mới trong thực tiễn cách mạng Việt Nam

Trên con đường đi tìm độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp được Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Người đã thốt lên bằng niềm vui sướng tột cùng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lênin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”; “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Vận dụng tư tưởng của Lênin, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"… để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Nhờ đó, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên, Đảng luôn vững vàng và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét. 

Đặc biệt, trong công tác phòng, chống tham nhũng, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của phòng, chống tham nhũng ngày càng rõ rét hơn”. Đảng ta khẳng định “cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, làm trong sạch đội ngũ đảng viên là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng".

Đảng ta đã thẳng thắn nhìn vào sự thật, chỉ ra những khuyết điểm trong Đảng, sẵn sàng, công khai đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất. Cụ thể, trong 10 năm (2012-2022), các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 2.657 vụ án tham nhũng, 5.841 bị can; truy tố 2.628 vụ, 6.199 bị can. Riêng trong năm 2022, có gần 540 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái; 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật. Trong 4 tháng đầu năm 2023, hàng trăm cán bộ, công chức liên quan đến việc nhận hối lộ ở các trung tâm đăng kiểm và vụ án "chuyến bay giải cứu" bị khởi tố.

Những con số trên cho thấy quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, nói đi đôi với làm của Đảng, Nhà nước trong phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, đưa nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này không chỉ là tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành hành động thực tế. Việc này, theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình rất đau xót, nhưng buộc phải làm”, bởi nó đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, chống đối.

Những tư tưởng của Lênin về xây dựng chính đảng kiểu mới được Đảng ta kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa trên thực tiễn, qua các giai đoạn cách mạng. Nhờ đó Đảng không ngừng lớn mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; uy tín và ảnh hưởng của Đảng ngày càng được nâng cao; Nhân dân đồng tình ủng hộ, giữ vững niềm tin với Đảng.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen, Đảng và Nhân dân ta vẫn luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản./.


Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam.

 Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và là vấn đề có tính nguyên tắc đối với cách mạng Việt Nam. Đây là bước phát triển về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta trong công cuộc đổi mới, với quyết tâm xây dựng đất nước giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong những năm qua thật đáng trân trọng và khích lệ, đồng thời cũng đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

V.I. Lênin diễn thuyết trước các chiến sĩ cách mạng Hồng vệ binh tại Quảng trường Đỏ Mátxcơva trong Cách mạng tháng Mười Nga. (Ảnh tư liệu)

Với tinh thần đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo một trong những quan điểm quan trọng của V.I. Lênin là về chủ nghĩa quan liêu và biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền là cần thiết đối với cách mạng nước ta hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu trên và nhân dịp kỷ niệm 153 năm ngày sinh của Vơlađimia Ilích Lênin (22-4-1870 - 22-4-2023), bài viết luận giải rõ quan điểm của V.I. Lênin: một là, về chủ nghĩa quan liêu và hai là, biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu.

Chủ nghĩa quan liêu là “căn bệnh” nguy hiểm, phổ biến trong cán bộ, đảng viên

Chủ nghĩa quan liêu là “căn bệnh” nguy hiểm, khá phổ biến trong cán bộ, đảng viên và trong các tổ chức đảng và nhà nước. “Căn bệnh” này chẳng những làm xói mòn phẩm chất đạo đức cách mạng và phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên, mà còn gây tác hại nhiều mặt đối với sự nghiệp xây dựng dất nước giàu mạnh. V.I. Lênin là người phát hiện sớm và coi “căn bệnh” này là kẻ thù nguy hiểm, nhất là trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vậy chủ nghĩa quan liêu là gì? Những biểu hiện của nó ra sao? Nguồn gốc của nó từ đâu? Tác hại của nó như thế nào? Cần phải sử dụng những biện pháp gì để khắc phục? V.I. Lênin đã cho nhiều kiến giải khoa học về những vấn đề này. Trước hết, theo V.I. Lênin, “quan liêu có thể có nghĩa là vi phạm những quyền lợi chính đáng và, nếu có thể nói như vậy, những quyền lợi “tự nhiên” của mọi phái đối lập, có nghĩa là một cuộc đấu tranh chống lại một thiểu số bằng những thủ đoạn không đúng, nhưng thứ quan liêu đó không có gì là tính chất nguyên tắc cả”1. Còn chủ nghĩa quan liêu, “có thể dịch ra tiếng Nga bằng danh từ: chủ nghĩa địa vị. Chủ nghĩa quan liêu, tức là đem lợi ích của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng danh vị, tức là hết sức chú trọng đến địa vị mà không đếm xỉa đến công tác; tức là tranh giành nhau để được bổ tuyển khi mà đáng lẽ phải đấu tranh cho những tư tưởng”2.                           

Biểu hiện chung nhất của chủ nghĩa quan liêu là bệnh hành chính, sự vụ, bệnh giấy tờ, tệ lười nhác; tác phong lề mề, xử lý công việc vụng về; thói ba hoa, khoác lác, nói không đi đôi với làm và trả lời các vấn đề qua loa, đại khái; là tính vô nguyên tắc, tự do vô kỷ luật; là bệnh tham ô, lãng phí, hối lộ, kiêu ngạo, hống hách, tự cao, tự đại; là chỉ đạo và thực thi công việc tắc trách, xa thực tế, xa rời quần chúng; là chủ nghĩa cá nhân, v.v.. Trong cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa quan liêu biểu hiện ở tính bản vị, cục bộ, tính “kiêu ngạo cộng sản”; lề lối làm việc chậm chạp, giải quyết công việc lộn xộn; thiếu năng lực chuyên môn, thiếu lý luận, thiếu kiến thức thực tiễn; ngại khó khăn, gian khổ, lười học tập, không chịu tiếp thu cái mới, không chịu tu dưỡng, rèn luyện; bảo thủ, trì trệ; suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, “muốn xông vào hai chục việc một lúc để rồi không có thì giờ nên không làm xong một việc nào cả”. V.I. Lênin gọi những biểu hiện này là “tật bệnh”, là “kẻ thù thứ nhất” đối với cán bộ, đảng viên. Một biểu hiện nguy hại và đặc biệt nguy hiểm của bệnh quan liêu ở người cán bộ, đảng viên cộng sản là xa rời quần chúng, xa rời thực tế, làm mất đi sức mạnh của mối liên hệ máu thịt giữa đảng của giai cấp công nhân với đông đảo quần chúng nhân dân lao động.

Trong tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là trong các tổ chức đảng, nhà nước, chủ nghĩa quan liêu biểu hiện rõ ở mặt tổ chức. Đó là việc bố trí, sắp xếp bộ máy nhà nước, bộ máy đảng và các đoàn thể một cách tùy tiện, phân tán, lập ra hết ban nọ, phòng kia, chỉ với mục đích là “cho oai, cho oách”, làm cho bộ máy cồng kềnh và phình ra quá lớn. Tất cả lại thiếu sự kiểm tra, đôn đốc, nên hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Đó còn là bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ không đúng vị trí, chức năng, trái ngành nghề, không đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, làm cho năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác thấp. Một biểu hiện khá điển hình mà V.I. Lênin phê phán kịch liệt là việc xây dựng kế hoạch viển vông, không căn cứ vào điều kiện thực tế, là việc “vạch ra các đề cương hết sức rỗng tuếch, hoặc nặn ra những dự thảo và khẩu hiệu hết sức chung chung” và hoàn toàn duy ý chí. Vì thế, Người cảnh báo rằng: “Chúng ta bị vũng lầy chủ nghĩa quan liêu đáng nguyền rủa cuốn hút vào việc thảo công văn, bàn bạc sắc lệnh, và công tác sinh động bị chìm ngập trong các biển giấy tờ ấy”.

Trong lĩnh vực kinh tế, chủ nghĩa quan liêu biểu hiện ở việc làm việc không có kế hoạch cụ thể, mà tùy tiện, gặp đâu làm đấy, phê chuẩn một cách bừa bãi, đề ra những quyết định không đúng, hội họp liên miên, không chú ý đến hạch toán kinh tế, không căn cứ vào điều kiện cụ thể, bất chấp hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan. Nhiệm vụ xây dựng kinh tế như V.I. Lênin phân tích, là công tác trung tâm của cách mạng xã hội chủ nghĩa, một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của đảng lãnh đạo chính quyền, một công tác đòi hỏi những thử thách gian lao, những cố gắng bền bỉ, tính tự chủ, tính chính xác và lòng kiên nhẫn rất cao. Chính bệnh hình thức, thích phô trương, thích báo cáo thành tích, mà lại báo cáo sai sự thật, v.v. là những biểu hiện gây tác hại không nhỏ trong hoạt động kinh tế - xã hội, mà Người gọi đó là bệnh “kiểu cách rởm”, “phô trương rởm”. 

Nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa quan liêu được V.I. Lênin phân tích kỹ, có thể khái quát ở mấy nguyên nhân chính dưới đây:                                       

Về mặt xã hội, theo V.I. Lênin, do tàn dư, thói quen và tập tục thuộc về bản chất của xã hội cũ. Những tàn dư này thâm nhập vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp, được in dấu ấn rõ nét ở nhiều cán bộ lãnh đạo trong các hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước và hệ thống chính trị. Về mặt văn hóa, do trình độ văn hóa thấp của cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân lao động, và do trình độ chuyên môn non kém của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Trình độ quản lý yếu kém của cán bộ lãnh đạo là nguyên nhân chủ yếu xuất hiện chủ nghĩa quan liêu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Người cho rằng, ở những nơi xuất hiện và tồn tại chủ nghĩa quan liêu thì “điều người ta cảm thấy rõ rệt nhất chính là thiếu những lực lượng văn hóa”. Về mặt lịch sử, đó là hậu quả của chiến tranh. Bởi chiến tranh là sự thử thách cao nhất đối với một dân tộc, một chế độ xã hội; nó tàn phá nền kinh tế của đất nước, làm đảo lộn mọi hoạt động và sinh hoạt của xã hội. Trong chiến tranh, đảng của giai cấp công nhân và mọi lực lượng của dân tộc phải dồn sức vào nhiệm vụ quân sự - một  nhiệm vụ thu hút nhiều nhân tài, vật lực của đất nước và ở chừng mực đáng kể thực hiện chế độ bao cấp. Do đó, sau chiến tranh, chủ nghĩa quan liêu và những phần tử quan liêu có điều kiện xuất hiện và tồn tại. Về mặt kinh tể, do quan hệ sản xuất và nền sản xuất nhỏ, do thiếu sự trao đổi và liên hệ giữa các địa phương, giữa các ngành kinh tế, đặc biệt là giữa công nghiệp và nông nghiệp. V.I. Lênin cho rằng, nguồn gốc kinh tế của chủ nghĩa quan liêu là tình trạng chia rẽ, phân tán của những người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng thiếu đường giao thông, thiếu sự trao đổi giữa các ngành kinh tế, nhất là trong nông nghiệp và công nghiệp.

Về tác hại của chủ nghĩa quan liêu, V.I. Lênin khẳng định: “Đó là kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta”; là “trở lực lớn” thực hiện những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; là “vật cản” đối với sự phát triển toàn diện của đất nước. Người còn chỉ ra rằng, nó là “bạn đường” của tính tự phát tiểu tư sản, của xu hướng vô chính phủ, của tàn dư chế độ cũ. Chủ nghĩa quan liêu cùng với những thế lực đó tấn công vào giai cấp công nhân và đội tiên phong là Đảng Cộng sản, vào các tổ chức bộ máy của đảng và nhà nước. Nó kéo sự nghiệp của giai cấp công nhân và đội tiền phong là Đảng Cộng sản và của dân tộc “đi thụt lùi”. Thực chất là nó phá tan Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và quản lý, chủ nghĩa quan liêu là “nguồn gốc” của mọi sai lầm, từ sai lầm nhỏ đến sai lầm lớn, của những hành vi tùy tiện, tham ô, lãng phí, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, cục bộ, bản vị, hống hách, bất chấp mọi nguyên tắc, bất chấp mọi pháp luật, v.v.. Nó làm xói mòn phẩm chất, năng lực và phong cách của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nó có khả năng biến họ “trở thành những kẻ có đặc quyền, đặc lợi, thoát ly quần chúng”.                             

Chủ nghĩa quan liêu “gặm nhấm” dần bộ máy Đảng và Nhà nước, nó “phá vỡ” dần sức mạnh của mối liên hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, làm mai một niềm tin của quần chúng đối với Đảng Cộng sản cầm quyền. V.I. Lênin chỉ rõ: Chủ nghĩa quan liêu sẽ dẫn tới nguy cơ từ bỏ lập trường chính trị, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, bỏ rơi nguyên tắc tổ chức của đảng, xa rời quần chúng nhân dân - nguồn lực tạo nên sức mạnh của Đảng Cộng sản, đi chệch mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Người còn nhấn mạnh: “Những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”3. Chủ nghĩa quan liêu còn là “đầu mối” của mọi sự bất đồng, mất đoàn kết trong nội bộ đảng, nội bộ giai cấp công nhân, trong bộ máy điều hành của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tác hại này được V.I. Lênin phân tích rõ: “Một điều rõ ràng là trong một nước đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì một sự chia rẽ trong nội bộ giai cấp công nhân, hoặc giữa Đảng với quần chúng nhân dân lao động không phải chỉ là nguy hiểm mà còn là cực kỳ nguy hiểm, nhất là nếu trong nước đó, giai cấp công nhân chỉ là thiểu số, nhỏ bé trong dân cư”4. Tóm lại, chủ nghĩa quan liêu, theo V.I. Lênin là “vấn đề đau đớn”. Nó không chỉ là sai lầm về tác phong, phương pháp công tác, mà còn là “kẻ thù bên trong nguy hiểm nhất”, có quan hệ trước hết và chủ yếu đến lập trường, quan điểm và đạo đức, bản chất cách mạng của đảng cầm quyền, của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó làm thoái hóa đội ngũ cán bộ của đảng, nó có thể dẫn đảng cầm quyền tới nguy cơ tan rã, dẫn chế độ xã hội chủ nghĩa tới nguy cơ sụp đổ. Bài học đau đớn dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, trong đó có nguyên nhân của chủ nghĩa quan liêu.

Làm gì để đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu ?

Đề cập đến các biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu, V.I. Lênin đã để lại cho chúng ta nhiều chỉ dẫn quý báu. Dưới đây xin nêu một số biện pháp chủ yếu:

Một là, về mặt nhận thức, phải coi chống chủ nghĩa quan liêu là “nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn cách mạng” - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là tuyệt đối cần thiết và cũng phức tạp như cuộc đấu tranh chống xu thế tự phát tiểu tư sản và tư sản. V.I. Lênin coi đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu là đặc biệt quan trọng, nhất là trong những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, trong khi chuyển từ hệ thống quản lý này sang hệ thống quản lý khác, đồng thời Người đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có “trình độ thông thạo nghiệp vụ, nhanh nhẹn và nghị lực tối đa”.

Hai là, về mặt hành động, chủ nghĩa quan liêu không phải nhất thời, mà có tính “thâm căn cố đế”. Vì vậy, đấu tranh để chiến thắng nó phải rất kiên quyết, rất kiên trì, không nản chí và phải được tổ chức chặt chẽ với nhiều biện pháp thích hợp trong từng thời kỳ cách mạng. Nếu quan niệm rằng, có thể nhanh chóng thanh toán được “căn bệnh” này, có thể cắt bỏ cái “ung nhọt” này một cách dễ dàng là sai lầm ngay trong cách đặt vấn đề. Cần phải thừa nhận thực tế của “căn bệnh” này và phải kiên trì đấu tranh với nó. Người xác định: “Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu trong một nước nông dân hết sức quyệt quệ đòi hỏi phải có thời gian lâu dài, và cuộc đấu tranh này cần phải tiến hành một cách kiên trì, không nản chí, thậm chí khi thất bại lần đầu”5.

Ba là, thực hành dân chủ rộng rãi và mở rộng dân chủ, phát triển dân chủ đến cùng bằng cách tạo ra những tiền đề và điều kiện thuận lợi nhất với những hình thức phong phú để động viên mọi người thực sự tham gia việc quản lý và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vự kinh tế và ở cấp cơ sở. V.I. Lênin còn yêu cầu mỗi cơ quan đảng và nhà nước phải đặt ra quy chế ngày giờ tiếp dân để giải quyết những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng và những kiến nghị đúng đắn mang tính xây dựng của nhân dân. Theo Người, “chỉ khi nào toàn thể nhân dân đều tham gia quản lý thì khi ấy mới có thể đả phá chủ nghĩa quan liêu đến cùng, đến thắng lợi hoàn toàn được”.

Bốn là, thực hiện nghiêm việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ dưới lên và từ trên xuống đối với các hoạt động của các tổ chức, cơ quan nhà nước và cơ quan đảng, đặc biệt là sự kiểm tra của quần chúng từ dưới lên. V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến sự kiểm tra, kiểm soát có tính chất quần chúng từ dưới lên là một trong những biện pháp chủ yếu chống chủ nghĩa quan liêu có hiệu quả. Muốn vậy, phải đặt ra chế độ kiểm tra, kiểm soát thật chặt chẽ bằng nhiều biện pháp với sự giúp đỡ của tổ chức đảng, chính quyền, đặc biệt là tổ chức công đoàn. Người nói rõ, phải làm sao thu hút được đông đảo quần chúng tham gia vào việc kiểm tra được mọi công việc nhà nước và học tập tự quản lý lấy nhà nước. Người nói rõ: “Công tác kiểm tra đó thu hút càng nhiều công nhân và nông dân càng tốt. Chúng ta sẽ bắt tay vào việc đó, và do đó sẽ tẩy trừ chủ nghĩa quan liêu ra khỏi các cơ quan của chúng ta”6.

Năm là, cải tiến tổ chức, giảm nhẹ biên chế, đổi mới công tác cán bộ, đổi mới và thu hẹp bộ máy. Đây là biện pháp rất quan trọng mà V.I. Lênin yêu cầu các cơ quan đảng, nhà nước phải làm cho được. Người đề ra yêu cầu thực hiện nghiêm ngặt chế độ trách nhiệm cá nhân đối với nhiệm vụ công tác. Theo Người, ngoài nhiệm vụ có tính nguyên tắc là xác định tổ chức bộ máy, sắp xếp và đổi mới bộ máy, thì: “Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn không phải là ra các sắc lệnh, tiến hành các cuộc cải tổ, mà là lựa chọn người, thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm, kiểm tra công việc thực tế. Nếu không như thế, thì không thể thoát được ra khỏi chủ nghĩa quan liêu và bệnh giấy tờ đang bóp nghẹt chúng ta”7.

Sáu là, kiên trì tuyên truyền, giáo dục, động viên, đi sâu vào thực tiễn, đề xuất những biện pháp thực tiễn. Cần tổ chức đoàn kết thật rộng lớn trong nhân dân, nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, kỷ luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kêu gọi sự giúp đỡ và đoàn kết của mọi tổ chức trong hệ thống chính trị. V.I. Lênin khẳng định, “chỉ có làm như vậy mới bảo đảm vững chắc cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu có kết quả”. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh: “Cần phải  hiểu rằng, hiện nay thực tiễn là tất cả, rằng đã đến một thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn, trở nên sinh động nhờ thực tiễn, được sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn”8. Thực tiễn đó là, xây dựng kinh tế, tổ chức tốt quản lý xã hội, chăm lo đời sống người lao động, phát triển sự trao đổi giữa các địa phương, vùng miền, sử dụng tốt đội ngũ chuyên gia nước ngoài cho phát triển kinh tế. Người nói: “Đối với chúng ta đó là hoạt động chính trị có ý nghĩa nhất”9. 

Bảy là, đối với những cá nhân, cơ quan, tổ chức mắc bệnh quan liêu, phải thành thật, tự giác nhận ra khuyết điểm và phải kiên quyết sửa chữa. Phương pháp hữu hiệu nhất mà V.I. Lênin yêu cầu là thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu cá nhân và cơ quan nào mắc bệnh quan liêu mà không sửa chữa, Người yêu cầu đưa tin ngay lên đài báo, cách chức, xử phạt đúng mức độ sai phạm nhằm giữ nghiêm kỷ luật của đảng và của cơ quan nhà nước. Riêng đối với bọn lạm quyền, tham ô, lãng phí, có những hành vi bỉ ổi, hèn hạ, hiếp đáp xấu xa, Người yêu cầu xử ngay tại chỗ, thanh trừ ngay tức khắc, thậm chí lập tòa án truy tố. Người còn căn dặn, khi tiến hành các biện pháp trên phải thật mạnh dạn, một thứ mạnh dạn cần thiết để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đông đảo quần chúng tham gia, cho cán bộ, đảng viên phát huy năng lực sáng tạo trong đấu tranh. Người kết luận: “Muốn tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có kết quả, thì cần thiết và cấp bách phải tiếp tục đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu”.

Nghiên cứu và vận dụng quan điểm của V.I. Lênin về chủ nghĩa quan liêu và đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay của cách mạng nước ta, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng đất nước giàu mạnh. Đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là cuộc đấu tranh xóa bỏ tình trạng quan liêu trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tình trạng thiếu sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đấu tranh chống thái độ, phong cách quan liêu của cán bộ các cấp, các ngành. Cụ thể là chống tham ô, lãng phí, chống đặc quyền, đặc lợi, cửa quyền, hống hách, nạt nộ dân, chống thói “lên mặt quan cách mạng”, xa rời dân, vi phạm những lợi ích chính đáng của dân; là đấu tranh cho công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế, đổi mới về tổ chức, đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu xây dựng đất nước ta giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo con đường xã hội chủ nghĩa.                                                                                                                            

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

         1, 2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.10, tr.42; t.8, tr.424.

          3, 4. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.54, tr.235; t.42, tr.336.

          5, 6. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.52, tr.249; t.40, tr.146.

          7, 8. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.452; t.35, tr.243.

          9. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.397.