Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀM CHO CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG NGÀY CÀNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Trong suốt 93 năm qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi đây là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được hiểu là các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ; đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội...

Thực tế cho thấy trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng tìm mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tăng cường xuyên tạc bản chất của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ta. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, lý tưởng, niềm tin của nhân dân với Đảng, với đội ngũ cán bộ, đến trật tự an ninh xã hội và lâu dài là sự tồn vong của chế độ.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không phải là vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Các đối tượng chống phá cố tình không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Song không chỉ dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn cố tình suy diễn cho rằng, sở dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”, “che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: sự mất đoàn kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng.

Đáng buồn là những luận điệu sai trái này không chỉ được tuyên truyền bởi các thế lực chống phá, phản động mà còn được sự tiếp tay của một số cá nhân, trong đó có cả những người từng có uy tín, công lao nhất định với đất nước, nhưng do bị suy thoái về tư tưởng, sai lầm về nhận thức nên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên bất mãn, thù hằn chế độ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội. Hiện tượng này cần phải được nhận diện, thông tin kịp thời giúp người dân hiểu rõ, không để các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ, hoặc tin nghe theo những luận điệu sai trái, thù địch.

Có thể thấy rằng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ hiện đang bị các thế lực thù địch lợi dụng khai thác triệt để. Một mặt, chúng lợi dụng những yếu kém, hạn chế, sai lầm của một bộ phận cán bộ dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát tài sản công, quản lý kém hiệu quả… trong thời gian qua để tuyên truyền, xuyên tạc hòng khoét sâu thêm những bức xúc của nhân dân.

Mặt khác, khi Đảng ta tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng một cách quyết liệt, với quan điểm “không có vùng cấm” trong xử lý vi phạm của đội ngũ cán bộ với hàng loạt các vụ đại án từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ban, ngành đến các doanh nghiệp tư nhân,... thì chúng lại bóp méo, xuyên tạc rằng đó thực chất là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt tiêu nhau”. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cũng bị chúng bóp méo cho rằng đó chỉ là hình thức, nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”...

Thẳng thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt góp phần làm trong sạch bộ máy.

Cho nên, sự quyết liệt trong công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay tuyệt đối không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, bè phái mà chính là thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong, lãnh đạo vì lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân.

Quan điểm của Đảng ta trong công tác cán bộ được xác định rõ: không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ và “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Do đó, việc thực hiện quyết liệt trong đấu tranh chống tham nhũng và đổi mới, công khai, nghiêm túc trong công tác cán bộ ở nước ta thời gian qua cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bên cạnh đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là phong trào thi đua “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Đảng ta cũng đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, cuộc vận động và phong trào thi đua đó đã diễn ra hàng chục năm nay nhưng chỉ là hình thức mang tính “phong trào” chứ không đi vào thực chất, không hiệu quả.

Những luận điệu này không chỉ là sự bóp méo về chức năng, nhiệm vụ của công tác chính trị nội bộ, mà còn cố tình phủ định sạch trơn những cố gắng, quyết tâm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng mà chúng ta đang thực hiện.

Những kết quả tích cực suốt hàng chục năm qua mà Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta đã đạt được qua cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ là minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trên khắp cả nước tích cực thi đua không ngừng để “học và làm theo Bác” từ những việc làm thiết thực, cụ thể.

Tiêu biểu như công cuộc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm theo lối sống giản dị của Bác “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với phương châm “phục vụ nhân dân”, gần dân, sát dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “phê bình và tự phê bình”; đề cao trách nhiệm nêu gương; tự tu dưỡng, tự rèn luyện,...

Qua hàng loạt các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho thấy mục đích duy nhất của chúng là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chính vì vậy, cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ đâu, chúng ta cũng phải luôn tỉnh táo, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhận thức khoa học đầy đủ, đúng đắn để tỉnh táo nhận diện được những luận điệu, thủ đoạn thâm độc, khó lường của các thế lực thù địch.

Để làm được điều đó mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn kết chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị.

Đồng thời cấp ủy, chính quyền các cấp phải kịp thời nắm bắt tình hình tại cơ quan, đơn vị mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự,…; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để nắm bắt tình hình, giải quyết những tình huống phát sinh, những vụ việc gây bức xúc, tố giác, khiếu kiện… theo đúng quy định, minh bạch, khách quan, tránh để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu khống. Tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan, đơn vị, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, phát huy mạnh mẽ vai trò của từng cán bộ, đảng viên và tập thể.

Đây là những yêu cầu cần thiết để chủ động phòng và kịp thời đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ, hạ thấp uy tín của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 

Trong giai đoạn hiện nay, một thủ đoạn mới mang tên “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch sử dụng nhằm tăng cường“diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận diện thủ đoạn “bất tuân dân sự” ở Việt Nam hiện nay để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ sự ổn định chính trị-xã hội là hết sức cần thiết.

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” bắt nguồn lần đầu tiên trong tập tiểu luận của tác giả người Mỹ Henry David Thoreau với tiêu đề “Dân sự bất hợp tác” viết vào tháng 5/1849. Nhằm bào chữa cho việc phải ngồi tù vì tội không đóng thuế ở Massachusetts, Henry David Thoreau viết tập tiểu luận để khẳng định rằng cá nhân (hoặc một bộ phận thiểu số công dân) không cần tuân thủ và phục tùng nhà nước, thậm chí có thể chống lại việc thực thi luật pháp của nhà nước nếu thấy không phù hợp.

Thực chất, đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ, tiềm tàng nguy cơ bất ổn cho xã hội. Sau này, “bất tuân dân sự” dần được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế sử dụng thành thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, âm mưu làm thay đổi chế độ chính trị ở những quốc gia tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng. Dù bề ngoài có vẻ ôn hòa, núp bóng “dân sự”, không bạo lực vũ trang, nhưng phong trào “bất tuân dân sự” đem lại những hiểm họa khôn lường cho xã hội.

Hiện nay, “bất tuân dân sự” được hiểu là hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc cố ý vi phạm với một số quy định pháp luật của nhà nước với những lý do không chính đáng. Về cơ bản, những hành động “bất tuân dân sự” là hình thức phản kháng ôn hòa, bất bạo động nhưng lại thể hiện rõ ràng sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đặc biệt, với chiến lược “diễn biến hòa bình” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc xây dựng tư tưởng chủ đạo muốn chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa bởi vậy “bất tuân dân sự” dần trở thành phương thức thủ đoạn có sự liên hệ chặt chẽ các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các đối tượng cơ hội chính trị, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy cho “bất tuân dân sự”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia; “cách mạng cam” ở Ucraina; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả Rập) ở các nước Trung Đông và Bắc Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) hay các cuộc biểu tình phản đối sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019, năm 2020… đều có dấu ấn của “bất tuân dân sự”. Điểm chung của các phong trào này là nhằm gây trở ngại cho hoạt động thực thi công lý, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây khủng hoảng toàn diện cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Ở Việt Nam, thủ đoạn “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch triệt để sử dụng dựa trên các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, bất cập, hạn chế trong triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, đối ngoại... Các đối tượng chống phá lợi dụng một số sai phạm, yếu kém của tổ chức, cá nhân để rêu rao Việt Nam vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, từ đó kích động lôi kéo người dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, tập dượt kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho những bước chống phá cao hơn. Các đối tượng không ngừng tuyên truyền cho rằng: “Lối thoát cho Việt Nam là bất tuân dân sự”, hay “Bất tuân dân sự là con đường tự do cho Việt Nam”.

Trong những năm gần đây diễn ra hàng loạt vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự” như khi giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Đắk Nông, Gia Lai, một số đối tượng đã “bất tuân cưỡng chế”, chống lại cơ quan thực thi pháp luật; hay “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) để lập các tổ chức dân sự nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền như “hội văn đoàn độc lập”, “hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “hội anh em dân chủ”, “hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam”, “hội phụ nữ nhân quyền”… lập ra để phản đối các bộ luật ở nước ta. Vụ việc phức tạp tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội tháng 1/2020 là điển hình của việc coi thường pháp luật, vi phạm các quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luật hết sức bất bình.

Hậu quả của hoạt động “bất tuân dân sự” rất nặng nề, tác động tiêu cực cả về kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các đối tượng kích động người dân tụ tập, gây cản trở giao thông, đập phá trụ sở chính quyền, đốt phá tài sản nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nhiều cán bộ thực hiện nhiệm vụ bị thương, hoạt động của cơ quan nhiều nơi bị ngưng trệ.

Đồng thời các đối tượng tìm mọi thủ đoạn hòng móc nối, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân phản đối, gây sức ép thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật, lĩnh vực tư pháp để chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cần khẳng định rằng các hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”.

Chúng kêu gọi và thổi phồng rằng người dân cần phải được “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “ý thức pháp luật”, lên tiếng để thay đổi luật pháp cho phù hợp với ý chí của cá nhân, và kêu gọi rằng không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh cho một số đạo luật, và muốn bảo đảm “thượng tôn pháp luật” phải thực hiện đa nguyên đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây.

Về bản chất, hoạt động “bất tuân dân sự” là tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; không ngừng sử dụng luận điệu kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập”; thúc đẩy, kích động tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...

Trước những âm mưu, thủ đoạn “bất tuân dân sự” hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm xã hội, chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của các đối tượng chống phá để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh, kịp thời xử lý một cách linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả những tình huống phức tạp.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các cá nhân và tổ chức ở Việt Nam. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được thường xuyên đổi mới, phù hợp với thực tế, đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán… để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, các tổ chức và người dân cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội; dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để chống phá đất nước, xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Nếu để những hoạt động “bất tuân dân sự”, những âm mưu, thủ đoạn coi thường pháp luật xảy ra kéo dài thì hậu quả để lại rất nặng nề, không chỉ ảnh hưởng về kinh tế-xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền.

Từ đây cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường…

Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, pháp luật của Nhà nước. Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, là một biểu hiện cho tiến bộ, phát triển của xã hội nhưng tuyệt đối không thể là sự tự do “vô chính phủ”. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm nhằm đồng nhất “quyền dân tộc tự quyết” với “quyền dân tộc thiểu số” để chống phá Đảng, Nhà nước cũng như khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần nhận thức và thực hành đúng đắn quyền dân tộc tự quyết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Mặc dù có liên hệ mật thiết với nhau song “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau. Theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các quốc gia-dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội theo con đường mình lựa chọn trên cơ sở thiết lập chủ quyền quốc gia. Một trong những mục đích, tôn chỉ hoạt động được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đó là: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới”.

Năm 1966, lần đầu tiên “quyền dân tộc tự quyết” được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đó là Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị, Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Đặc biệt tại Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết 2625 (XXV) năm 1970 đã chỉ rõ nội hàm của “quyền dân tộc tự quyết” (hay còn gọi là nguyên tắc tự quyết của các dân tộc) với các điểm mấu chốt như sau:

Một là “tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài”.

Hai là “việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy”.

Ba là “không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc”…

Liên quan “quyền dân tộc thiểu số”, tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Đại hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 1948 khẳng định rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1) và “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2).

Đồng thời tại Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định những người thuộc dân tộc thiểu số ở bất kỳ quốc gia-dân tộc nào cũng có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như những người thuộc dân tộc đa số ở chính các quốc gia-dân tộc đó, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

Như vậy, có thể khẳng định “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau, liên quan các đối tượng khác nhau. Khi đề cập về “quyền dân tộc tự quyết” là muốn nói đến quyền lợi của một quốc gia-dân tộc so với các quốc gia-dân tộc khác trên thế giới.

Cụ thể, khi một quốc gia có nguy cơ bị các quốc gia khác xâm hại hoặc cản trở việc thực hiện quyền này thì toàn thể các dân tộc tại quốc gia đó phải đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ “quyền dân tộc tự quyết” của mình. Còn khi đề cập “quyền dân tộc thiểu số” là nói đến quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong nội bộ của một quốc gia độc lập, thống nhất. Theo đó, các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số sinh sống tại quốc gia mình được hưởng đầy đủ các quyền “dân tộc thiểu số” phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, luật pháp của quốc gia.

Tuy nhiên, lợi dụng thực tế Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, còn lại là dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc chiếm 13% dân số), cùng với đó là sự nhận thức chưa đầy đủ về “quyền dân tộc tự quyết” của nhiều người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế-xã hội còn kém phát triển và trình độ dân trí chưa cao, các thế lực thù địch, phản động đã tìm cách đánh tráo nhằm đồng nhất hai khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số”. Mục đích mà chúng muốn hướng đến là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” bằng cách ly khai, bạo loạn, đòi quyền tự trị, tự quản với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng những chủ trương, chính sách đúng đắn, đời sống của người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện về mọi mặt, theo đúng phương châm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số… Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trên thực tế tại một số địa phương việc giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định với các biểu hiện: Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở một số địa phương còn yếu kém; công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở, chưa gần dân, sát dân, chưa kịp thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; chậm phát hiện và xử lý các vụ việc phức tạp trên địa bàn…

Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, phản động đã phủ nhận toàn bộ những thành tựu to lớn của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ép người đồng bào dân tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hóa truyền thống” để hòa nhập với “cuộc sống văn minh, tiến bộ” của người Kinh; tuyên truyền sai lệch về quyền dân tộc tự quyết để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, từ đó từng bước làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Để phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả những thủ đoạn lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá đất nước, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao cảnh giác, hiểu đúng, hiểu rõ và thực hành đúng “quyền dân tộc tự quyết” theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam. Khi người dân đã hiểu đúng về “quyền dân tộc tự quyết” thì sẽ không còn cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các hoạt động “từ thiện”, “nhân đạo” trá hình để tuyên truyền sai lệch về vấn đề thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” từ đó mua chuộc, vận động, thậm chí ép buộc người đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi gây rối, bạo loạn, đòi ly khai, tự trị. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đòi hòi chính đáng và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố niềm tin của họ với Đảng, Nhà nước.

Song song đó, phải tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách này góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện một cách đầy đủ, trên nguyên tắc các dân tộc thật sự bình đẳng, đề cao tinh thần thống nhất và khối đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng những điểm khác biệt của các dân tộc về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…

Đồng thời, cần tăng cường thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo đa chiều bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo còn đặc biệt khó khăn. Chỉ khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa người miền xuôi và người miền núi, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh thì mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, tiến bộ của xã hội, giải quyết triệt để, hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá của các thế lực phản động, thù địch./.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM - MỘT THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC

 

Thời gian gần đây, lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân tộc thiểu số thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, hải đảo đời sống gặp nhiều khó khăn, các đối tượng xấu đã mua chuộc, dụ dỗ họ tham gia vào nhiều hoạt động phi pháp núp bóng tôn giáo, hoặc các hội nhóm mang danh “xã hội dân sự” đấu tranh “vì quyền lợi cho các dân tộc ít người”.

Thực chất, thông qua các hoạt động này, những phần tử chống phá nhen nhóm tư tưởng ly khai trong cộng đồng dân tộc thiểu số, kích động người dân đòi quyền dân tộc tự quyết, lập nên nhà nước riêng, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, đe dọa gây ra những hậu quả khó lường.

Như ở khu vực miền núi phía bắc, sự xuất hiện của tà đạo Giê Sùa và Bà cô Dợ đã gây ra những bất ổn trong đời sống dân cư, đặc biệt là vấn đề an ninh, trật tự. Dù đã được chính quyền cùng các cơ quan chức năng cảnh báo, vận động, thuyết phục song không ít người dân vẫn bị dụ dỗ, mê muội tin theo các tà đạo. Tà đạo Giê Sùa (còn được gọi là “Hội thánh Giê Sùa”) chỉ mới xuất hiện chưa đến 10 năm song với nhiều thủ đoạn tiếp cận tinh vi nhằm thuyết phục, mua chuộc người dân nên đã nhanh chóng lan ra một số tỉnh, thành phố, như: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Người sáng lập ra “Hội thánh Giê Sùa” là Hờ Chá Sùng (còn gọi là David Her), người H’Mông, gốc Lào đang sống tại bang California, Mỹ.

Hờ Chá Sùng đã tận dụng “mác” người H’Mông để chiếm cảm tình cũng như lòng tin của một số bà con dân tộc thiểu số. Bất chấp việc không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, “Hội thánh Giê Sùa” tuyên truyền tà đạo chỉ dựa vào những câu chữ được cóp nhặt, vay mượn từ Kinh thánh và một số tài liệu do Hờ Chá Sùng tự soạn thảo. Mặt khác, Hờ Chá Sùng tán phát các tài liệu tuyên truyền tà đạo trên mạng internet, thông qua kênh YouTube và trang thông tin điện tử phản động bằng tiếng H’Mông. Không chỉ bác bỏ và xuyên tạc các tôn giáo chính thống, Hờ Chá Sùng còn tự tin cho rằng “Hội thánh Giê Sùa” là tôn giáo chính thống của người H’Mông, đồng thời phong cho mình làm “Vua của dân tộc H’Mông”, ai tin tưởng đi theo thì có được đất nước riêng của người H’Mông, cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc. Qua quá trình hoạt động, Hờ Chá Sùng đã bộc lộ mưu đồ thật sự của mình từ việc lập ra một tổ chức tôn giáo bất hợp pháp là nhằm kích động, kêu gọi người H’Mông, thành lập “nhà nước H’Mông” tự trị với lý lẽ sai trái rằng, đó là thực hành quyền dân tộc tự quyết.

Nhằm thực hiện âm mưu “phá từ trong phá ra”, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc quyền dân tộc tự quyết nhằm chia rẽ cộng đồng người dân tộc thiểu số với người Kinh, làm cho nội bộ đất nước rối ren, khối đại đoàn kết dân tộc bị suy yếu. Thực tiễn cho thấy không chỉ ở địa bàn Tây Bắc mà tại một số địa phương khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, diễn biến của vấn đề này cũng hết sức phức tạp. Các đối tượng phản động ở hải ngoại tăng cường cấu kết với các phần tử chống phá ở trong nước, sẵn sàng cung cấp tiền bạc, tài liệu,… phục vụ cho việc “xây dựng lực lượng”, tuyên truyền, dụ dỗ, kích động một số người dân thiếu thông tin hoặc nhẹ dạ, cả tin đứng lên đòi hỏi “xác lập vị thế, quyền dân tộc”. Nổi cộm tại khu vực Tây Nguyên thời gian qua, các đối tượng phản động trong nước và nước ngoài cấu kết với nhau, hô hào kêu gọi thành lập cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”. Mục đích của chúng là nhằm ly khai khu vực Tây Nguyên nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền, chia cắt sự toàn vẹn và thống nhất của đất nước cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền, làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập” thực chất là một tổ chức “ma” mà những kẻ theo FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức) lập ra vào cuối năm 1999, do Ksor Kơk cầm đầu. Để thực hiện mưu đồ đen tối, Ksor Kơk xuyên tạc rằng “mỗi dân tộc phải có một lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán riêng, đất của người Thượng phải do người Thượng quản lý, sử dụng”. Nhằm chiếm được lòng tin và thao túng tâm lý của người dân, chúng đẩy mạnh phương thức tuyên truyền qua tôn giáo.

Giữa năm 2000, Ksor Kơk từ Mỹ đã chỉ đạo một số tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số mà y đã tuyển mộ từ trước đó lên tiếng đòi tự do tôn giáo, tách Tin lành người Thượng ra khỏi Hội thánh Tin lành Việt Nam, lập nên tà đạo “Hội thánh Tin lành Đê ga” làm hậu thuẫn cho “Nhà nước Đê ga độc lập”.

Dù mang danh nghĩa là tổ chức tôn giáo, song “Hội thánh Tin lành Đê ga” đẩy mạnh các hoạt động mang màu sắc chính trị như việc xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực tôn giáo, dân tộc. Các đối tượng kích động các tín đồ Tin lành đuổi người Kinh về xuôi với lý lẽ là “đòi lại đất đai cho người Thượng”, xây dựng cơ sở tôn giáo trái phép, tiến hành các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp, kêu gọi thành lập “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”…

Để thực hiện mưu đồ đen tối của mình, các đối tượng chống phá thường xuyên vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí ở nước ngoài.

Trong các năm 2001, 2004, 2008 ở Tây Nguyên, “Hội thánh Tin lành Đê ga” dưới sự giật dây, chỉ đạo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ hải ngoại đã kích động người dân gây ra các vụ bạo loạn khiến dư luận vô cùng phẫn nộ. Gần đây vụ tấn công liều lĩnh, manh động vào trụ sở Ủy ban nhân dân hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk rạng sáng 11/6/2023 làm 9 người chết, được đánh giá là hoạt động khủng bố chống chính quyền với sự tiếp tay, chỉ đạo từ nước ngoài.

Tại khu vực Tây Nam Bộ, sự chống phá, can thiệp của các tổ chức phản động ở nước ngoài cũng lộ rõ. Biểu hiện rõ nhất là tại một số diễn đàn quốc tế, những năm qua, Tổ chức “Liên đoàn Khmer Kampuchea Krom” (Mỹ) luôn tìm mọi cách tiếp cận các chính trị gia các nước để vu cáo, cung cấp thông tin thất thiệt, sai sự thật về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.

Tại “Diễn đàn thường trực Liên hợp quốc về các vấn đề dân tộc bản địa (UNPFII) lần thứ 14”, “Diễn đàn nhân dân ASEAN 2015”, tổ chức này còn yêu cầu Việt Nam, Campuchia chấm dứt phân biệt đối xử với người “Khmer Krom”; đề nghị Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và các nước thành viên ASEAN can thiệp; yêu cầu thành lập Văn phòng nhân quyền bảo vệ quyền lợi cho người “Khmer Krom” tại Việt Nam...

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện một số đối tượng cộm cán từ bên ngoài thường xuyên tác động, chỉ đạo, tài trợ, hướng dẫn các phần tử cực đoan sống tại địa phương thu thập tin tức bí mật chuyển ra ngoài, đồng thời lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm để xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, kích động quần chúng gây rối, biểu tình đòi ly khai, tự trị.

Cơ quan chức năng cũng đã phát hiện, thu giữ hàng nghìn tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ, cho rằng, đất Nam Bộ là của người “Khmer Krom” bị Việt Nam xâm chiếm, dựng lên cái gọi là “lễ kỷ niệm ngày mất đất”. Mặt khác, các đối tượng chống phá còn sử dụng Tuyên ngôn về quyền của người bản địa của Liên hợp quốc, để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đối với dân tộc Khmer.

Mới đây, vào tháng 7/2023, lợi dụng việc cổng chào của tỉnh Trà Vinh phải phá dỡ do bị hư hỏng nặng, có thể gây nguy hiểm cho người dân, các đối tượng chống phá lập tức rêu rao rằng “cổng chào của tỉnh Trà Vinh (cũ) là của dân tộc Khmer, có kiến trúc văn hóa của cha ông để lại”, từ đó xuyên tạc việc tháo dỡ cổng chào là “chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer, muốn thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Khmer”.

Diễn biến của tình hình cho thấy mức độ nguy hiểm, phức tạp, khó lường của mưu đồ thực hiện diễn biến hòa bình dưới chiêu bài quyền dân tộc tự quyết trong tình hình hiện nay.

Dù được thực hiện với nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau song có thể nhận diện những điểm chung là: Các đối tượng chống phá triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, ngành trong việc triển khai chính sách dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc.

Cùng với đó, các đối tượng chống phá tiếp tục lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người dân tộc thiểu số, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn.

Nguy hiểm hơn, các thế lực phản động tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để dẫn dụ, kích động, lôi kéo người dân đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, tỉnh táo nhận diện những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch thực hiện dưới danh nghĩa quyền dân tộc tự quyết để có những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả.

CẢNH GIÁC VỚI MẶT TRÁI CỦA CÁC NỀN TẢNG VIDEO NGẮN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Mặc dù một số nền tảng video ngắn đã cải tiến thuật toán nhằm ngăn ngừa các nội dung độc hại tiếp cận người dùng nhưng các nỗ lực này dường như mới chỉ nhằm xoa dịu dư luận và đối phó với các cơ quan chức năng. Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video xấu vẫn tràn ngập trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.

Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút.

Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như: nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.

Trong tháng 9, số tiền mà người dùng Việt Nam có thể nhận được từ việc mời người quen đăng ký mới tài khoản TikTok lên tới 8 triệu đồng. Bằng cách thức này, TikTok đã thu hút được lượng người dùng khổng lồ với hơn 1,1 tỷ người. Trong danh sách các nền tảng video ngắn, TikTok chỉ đứng sau Instagram về lượng người tương tác thường xuyên nhưng được đánh giá là ứng dụng tạo ra thu nhập tốt nhất cho các nhà sáng tạo nội dung. Tính riêng tại thị trường Việt Nam, có khoảng gần 50 triệu người sử dụng TikTok.

Song thành công của TikTok được tạo dựng bởi các thuật toán bị nhiều chuyên gia, nhà khoa học cảnh báo là có nguy cơ gây nghiện cho người sử dụng. Mặt khác sự xuất hiện tràn lan các video ngắn tác động không nhỏ đến vấn đề tiếp nhận, dần dần làm thay đổi thói quen, hành vi của người dùng mạng, như việc đọc hiểu hời hợt lệ thuộc sự dẫn dắt của video ngắn thay cho sự tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề của đời sống.

Bên cạnh đó TikTok cũng không hiệu quả trong việc ngăn chặn các video có nội dung độc hại, nhảm nhí, thậm chí cả tin giả. Mới đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố hàng loạt sai phạm của TikTok trong việc cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam như thông tin giả mạo, xuyên tạc, kích động bạo lực, kích động tệ nạn xã hội; thông tin gây hại cho trẻ em...

Theo nhận định của cơ quan chức năng, quy trình kiểm duyệt nội dung của TikTok chưa hiệu quả, để lọt nhiều nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam. Cách thức phân phối, đề xuất nội dung của TikTok dựa trên sự tương tác, sở thích, mối quan tâm của người dùng dễ dẫn đến việc nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam được lan truyền với tốc độ nhanh chóng nếu được nhiều người dùng tương tác quan tâm... Ở chiều ngược lại, TikTok cũng thừa nhận các hành vi vi phạm tại Việt Nam và có biện pháp khắc phục cụ thể qua việc chặn, gỡ tài khoản, kênh theo yêu cầu của cơ quan quản lý đồng thời cải tiến một số thuật toán.

Dù TikTok đã có một số thay đổi trong thuật toán nhằm ngăn chặn các nội dung chống phá Ðảng, Nhà nước Việt Nam tuy nhiên để đối phó với bộ lọc của TikTok, một vài đối tượng xấu bắt đầu sử dụng chiêu trò soạn thảo các văn bản chống phá chế độ, bôi nhọ lãnh tụ trên nền video thay vì lồng ghép hình ảnh, âm thanh hay thể hiện ở phần ghi chú nội dung như trước đây. Do đó, số lượng video chống phá tuy có chiều hướng giảm nhưng chưa thực sự triệt để. Bên cạnh đó, TikTok chưa có động thái trong việc ngăn chặn, giảm các luồng thông tin tiêu cực. Các thuật toán liên tục gợi ý hàng loạt xu hướng video nhảm nhí phản cảm. Nhiều video có hình ảnh, nội dung, chứa bình luận xâm phạm quyền trẻ em cũng liên tục được chia sẻ trên mạng xã hội này.

Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn chứa nội dung xấu, độc không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel. Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Một số mạng xã hội lớn không hề giấu giếm việc họ đang phát triển các thuật toán gây nghiện giống như TikTok.

Ðiều đáng nói là phần lớn ứng dụng video ngắn trên không gian mạng hiện nay có chính sách và biện pháp quản lý vô cùng lỏng lẻo. Trong đó, có thể điểm tên một số ứng dụng như Bigo Live, Likee. Cả hai ứng dụng video ngắn này đều bị cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia cáo buộc chứa các nội dung không phù hợp với trẻ em, bên cạnh các rủi ro về dữ liệu cá nhân.

Bên cạnh đó, các kho phần mềm trực tuyến còn chứa rất nhiều ứng dụng video ngắn đến từ các nhà phát triển không rõ nguồn gốc. Trong số này, có không ít ứng dụng ngang nhiên quảng cáo các tính năng khiêu dâm, gợi dục để câu kéo người sử dụng. Số khác thu hút người dùng ứng dụng bằng chiêu trò xem video ngắn để nhận tiền ảo, có thể quy đổi ra tiền mặt. Không chỉ vậy, một số nhà phát triển của bên thứ ba cũng cung cấp các phần mềm, ứng dụng cho phép tải về các video ngắn từ mạng xã hội. Ðây được xem là công cụ giúp đối tượng xấu có thể nhanh chóng lưu trữ các video độc hại, vi phạm bản quyền trước khi nhà cung cấp dịch vụ phát hiện và xóa bỏ những nội dung này.

Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.

Minh chứng rõ nhất là việc Bộ Thông tin và Truyền thông phải kéo dài thời gian kiểm tra toàn diện TikTok so với dự tính ban đầu khi phát hiện đơn vị cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam là TikTok Pte.Ltd (TikTok Singapore) chứ không phải là công ty TikTok và văn phòng TikTok tại Việt Nam. Tương tự, một số ứng dụng như Likee, Bigo Live có hỗ trợ đa ngôn ngữ, bao gồm tiếng Việt và được phát hành trên nền tảng phân phối kỹ thuật số Appstore, CHPlay tại Việt Nam nhưng đơn vị cung cấp dịch vụ trực tiếp lại có trụ sở tại Singapore, còn công ty mẹ có trụ sở tại Trung Quốc. Theo chính sách của hai ứng dụng này, các vấn đề pháp lý và tranh chấp chỉ được giải quyết theo quy định của pháp luật Singapore.

Thực tiễn này cho thấy việc quản lý các nền tảng video ngắn tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Do đó, các cơ quan chức năng cần có những biện pháp tổng thể trong cấp phép và quản lý, đưa ra biện pháp phối hợp với các nền tảng video ngắn nói riêng, mạng xã hội nói chung trong ngăn chặn các nội dung xấu, độc, bao gồm các quy định pháp luật, chế tài yêu cầu các mạng xã hội phải chứng minh và cam kết không gây hại cho người sử dụng. Ðồng thời cần đưa ra các hình phạt thích đáng đối với đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội vi phạm những quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.

Mới đây, tại dự thảo Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đề xuất nhiều nội dung quan trọng, nhấn mạnh đến việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin xuyên biên giới cho người dùng tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến Việt Nam. Một điểm đáng lưu ý là dự thảo cũng đề cao quyền lợi chính đáng của người dùng mạng xã hội khi yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới phải có bộ phận chuyên trách giải quyết khiếu nại và phản hồi của người dùng mạng Việt Nam.

Theo đó, "trong thời gian 48 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại của người dùng Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp thông tin xuyên biên giới phải xử lý bằng biện pháp tạm khóa các nội dung, dịch vụ, ứng dụng bị khiếu nại có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và thực hiện gỡ bỏ nội dung, dịch vụ, ứng dụng khi có thông tin xác minh vi phạm theo quy định tại khoản 1 Ðiều 8 Luật An ninh mạng, khoản 1 Ðiều 5 Nghị định này" (điểm h, khoản 3, Ðiều 26 Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 72/2013/NÐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng và Nghị định 27/2018/NÐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 72/2013/NÐ-CP). Ðây là quy định quan trọng phù hợp với thực tế vì cho đến nay hầu hết mạng xã hội xuyên biên giới tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc tháo, gỡ các nội dung xấu, độc theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

Trong trường hợp người xem phản ánh nội dung vi phạm, các nền tảng này chỉ tiến hành ẩn video ấy với chính người dùng đó. Khi các nội dung này được hiện thực hóa, hiện tượng "né tránh pháp luật" của các mạng xã hội xuyên biên giới nói chung, ứng dụng video ngắn nói riêng chắc chắn sẽ được giải quyết triệt để. Tuy nhiên về lâu dài, chính phủ các quốc gia cần thông qua những hiệp ước, cơ chế hợp tác chung nhằm quản lý có hiệu quả các nền tảng xuyên biên giới như TikTok, Facebook, YouTube.

Ngày 25/8/2023, Ðạo luật Dịch vụ kỹ thuật số (DSA) và Ðạo luật Thị trường kỹ thuật số (DMA) của Liên minh châu Âu (EU) chính thức có hiệu lực, hướng đến mục tiêu bảo đảm an toàn cho người dùng trực tuyến và ngăn chặn việc lan truyền nội dung độc hại vừa bất hợp pháp vừa vi phạm điều khoản dịch vụ của nền tảng xuyên biên giới. Theo đó, có khoảng 20 nền tảng trực tuyến, bao gồm các ứng dụng chia sẻ video đã cam kết tuân thủ các quy định mới của EU. Ðây có thể xem là một bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và các quốc gia trong khu vực đối với việc liên kết để phòng, chống các tác hại từ nền tảng video ngắn nói riêng, mạng xã hội nói chung.

Song song với quá trình rà soát, bổ sung quy định về quản lý các nền tảng cung cấp thông tin xuyên biên giới, cần tiếp tục tuyên truyền nâng cao ý thức người dùng các ứng dụng video ngắn để tạo "sức đề kháng" trước các nội dung bẩn; khuyến khích người dùng phản ánh về các video vi phạm pháp luật nhà nước, vi phạm chính sách cộng đồng của mạng xã hội bằng cách gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến cơ quan chức năng...

(Nguồn: Báo Nhân dân)

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ QUEN THUỘC “TỪ HIỆN TƯỢNG CÁ BIỆT QUY KẾT THÀNH BẢN CHẤT”

 

Chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu lâu dài, xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực chống phá thường theo dõi rất sát diễn biến về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta. Do vậy, mỗi khi có vấn đề nào đó xảy ra hay có hiện tượng nào đó phát sinh, các thế lực nhanh chóng quy kết, chụp mũ để nâng cao quan điểm, thổi phồng, bóp méo sự thật. Đó là bản chất của thủ đoạn quy kết các hiện tượng cá biệt thành bản chất rồi lớn tiếng quy chụp, rêu rao nhằm tạo sự chú ý của dư luận, dọn đường cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thực hiện các mưu đồ chống phá.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của các sự vật; còn bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng và bản chất là một cặp phạm trù có mối quan hệ biện chứng, trong đó bản chất luôn luôn được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định; không có bản chất tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng, đồng thời cũng không có hiện tượng nào mà không biểu hiện bản chất. Nhấn mạnh sự thống nhất này, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”.

Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định sự vận động, phát triển của sự vật. Do vậy, nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng, mà phải tiến đến bản chất của sự vật. Điều này cũng được V.I. Lê-nin chỉ rõ như sau: “Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng bản chất”. Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức bản chất của sự vật. Đó là, không thể xuất phát từ những hiện tượng cá biệt, đơn lẻ mà quy kết là bản chất của sự vật bởi đây là biểu hiện của bệnh chủ quan, duy ý chí của chủ thể nhận thức. Ấy vậy mà, thời gian qua, những kẻ phản động, cơ hội chính trị hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tình lờ đi những nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức bản chất của sự vật nên thường xuyên dùng chiêu bài quy chụp hiện tượng cá biệt thành bản chất. Điển hình như những sự việc sau:

Một là, xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô mà quy kết cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một học thuyết khoa học.

Năm 1991, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô sau hơn 74 năm ra đời đã sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu. Đây được coi là “chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX” và là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lên tiếng quy chụp, phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là ảo tưởng, sai lầm. Họ rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác vì “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”; “chủ nghĩa Mác - Lê-nin đưa ra các nguyên tắc “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ”(?!)... Những luận điệu nguy hiểm đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với mưu mô phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác, từ đó kêu gọi các nước không nên đi theo con đường phát triển chủ nghĩa xã hội. Đối với Việt Nam, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở nước ngoài đã lên tiếng quy chụp “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”; hay con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”. Từ đó, các phần tử cơ hội chính trị lên tiếng kêu gọi Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà các nước xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô, Đông Âu đã đi qua để phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa!

Hai là, từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà quy kết cả đội ngũ cán bộ, đảng viên “thoái hóa”, “biến chất”.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng được coi là một cái cớ để các thế lực nắm lấy nhằm thổi phồng, quy chụp đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta. Từ hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện vi phạm, bị xử lý kỷ luật, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lớn tiếng quy chụp rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay đã “thoái hóa về tư tưởng, suy đồi về phẩm chất đạo đức, lối sống, không giữ được “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như lời dạy của Bác Hồ”.

Gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ hàm hồ cho rằng, tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam và cáo buộc tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc Đảng cầm quyền”. Ngoài ra, các thế lực phản động còn đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Từ những lập luận kiểu quy chụp hiện tượng thành bản chất nêu trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Những phần tử phản động đã ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”.  Nguy hại hơn, các thế lực thù địch còn võ đoán bằng những luận điệu hết sức thâm hiểm: “Trước tình hình cai trị độc tài, không hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”!

Ba là, xuất phát từ những hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam “mất hết vai trò lãnh đạo”.

Trong thời gian qua, từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 mà Việt Nam đặt ra cách đây nhiều năm đã không đạt được, các thế lực thù địch lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả. Trên nhiều diễn đàn, nhất là mạng xã hội, với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các phần tử cơ hội chính trị đã lớn tiếng rêu rao “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo” và lên tiếng khuyên Việt Nam cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”!

Gần đây, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến phức tạp, trên các kênh truyền thông và mạng xã hội của lực lượng phản động nước ngoài quy chụp rằng “Việt Nam đã mất khả năng phòng, chống dịch” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể chống đỡ trước cơn bão dịch”... Những luận điệu này được rêu rao khắp nơi hòng làm giảm sút uy tín và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào vai trò, vị thế và uy tín của Đảng.

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất là một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên thực hiện nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Nhận diện bản chất của thủ đoạn đó để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm là cách mỗi chúng ta đấu tranh với những thủ đoạn chống phá đó, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay./.

LẬT TẨY BẢN CHẤT CỦA TỔ CHỨC “CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI”

 

Liên quan đến tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, trước đó, đã có 25 vụ án với 100 đối tượng tham gia tổ chức bị tuyên phạt với mức án từ 10-16 năm tù… Đây sẽ là bài học và cái giá phải trả cho những kẻ vì bị tiêm nhiễm và mù quáng tin theo luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, sùng bái Đào Minh Quân và thực hiện các hoạt động tuyên truyền, chống phá theo chỉ đạo của tổ chức này. Căn cứ vào các tài liệu thu thập được, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Gia Lai đã chuyển hồ sơ vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” sang VKSND tỉnh Gia Lai để truy tố theo quy định của pháp luật.

Có 10 bị can bị truy tố gồm Phan Thị Thảo (SN 1957, HKTT tại phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; tạm trú tại huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai); Trần Thiện (SN 1972); Cao Thị Ngọc Diễm (SN 1969); Trần Thị Kim Loan (SN 1962); Trần Huệ Chân Vương (SN 1971, đều thường trú tại TP Hồ Chí Minh); Vũ Đình Lan (SN 1973, trú tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu); Tạ Văn Triệu (SN 1974, trú tại tỉnh Bến Tre); Huỳnh Thị Khánh Trang (SN 1977, ở tại Kiên Giang); Trần Thọ (SN 1957, trú tại tỉnh Thừa Thiên Huế) và Cao Cương (SN 1972, trú tại xã Bình Tiến, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên

Phần lớn các bị can trong vụ án có trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật, nhận thức chính trị phiến diện, lệch lạc và nhiều hạn chế khác; một số bị can không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn và bất mãn với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất. Các trường hợp này thường xuyên lên mạng Internet, các trang mạng xã hội để đọc, xem các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, đả kích, nói xấu, bôi nhọ Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh; đồng thời bị các thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” câu móc, tuyên truyền, dụ dỗ, lôi kéo, cổ xuý kêu gọi tham gia thực hiện “Trưng cầu dân ý” bầu Đào Minh Quân làm “Tổng thống”;… hứa hẹn cấp đất, cấp nhà, chăm lo cho người dân nghèo có cuộc sống ấm no. Từ đó, các bị can bị tiêm nhiễm và mù quáng tin theo luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc; sùng bái cá nhân Đào Minh Quân nên đã nảy sinh tư tưởng lệch lạc, bất mãn, thù ghét đối với chính quyền, Nhà nước Việt Nam mà đồng ý tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và thực hiện các hoạt động tuyên truyền, chống phá theo chỉ đạo của tổ chức này.

Cầm đầu ổ nhóm này là Phan Thị Thảo. Năm 2016, xảy ra sự kiện cá chết hàng loạt tại một số tỉnh miền Trung liên quan khu công nghiệp Fomosa_Hà Tĩnh. Trong sự kiện này, Thảo đã thường xuyên đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, nhằm thể hiện quan điểm bài trừ Trung Quốc tại Việt Nam trên mạng xã hội Facebook. Trong quá trình lên mạng Internet, đối tượng đã kết bạn với nhiều người có cùng quan điểm và bắt đầu nghiên cứu, chia sẻ những bài viết, hình ảnh về tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Khoảng tháng 12/2016, thông qua sự giới thiệu của người sử dụng Facebook, Thảo kết bạn với Kelly Triệu (Kelly Triệu Thanh Hoa, tự xưng là “Chuẩn tướng”, “Trợ lý cho Thủ tướng Đào Minh Quân”). Từ đó, đối tượng được tuyên truyền về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; về Quân và vận động đăng ký tham gia tổ chức.

Từ năm 2017 đến tháng 6/2022, Thảo đã sử dụng nhiều bí danh; được giữ nhiều vị trí, chức vụ như Viện trưởng Viện Chiêu hiền, Giám đốc Nha tổng Thanh tra quân lực Việt Nam Cộng hoà; thành viên Viện nghiên cứu chính trị; thành viên Chương trình Thông tin và Truyền thông; thành viên Hội đồng Tuyên- Nghiên huấn thuộc “Hội phụ nữ Tân dân chủ toàn cầu” và đại biểu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” khu vực Gia Định. Sau đó, do nhận thấy các vị trí, chức vụ khác nhau không thực chất và chỉ giữ vai trò là thành viên nên Thảo tập trung thực hiện chức vụ “Viện trưởng Viện Chiêu hiền”. Đối tượng sau đó đã sử dụng các tài khoản Facebook để tuyên truyền về Đào Minh Quân; tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; đào tạo, huấn luyện các thành viên khác nhằm xây dựng, phát triển tổ chức, lôi kéo, tuyển lựa, phát triển thành viên trong nước cũng như hỗ trợ các thành viên khác thực hiện “Trưng cầu dân ý”.

Để đào tạo, huấn luyện các thành viên nhằm xây dựng, phát triển tổ chức, từ tháng 5/2019, Thảo bắt đầu tham gia họp trực tuyến qua ứng dụng FCC ở nhiều nhóm khác nhau và thường xuyên liên lạc, trao đổi với các thành viên chủ trì các cuộc họp FCC như Huệ Lâm- Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Hoàng Tôn-Tổng cục trưởng Cục chiến tranh chính trị; Tammy Thắm Huỳnh- Trưởng Ban hồ sơ; Võ Kim Lan – Trưởng phụ trách Đoàn nữ quân nhân Quân lực Việt Nam cộng hoà… Cùng với đó là hoạt động phát triển tổ chức, từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2021, qua giới thiệu của các thành viên khác và từ mạng xã hội Facebook, Thảo đã tuyên truyền, lôi kéo và giúp nhiều trường hợp ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai và Tiền Giang làm hồ sơ, thủ tục tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Ngoài ra, đối tượng còn tham gia hỗ trợ các thành viên khác thực hiện “Trưng cầu dân ý” cho nhiều người theo đề nghị giúp đỡ của 2 thành viên khác là Nguyễn Hữu Thuận (Đồng Tháp) và Trần Thọ (Thừa Thiên Huế). Trong đó, đáng chú ý tại Gia Lai, đối tượng đã tự ý lấy thông tin của chị N.T.S ở huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, một người làm nghề buôn bán rau tự do để thực hiện “Trưng cầu dân ý” mà không cho bà này biết…

Trường hợp thứ hai là Trần Thiện. Đầu năm 2017, đối tượng này bắt đầu tìm hiểu về tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” qua các video giới thiệu trên youtube. Từ đó, Thiện tiếp cận các nội dung tuyên truyền về tổ chức như sẽ bố trí việc làm, cấp nhà, hưởng nhiều chế độ tốt, có cuộc sống sung sướng cho người tin, theo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… Từ các đường link, Thiện bắt đầu truy cập tìm hiểu các nội dung. Đến cuối năm 2017, đối tượng Thiện được duyệt là thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nhưng chưa có bí danh, bí số. Thời gian sau đó, Thiện thường xuyên tìm hiểu về tổ chức và tiểu sử của Quân nên đã được tổ chức phong cấp bậc “Thiếu tá” và tự chọn bí danh hoạt động của mình là “Lê Hoàng Phúc”. Đến đầu năm 2021, Thiện được vinh thăng từ “Thiếu tá” lên “Trung tá”. Tương tự như bị can Thảo, Thiện chủ yếu thực hiện nhiệm vụ là thành viên “Viện Chiêu hiền”; tích cực tham gia nhóm họp FCC trên nhóm của “Viện Chiêu hiền” và thực hiện các nhiệm vụ do Thảo giao…

Bị can Cao Thị Ngọc Diễm bắt đầu tìm hiểu về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” từ khoảng cuối năm 2018, qua các video trên youtube. Từ đó, tiếp cận các nội dung tuyên truyền như tham gia tổ chức sẽ được cấp nhà, có việc làm; được miễn phí khám chữa bệnh, đi học; được hưởng nhiều chế độ tốt, có cuộc sống sung sướng… Đầu năm 2019, Diễm đã kết bạn với Hoàng Tôn và tự gửi hồ sơ đăng ký tham gia vào tổ chức nhưng vào thời điểm đó chưa được chấp nhận do chưa tham gia “Trưng cầu dân ý”.

Sau đó, vào cuối năm 2019, với sự giúp đỡ của Hoàng Tôn, Diễm tham gia “Trưng cầu dân ý” và được cấp mã “căn cước”. Từ đó, đối tượng thường xuyên liên lạc với “Huệ Lâm” để nhờ đăng ký làm thành viên của tổ chức. Từ cuối năm 2019 đến cuối năm 2020, ngoài là thành viên “Truyền thông công lý”, Diễm còn là thành viên “Hội phụ nữ Việt Nam Tân dân chủ toàn cầu” với cấp bậc “Đại biểu”, bí danh “Huỳnh Như Ngọc”… Diễm chủ yếu hoạt động tại “Ban Thông tin – báo chí nội địa” với nhiệm như soạn thảo bài viết theo chủ đề do tổ chức phân công để ghi âm gửi cho tổ chức biên tập video đăng lên các kênh truyền thông của tổ chức; đăng tải, chia sẻ các bài viết liên quan đến tổ chức nhằm tuyên truyền cho nhiều người biết… Đối tượng này đã được 4 thành viên “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chuyển tổng cộng 1.900 USD; 3500 AUD (đô la Úc), 400 EUR (đồng tiền chung Châu Âu). Ngoài ra, đối tượng còn nhận tiền của một số người khác…, số tiền nhận được, đối tượng đã dùng để tiêu xài cá nhân.

Trong tổ chức này, không thể không nhắc đến Trần Thọ và Cao Cương. Trần Thọ là thành viên tinh thần ở trong nước có nhiệm vụ trông coi “Mộ Cao Cao tổ” của dòng họ Đào Minh Quân ở tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị can có mối quan hệ với nhiều thành viên cốt cán ở bên ngoài cũng như thành viên trong nước; đồng thời tích cực thu thập thông tin thực hiện “Trưng cầu dân ý” ủng hộ Đào Minh Quân, tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại nhiều tỉnh, thành phố ở trong nước.

Trước đó, liên quan đến tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đã có 25 vụ án với 100 đối tượng tham gia tổ chức bị tuyên phạt với mức án từ 10-16 năm tù. Gần đây nhất, ngày 18/4, TAND TP Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt 12 bị cáo phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Tại phiên toà này, không ít bị cáo đã rơi nước mắt, ân hận về hành vi phạm tội đã gây ra.

Và trong thời gian tới, 10 bị can trong vụ án Phan Thị Thảo cùng đồng phạm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân xảy ra tại các tỉnh Gia Lai, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được đưa ra xét xử. Những mức án nghiêm minh của pháp luật sẽ là bài học cảnh tỉnh cho không ít người còn nhẹ dạ, tin theo những lời hứa hẹn viễn vông của Quân.