Thời gian qua, các thế
lực thù địch không ngừng xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam,
cố tình đánh tráo khái niệm nhằm đồng nhất “quyền dân tộc tự quyết” với “quyền
dân tộc thiểu số” để chống phá Đảng, Nhà nước cũng như khối đại đoàn kết dân
tộc. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần nhận thức và thực hành đúng đắn
quyền dân tộc tự quyết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Mặc dù có liên hệ mật thiết với nhau song
“quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau.
Theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế “quyền dân tộc tự quyết” là
quyền của các quốc gia-dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội theo con đường mình lựa chọn
trên cơ sở thiết lập chủ quyền quốc gia. Một trong những mục đích, tôn chỉ hoạt
động được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đó là:
“Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên
tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp
khác để củng cố hòa bình thế giới”.
Năm 1966, lần đầu tiên “quyền dân tộc tự
quyết” được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đó là Công ước về các Quyền
Dân sự và Chính trị, Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Đặc biệt
tại Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết 2625 (XXV) năm 1970 đã chỉ rõ nội
hàm của “quyền dân tộc tự quyết” (hay còn gọi là nguyên tắc tự quyết của các
dân tộc) với các điểm mấu chốt như sau:
Một là “tất cả các dân tộc có quyền tự do
quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và
văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài”.
Hai là “việc thành lập một quốc gia độc lập
có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc
dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là
các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy”.
Ba là “không một điều nào được nói đến ở
trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến
việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự
thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp
với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập
đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống
trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng
tộc”…
Liên quan “quyền dân tộc thiểu số”, tại
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Đại hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 1948
khẳng định rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi,
có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1) và
“Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân
biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi
hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2).
Đồng thời tại Công ước về các Quyền Dân sự
và Chính trị năm 1966 quy định những người thuộc dân tộc thiểu số ở bất kỳ quốc
gia-dân tộc nào cũng có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội như những người thuộc dân tộc đa số ở chính các quốc gia-dân tộc
đó, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Như vậy, có thể khẳng định “quyền dân tộc
tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau, liên quan các đối
tượng khác nhau. Khi đề cập về “quyền dân tộc tự quyết” là muốn nói đến quyền
lợi của một quốc gia-dân tộc so với các quốc gia-dân tộc khác trên thế giới.
Cụ thể, khi một quốc gia có nguy cơ bị các
quốc gia khác xâm hại hoặc cản trở việc thực hiện quyền này thì toàn thể các
dân tộc tại quốc gia đó phải đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không
khoan nhượng để bảo vệ “quyền dân tộc tự quyết” của mình. Còn khi đề cập “quyền
dân tộc thiểu số” là nói đến quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong nội bộ
của một quốc gia độc lập, thống nhất. Theo đó, các quốc gia phải có trách nhiệm
bảo đảm cho các dân tộc thiểu số sinh sống tại quốc gia mình được hưởng đầy đủ
các quyền “dân tộc thiểu số” phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, luật pháp của quốc
gia.
Tuy nhiên, lợi dụng thực tế Việt Nam là một
quốc gia đa dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, còn lại là
dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc chiếm 13% dân số), cùng với đó là sự nhận thức
chưa đầy đủ về “quyền dân tộc tự quyết” của nhiều người dân, nhất là đồng bào
dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế-xã hội còn kém phát triển và
trình độ dân trí chưa cao, các thế lực thù địch, phản động đã tìm cách đánh
tráo nhằm đồng nhất hai khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc
thiểu số”. Mục đích mà chúng muốn hướng đến là chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, kích động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện “quyền dân tộc tự quyết”
bằng cách ly khai, bạo loạn, đòi quyền tự trị, tự quản với nhiều thủ đoạn tinh
vi, thâm độc.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước cùng những chủ trương, chính sách đúng đắn, đời sống của người dân,
nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện về mọi mặt,
theo đúng phương châm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động,
phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo
chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc
thiểu số… Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào
dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền
vững”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được, trên thực tế tại một số địa phương việc giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn
những hạn chế, thiếu sót nhất định với các biểu hiện: Việc tổ chức thực hiện
các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở một số địa phương
còn yếu kém; công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở, chưa gần dân, sát dân,
chưa kịp thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc
thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; chậm phát hiện
và xử lý các vụ việc phức tạp trên địa bàn…
Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù
địch, phản động đã phủ nhận toàn bộ những thành tựu to lớn của Việt Nam trong
thực hiện chính sách dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ,
nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ép người đồng
bào dân tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hóa truyền thống” để hòa nhập với
“cuộc sống văn minh, tiến bộ” của người Kinh; tuyên truyền sai lệch về quyền
dân tộc tự quyết để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, từ đó
từng bước làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Để phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả những
thủ đoạn lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá đất nước, các cấp chính
quyền, cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể cần triển khai thực hiện đồng
bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để
cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đồng bào dân tộc thiểu số nâng
cao cảnh giác, hiểu đúng, hiểu rõ và thực hành đúng “quyền dân tộc tự quyết”
theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như luật
pháp Việt Nam. Khi người dân đã hiểu đúng về “quyền dân tộc tự quyết” thì sẽ
không còn cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.
Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm
tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước lợi dụng thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các hoạt
động “từ thiện”, “nhân đạo” trá hình để tuyên truyền sai lệch về vấn đề thực
hiện “quyền dân tộc tự quyết” từ đó mua chuộc, vận động, thậm chí ép buộc người
đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi gây rối, bạo loạn, đòi ly khai, tự
trị. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đòi hòi chính
đáng và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu
số, góp phần củng cố niềm tin của họ với Đảng, Nhà nước.
Song song đó, phải tiếp tục hoàn thiện
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân
tộc và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách này góp phần bảo
đảm các quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện
một cách đầy đủ, trên nguyên tắc các dân tộc thật sự bình đẳng, đề cao tinh
thần thống nhất và khối đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng những điểm khác biệt
của các dân tộc về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
Đồng thời, cần tăng cường thực hiện hiệu
quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo đa
chiều bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới, hải đảo còn đặc biệt khó khăn. Chỉ khi đời sống vật chất và
tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao
về mọi mặt, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa
người miền xuôi và người miền núi, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào
Kinh thì mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, tiến bộ của xã hội, giải quyết
triệt để, hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá của các thế
lực phản động, thù địch./.
(Nguồn:
Báo Nhân dân)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét