Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Là một bộ phận của thế hệ trẻ Việt Nam, thanh niên Quân đội là lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, lực lượng bổ sung, kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội. Với tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuổi trẻ Quân đội luôn xung kích, đi đầu trong các phong trào của thanh niên cả nước; chủ động, tích cực trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, làm lan tỏa, phát huy phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặc biệt, thanh niên Quân đội luôn nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức Đoàn các cấp trong toàn quân đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nhiều hình thức giáo dục đã được triển khai sáng tạo như: Tọa đàm, diễn đàn, sinh hoạt câu lạc bộ lý luận trẻ, sân khấu hóa, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin (giáo dục qua mạng Internet, hội thi kết hợp trực tiếp và trực tuyến...). “Các đơn vị chủ động nắm, quản lý, giải quyết tình hình tư tưởng, định hướng dư luận trong thanh niên; động viên thanh niên Quân đội tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên.
Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt;…
Để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực tuyên truyền cho thanh niên Quân đội về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” cho đoàn viên, thanh niên trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 các cấp về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới; nhất là những luận điểm chống phá đối với Quân đội hiện nay. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các cấp về hoạt động quản lý, sử dụng điện thoại, internet và mạng xã hội trong Quân đội, như: Luật An ninh mạng năm 2018; Thông tư số 202/2016/TT-BQP, ngày 12/12/2016 quy định bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội; Chỉ thị số 1492/CT-BV, ngày 17/9/2013 của Tổng cục Chính trị về tăng cường quản lý các trang mạng xã hội trên internet trong Quân đội;… Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thanh niên Quân đội.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường bồi dưỡng những vấn đề cốt lõi về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thanh niên Quân đội có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn kiên định, tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Hướng dẫn số 824/HD-TN, ngày 25/9/2018 của Ban Thanh niên Quân đội về việc thanh niên Quân đội tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho thanh niên về việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chú trọng phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh; bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng khai thác, sử dụng tiện ích của các phần mềm, trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube,… để chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài chuyên sâu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Ba là, phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội.
Tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm. Đặc biệt, cần phát huy tốt trách nhiệm của tổ chức Đoàn trong quản lý, điều hành, quan tâm chăm lo giải quyết nguyện vọng chính đáng của thanh niên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho cán bộ, đoàn viên thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh gắn với phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở trong Quân đội; xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh; từ đó xây dựng hình mẫu người thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Quân đội và của Đoàn, xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, quan tâm, khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch nói riêng để thanh niên Quân đội thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, xứng đáng là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.
ST

ÂM MƯU CƠ BẢN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG


Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các học giả tư sản ngồi đếm từng thời khắc về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cùng lắm chỉ tồn tại đến cuối thế kỷ XX. Thế nhưng, công cuộc đổi mới do Đảng Công sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Việt Nam không những đứng vững trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà còn đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Điều này càng làm cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch điên cuồng chống phá, đồng thời coi Việt Nam là trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH CHỐNG THUYẾT “VŨ KHÍ LUẬN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY


 

Trong thế giới ngày nay, xu thế hòa bình, hợp tác phát triển đan xen với đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang vẫn tồn tại với tính chất ngày càng phức tạp (xung đột giữa Nga và Ukraina, Cuộc xung đột Israel - Hamas thời gian gần đây đã đặt ra những thách thức an ninh mới, nhất là với những quốc gia vừa và nhỏ). Khoa học công nghệ, trong đó có khoa học công nghệ quân sự ngày càng phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự ra đời của vũ khí công nghệ cao, làm thay đổi nhiều quan điểm về cách thức chuẩn bị và tiến hành chiến tranh truyền thống. Điều đó đã và đang đặt ra những vấn đề rất cấp thiết trong lý luận về mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Đặc biệt, các thế lực thù địch, kẻ cơ hội chính trị đã lợi dụng để xuyên tạc, chống phá Quân đội, đưa ra những quan điểm sai trái, trong đó có thuyết “vũ khí luận”- bản chất là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí trang bị, xem nhẹ nhân tố con người. Thuyết “vũ khí luận” thể hiện sự bế tắc chính trị là một phần của âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm giảm sức chiến đấu của Quân đội ta. Vì thế, nhận diện và đấu tranh chống thuyết “vũ khí luận” là yêu cầu cấp thiết, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí, nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân ta, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Cảnh giác những chiêu trò xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên

 Tây nguyên là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung hoạt động chống phá trên nhiều mặt, nổi lên gần đây là hoạt động xuyên tạc về tôn giáo do các đối tượng FULRO lưu vong thực hiện…

Thầy cô sính ngoại - nguy hại khôn lường

 

Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giúp những người làm công tác giáo dục ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội đi nước ngoài giao lưu, học tập, nghiên cứu để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu thêm kho tri thức của bản thân, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.

Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, vì “địch đứng trong bóng tối, ta đứng ngoài ánh sáng; địch có năm, bảy kẻ thù với nhiều âm mưu, thủ đoạn, được sự hậu thuẫn của tài chính, khoa học - kỹ thuật còn ta vẫn chỉ là một nước đang phát triển”. Tuy nhiệm vụ khó khăn như vậy, nhưng thực tế cho thấy, những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ vẫn còn nhiều hạn chế.

Về nhân lực, hiện nay nước ta có đội ngũ đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học, trong đó nhiều người có trình độ chuyên môn giỏi, trình độ lý luận chính trị cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, nhất là in-tơ-nét và mạng xã hội, để đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên không gian mạng, thì một số chuyên gia, nhà khoa học lại chưa thực sự theo kịp sự phát triển của mạng xã hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị trong tình hình mới.

Những hạn chế về nguồn lực, phương tiện vật chất - kỹ thuật đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong thời gian qua. Những hạn chế đó làm cho việc thực hiện nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới được triển khai trên bề rộng. Ở một số nơi, có những thời điểm, việc thực hiện công tác đấu tranh còn chưa đi vào thực chất, chưa có hiệu quả rõ rệt, mới chủ yếu là xử lý tình huống nảy sinh, chứ chưa có chiến lược lâu dài và chưa thực sự giành được thế chủ động, nhất là trên không gian mạng./. 

Sự chống phá của các thế lực thù địch Với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến vô cùng nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tuy hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ yếu, song thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, như: “Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên”, các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn... Đặc biệt, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Điều này tiếp tục gây nên những khó khăn, cản trở rất lớn đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những “điểm nóng” trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm xuyên tạc tình hình phát triển của đất nước, mưu toan hướng lái những tư tưởng và hành động sai trái, gây chống đối, “bất tuân dân sự”, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội; từ đó lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã tận dụng tối đa phương tiện truyền thông, như in-tơ-nét, mạng xã hội cùng với hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở hải ngoại để phát tán các bài viết tuyên truyền xuyên tạc sai sự thật về Việt Nam, đồng thời đăng tải nhiều video clip xấu, độc lên Facebook, Youtube..., thư gửi, kiến nghị, tuyên bố, hội thảo của các tổ chức, cá nhân; trao giải thưởng của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và của các tổ chức phản động, đối lập; trả lời phỏng vấn, bình luận của các báo, đài... Sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt đó đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tâm lý, thái độ của một bộ phận Nhân dân, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên./.

Những luận điệu sai trái về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước ra sức chống phá, xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều (?!).

Các thế lực thù địch còn cho rằng, phải có sự chuyển hướng, “xoay trục” phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, theo nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vì kinh tế thị trường vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa (?!). Nếu “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “nước với lửa”, tạo thành “đầu Ngô mình Sở”, chỉ mang đến những thất bại (?!). Chúng suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường, mặc dù vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội (?!).

Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn./. 

Những luận điệu xuyên tạc về hình ảnh Hồ Chí Minh

 Xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị, chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất.

Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

 Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó có căn cứ để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng./.       

Những kết quả trong công tác cán bộ của Đảng

 Công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng./.    

Phản bác những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ

 Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ.

Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do Đảng (?!). Thế nhưng, đó chỉ là một số sự việc cá biệt, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, luôn cống hiến hết mình vì Nhân dân./. 

Bản chất phản động của Việt Tân

 Trên thực tế, Việt Tân đều đã phải nhận thất bại thảm hại. Trong đó chúng nhiều khi phải chịu những cái tát mạnh mẽ thẳng vào mặt từ sự thật. Trong quá trình chống phá, Việt Tân luôn tìm mọi thủ đoạn lôi kéo một số người theo chúng để chống phá cách mạng. Một số đối tượng ngoan cố theo Việt Tân tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam, đã bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Khi bị trừng phạt, nhiều đối tượng mới rõ bộ mặt thật của Việt Tân nên đã khai nhận, oán trách những kẻ lôi kéo, dụ dỗ, kích động mình. Có người đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của Việt Tân nên hối cải, thành thật khai báo, tố cáo Việt Tân, kêu gọi mọi người đừng có dại dột mà sai phạm như mình.

Việt Tân không thể và không bao giờ có thể làm thay đổi được sự bền chặt của ý Đảng, lòng dân, của lý tưởng, truyền thống, nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm, truyền thống tốt đẹp  của cách mạng Việt Nam. Chắc chắn còn cố tình chống phá, phản động Việt Tân sẽ còn phải chịu thất bại cay đắng hơn nữa, chịu những cái tát thẳng mạnh mẽ hơn nữa của pháp lý và đạo lý. Vì âm mưu, thủ đoạn, mục đích của chúng chỉ nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta, để đất nước Việt Nam yên bình, yêu quý của chúng ta bị rơi vào thảm cảnh, khổ đau. Ác độc và xấu xa như vậy thì làm sao Việt Tân cũng như các thế lực thù địch, phản động khác có thể làm hại sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng, tươi đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường mà Đảng, Bác Hồ, toàn dân, toàn quân ta đã sáng suốt lựa chọn./.  

Phản bác với những xuyên tạc của các thế lực thù địch

 Từ khi đất nước giành được độc lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết, đồng lòng giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước, con người Việt Nam đều được đổi mới, có nền chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh được tăng cường, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Về chính trị, từ một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc, Việt Nam đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Về kinh tế, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. Về văn hoá, nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội. Về đời sống xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Về giáo dục, chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Về quốc phòng - an ninh, tư duy của Đảng về quốc phòng - an ninh có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện. Về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thực hiện hiệu quả phương châm và định hướng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Thực tiễn đất nước ta từ khi giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” và trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Đó là những minh chứng hùng hồn, phủ nhận các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam./.      

Cảnh giác với những thông tin nhiễu loạn

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng.

Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.

Âm mưu gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch

 Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong đó, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là “mũi đột phá”.  Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v.      

Nhằm xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, họ cố tình lớn tiếng cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, nên cần phải thay đổi bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản. Đồng thời, ra sức tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, tự ngộ nhận rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột, v.v. Thông qua đó, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước cũng như mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhất là khi Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh xử lý các vụ án tham nhũng về kinh tếNgoài ra, chúng còn bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp./. 

Đấu tranh trước những biểu hiện thiếu văn hóa ở các đơn vị

 Quân đội với vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống, thì không thể để cho sự tồn tại của những biểu hiện phản văn hóa len lỏi trong môi trường hoạt động quân sự. Hiện nay, bên cạnh những tiêu cực bên ngoài xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, thì các thế lực thù địch ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung văn hóa xấu độc vào trong môi trường quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, v.v. Bởi vậy, nhận diện, nêu cao cảnh giác và đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị hiện nay cần được tiến hành chủ động, tích cực, kiên quyết với những giải pháp cơ bản đó là: Tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”; phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên; nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy, tăng cường kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm. 

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” đã có nền tảng ngay từ khi thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội hãy góp sức mình để nét đẹp truyền thống đó ngày càng được bồi đắp, trở thành giá trị vĩnh hằng. Không để “con sâu làm rầu nồi canh”; nêu cao cảnh giác nhận diện và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện phản văn hóa, không để văn hóa xấu độc thâm nhập vào đơn vị./. 

Đấu tranh trước những biểu hiện lệch lạc trong Quân đội

 Để đạt mục tiêu phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá Quân đội với các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Do vậy, cần chủ động đấu tranh ngăn ngừa mọi biểu hiện phản văn hóa để Quân đội luôn là môi trường mẫu mực, điển hình về văn hóa và là trung tâm giáo dục, rèn luyện bộ đội về phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Để nhận diện được các biểu hiện phản văn hóa, đòi hỏi mỗi người phải nâng cao nhận thức tới tầm lý trí, hòa nhập vào tư duy khoa học đạt tới sự trưởng thành của ý thức. Các biểu hiện phản văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, dưới rất nhiều diện mạo khác nhau, thường thể hiện ở những biểu hiện về lối sống, cách ứng xử về tính cá nhân, ích kỷ, vụ lợi xảy ra trong xã hội. Biểu hiện đầu tiên của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về phía cái sai, nhân danh cái sai, ủng hộ, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, hù dọa cái đúng. Phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa học, chống lại công lý và chân lý.

Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và sự phát triển của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, các biểu hiện phản giá trị văn hóa đang hằng ngày, hàng giờ tác động, thẩm lậu vào trong môi trường văn hóa quân sự. Nổi lên là những biểu hiện tiêu cực, như: bệnh thành tích, không trung thực, thiếu khách quan, minh bạch; một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, chế độ quy định của đơn vị. Các chuẩn mực văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, đồng đội có biểu hiện nhạt phai vẫn xảy ra, thiếu đi sự chuẩn mực trong mối quan hệ qua lại giữa quân nhân và tập thể quân nhân; xen vào đó là những quan hệ do lợi ích vật chất chi phối, v.v. Những giá trị phản văn hóa đó tác động không chỉ làm cho một số cán bộ, chiến sĩ, nhạt phai mục tiêu, lý tưởng, xa rời đạo đức cách mạng, mà còn làm suy giảm uy tín, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng Nhân dân./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam

        Trải qua 79 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta luôn khắc ghi và thực hiện nghiêm lời dạy của Người: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

        Xây dựng quân đội để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình

        Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng, cần phải tổ chức lực lượng vũ trang. Mục đích xây dựng quân đội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tự vệ dân tộc: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng”. Điều này cho thấy, quan điểm về bạo lực cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo và hòa bình.

        Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ những năm 1925-1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã mở các lớp đào tạo để chuẩn bị nguồn cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người đã xác định “tổ chức ra quân đội công nông”. Người từng khẳng định: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”. Do đó, quân đội ta ra đời phù hợp với quy luật khách quan, xuất phát từ chính nhu cầu, đòi hỏi do thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng, là kết quả từ quá trình phát triển của các tổ chức vũ trang của quần chúng.

        Tháng 10/1941, Người chỉ đạo mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó để tiến tới thành lập đội vũ trang cách mạng. Tại đây, Người đã trực tiếp tham gia huấn luyện và biên soạn các tài liệu giảng dạy quân sự quan trọng như: “Mười điều kỷ luật”; “Cách đánh du kích”; “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”…

        Thực hiện Chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của QĐND Việt Nam) ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân có 34 đội viên được biên chế thành một trung đội có 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Bài diễn văn tại buổi thành lập của đồng chí Võ Nguyên Giáp đã khẳng định quyết tâm của toàn thể các đội viên: “Bao nhiêu căm hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ đợi một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương máu ra làm công việc đó. Chúng ta sẽ vạch cho toàn dân con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy. Quân giải phóng sẽ tỏ ra mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng của dân tộc”.

        Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là một tất yếu lịch sử trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta; là bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng lúc đó. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử đất nước có một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

        Chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thành một đội quân cách mạng vững mạnh về mọi mặt

        Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thành một đội quân cách mạng vững mạnh về mọi mặt.

        Về tổ chức, Người cho rằng, phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo nhưng cũng phải có đầy đủ các thành phần dân tộc, vùng miền, người địa phương để nhằm phục vụ cho hoạt động sau này của Đội được thuận lợi.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, xây dựng đội quân chủ lực trước hết là về phẩm chất chính trị phải vững chắc, tư tưởng cách mạng đúng đắn, để có thể đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, làm cho quần chúng giác ngộ, tin tưởng và đi theo cách mạng. Người nhấn mạnh, quân sự phải phục tùng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

        Người đặc biệt coi trọng xây dựng con người với phương châm “Người trước, súng sau”, tức là con người là nhân tố quyết định: “vũ khí là cần nhưng con người vác vũ khí, sử dụng vũ khí là quan trọng hơn”.

        Về xây dựng lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Vệ quốc quân (bộ đội chủ lực), bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong Chỉ thị của Người về việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Người nêu rõ: “Sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực..., trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện”.

        Sau này, tư tưởng về lực lượng vũ trang ba thứ quân đã phát triển, trở thành mô hình tổ chức quân sự độc đáo, sáng tạo của Đảng ta, phù hợp với cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Qua đó, đã phát huy hiệu quả sức mạnh toàn dân đánh giặc; kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tác chiến của các binh đoàn chủ lực với sự nổi dậy của quần chúng; phát triển và vận dụng sáng tạo, linh hoạt các chiến thuật tác chiến để tiêu diệt địch ở mọi lúc, mọi nơi và bằng mọi vũ khí, làm cho các đội quân viễn chinh xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thế kỷ XX phải sa lầy, lần lượt thất bại trong thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, rộng khắp.

        Về nghệ thuật quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải huy động “tập trung lực lượng” coi đây là nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật chiến tranh. Nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; về chiến thuật phải “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”.

        Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân tố quyết định đến sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” (9). Do vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải không ngừng xây dựng, phát triển lực lượng, làm cho đội quân nhỏ bé ban đầu tiến lên nhanh chóng, trở thành một đội quân hùng mạnh. “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.

        Bản chất của QĐND Việt Nam là “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân chiến đấu”

        Về bản chất của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: "quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác" (11). Có thể thấy, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” chính là bản chất của quân đội cách mạng, là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu” (12). Bác luôn nhắc nhở, là quân đội của nhân dân, bộ đội phải sẵn sàng giúp đỡ nhân dân, nhưng tuyệt đối “không động đến cái kim, sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”.

        Tự hào về QĐND Việt Nam, Bác còn khẳng định, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người làm công tác dân vận giỏi, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất: “Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, làm tròn trách nhiệm của một quân đội cách mạng”.

        Không chỉ dõi theo mỗi bước trưởng thành của quân đội, cổ vũ, động viên cán bộ và chiến sĩ trước mỗi thắng lợi cũng như chia sẻ, rút kinh nghiệm trước mỗi trận ra quân chưa giành được thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư thăm hỏi, động viên, đồng cảm trước những mất mát, hy sinh  của các thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ... Đồng thời, Người cũng dành huy hiệu, những phần quà, cả cuốn sổ tiết kiệm của mình tặng các chiến sĩ... Người dành muôn vàn tình thương yêu cho tất cả cán bộ, chiến sĩ.

        Không phụ lòng mong mỏi của Người, qua 79 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, QĐND Việt Nam luôn một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc; cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất; bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng./.

Sưu tầm

Quy định số 132-QĐ/TW - Bước tiến mới về kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng chống tham nhũng, tiêu cực

        Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định 132) không chỉ là một bước tiến mới về kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mà còn được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

        QUY ĐỊNH 132 ĐÁP ỨNG ĐÚNG YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN

        Những nhiệm kỳ gần đây, việc cả hệ thống chính trị quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng cũng như Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ… gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW khóa XI, Chỉ thị số 05-CT/TW khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… đã tạo bước tiến rõ nét trong phòng, đấu tranh chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực Nhà nước. Từ đó, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, kiểm soát quyền lực Nhà nước không chỉ được chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ để từng bước kiềm chế, ngăn chặn tham nhũng, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ.

        Thực tế, quyết tâm đẩy mạnh phòng, đấu tranh chống tham nhũng nghiêm túc, hiệu quả và việc thưc thi kiểm soát quyền lực Nhà nước, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật, mà minh chứng là hàng loạt vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý (nhất là những vụ án được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tiếp chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử) đã cho thấy quyết tâm lớn, nỗ lực cao và sự đồng lòng, nhất trí, ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Những kết quả đạt được trong đấu tranh chống tham nhũng, kiểm soát quyền lực Nhà nước đã không chỉ khẳng định công tác điều tra, truy tố, xét xử được chỉ đạo quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn đã được chú trọng, mà còn cho thấy chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án cũng ngày càng được nâng lên, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; thực thi bảo vệ pháp chế và quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tổ chức, cá nhân.

        Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, vẫn còn hiện tượng cá nhân vi phạm trong hoạt động thực thi công vụ; can thiệp, làm cản trở hoặc tác động trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan, hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; thậm chí nhận lợi ích bằng vật chất và phi vật chất để làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác. Thực tế, tình trạng lợi dụng, lạm dụng quyền lực đã và đang trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong công tác điều tra, tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác. Do vậy, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng và chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, tố tụng, thi hành án là cần thiết để cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt hiệu quả thiết thực. Vì thế, Quy định 132 gồm 4 chương, 14 điều, trong đó không chỉ nêu rõ nội dung, nguyên tắc, phương thức kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án, mà còn đồng thời chỉ rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là người đứng đầu trong kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án… đã ra đời. Đó là một Quy định chi tiết, đầy đủ, phù hợp với thực tế công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hiện nay.

        Theo đó, Điều 6, Quy định 132 đã liệt kê cụ thể 28 hành vi lợi dụng lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và một số các hành vi khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước như: “1. Lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, ban hành các văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 2. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ, chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, nhiệm vụ, công vụ trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 3. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan. 4. Bao che, dung túng, tiếp tay, xử lý không đúng quy định đối với hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tố tụng, thi hành án và các hoạt động khác có liên quan…”.

        Những quy định tại Điều 6 này càng làm rõ hơn Điều 13, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm như cán bộ, đảng viên không được “can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác” và Điều 15 về không được “tặng, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến tổ chức, người có trách nhiệm dẫn đến việc quyết định sai, có lợi riêng cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp”.

        Không chỉ có vậy, Quy định 132 cũng cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo Điều 7(9 nội dung phải thực hiện); Điều 8 (7 nội dung phải thực hiện); Điều 9 (2 nội dung phải thực hiện) và Điều 10 (3 nội dung phải thực hiện); đồng thời chỉ rõ mọi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao trách nhiệm càng lớn như: “5. Chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị được phân công trực tiếp quản lý, phụ trách. 6. Chịu trách nhiệm với tư cách thành viên tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, tổ chức và với tư cách người quản lý, phụ trách lĩnh vực về những hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách”...

        Đồng thời, tính bao quát và chi tiết của Quy định 132 còn thể hiện rõ ở những quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác…. Đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng, vững chắc để cơ quan chức năng bảo vệ người tố giác và những người khác, để họ yên tâm hơn, vững tin hơn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Và đó cũng chính là minh chứng cho thấy, hoạt động tố tụng, thi hành án không chỉ nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn được các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan hành pháp, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân giám sát; không chỉ Nhà nước, mà cả nhân dân cũng có thể tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tố tụng, thi hành án…

        14 điều của Quy định 132 là một trong những minh chứng cho thấy quyết tâm, sự sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trong trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực Nhà nước nói chung, trong lĩnh vực ở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nói riêng.

      HƯỚNG ĐẾN LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ Ở CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

        Kịp thời, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đáp ứng yêu cải cách hành chính và xây dựng bộ máy hoạt động tố tụng trong sạch, minh bạch, có thể nói việc thực thi Quy định 132 không chỉ giúp các tổ chức và cá nhân trong công tác (tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) thực hiện tốt hơn Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (trong đó có yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; gắn với Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và các Quy định về nêu gương (Quy định 55, 08)… để tự soi, tự sửa và tránh mắc khuyết điểm, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, mà còn tạo cơ sở, điều kiện để cấp ủy, tổ chức Đảng, các cơ quan, ban, ngành chức năng và cán bộ, đảng viên, người dân tham gia giám sát các cơ quan, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

        Từ mục đích, nội dung và ý nghĩa như thế, có thể thấy, việc lu loa trên mạng xã hội  rằng: Quy định 132 là “vô pháp, không đúng quy định pháp luật”; là “không đảm bảo tính khách quan” và Quy định này “chỉ tô đậm thêm tính chất đảng trị” và “xóa nhòa đi tính chất pháp trị” của các phần tử vong quốc, cơ hội, phản động chỉ là một trong những chiêu trò nhằm bôi đen cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; xuyên tạc những nỗ lực, quyết sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phòng, đấu tranh chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

        Thực chất, Quy định 132 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với kiểm soát quyền lực Nhà nước là rất phù hợp với thực tiễn; là đáp ứng đúng yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hiện tại. Hơn nữa, Quy định 132 cho thấy việc kiểm soát quyền lực Nhà nước ngay từ gốc rễ không chỉ là biện pháp hữu hiệu, có tác dụng ngăn ngừa, cảnh tỉnh những người có ý định tham nhũng, tiêu cực, mà còn mở rộng phạm vi, vươn tầm đến nhiều lĩnh vực khác trong đời sống chính trị, xã hội, pháp lý như giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo; tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế; bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác hay khuyến khích cán bộ lãnh đạo có sai phạm nghỉ việc (thể hiện tính nhân văn của Đảng, Nhà nước)…

         Vì Quy định 132 hướng đến mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; đồng thời cũng chỉ rõ quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm, cho nên,  mọi hành vi lạm quyền, vượt quyền, vi phạm quyền lực Nhà nước của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ đều sẽ bị xử lý nghiêm minh. Và cũng vì thế, việc thực thi Quy định này sẽ góp phần hạn chế được vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, giúp củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với công tác điều tra, xét xử, thi hành án; đồng thời, từng bước loại bỏ những hành vi lợi dụng, lạm dụng, sử dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, tố tụng, thi hành án.

        Vì đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn và là minh chứng hiệu quả trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực Nhà nước của Đảng, nên Quy định 132 được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ./.

Sưu tầm

Quy định số 131-QĐ/TW: Quyết liệt bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

        Quy định 131 chính là liều “vaccine” đủ mạnh để đội ngũ cán bộ, đảng viên tại hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan hành pháp soi vào, tự răn mình, tự sửa mình, chú trọng việc nêu gương, thống nhất giữa nói và làm, nhất là đối với người đứng đầu tại hệ thống các cơ quan công quyền trong quá trình kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực

        BẢO VỆ SỰ MINH BẠCH CỦA CÁC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN

        Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo triển khai khá toàn diện, quyết liệt, với nhiều giải pháp đồng bộ để xây dựng, hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cả hệ thống chính trị; trong đó có việc nghiên cứu, ban hành mới cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, nhất là đội ngũ cán bộ thực thi công tác phòng, chống tham nhũng. Cùng với Quy định “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (Quy định 132), Quy định số 131-QĐ/TW về “Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán” (Quy định 131) ra đời và sớm được triển khai trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức Đảng và quá trình công tác của mỗi cán bộ, đảng viên đã thực sự là “thanh bảo kiếm” bảo vệ sự minh bạch của các cơ quan công quyền; đồng thời cũng là liều “vaccine” đủ mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự răn, tự sửa mình, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch vững mạnh.

        Quy định 131 gồm  4 chương và 11 điều; trong đó đã giải thích rõ: Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc, quy định, quy trình nghiệp vụ… để phòng ngừa và phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm, lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (trong quá trình công tác)...

        Trên thực tế, hoạt động thanh tra, kiểm toán vốn là những lĩnh vực “nhạy cảm”, liên quan đến công việc kiểm tra, đánh giá, kết luận và xác nhận tính đầy đủ, hợp lý, hợp pháp của số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước; liên quan đến việc phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật và phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi tham nhũng, tiêu cực... Vì thế, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong những lĩnh vực này càng thêm “nhạy cảm” hơn, vì phải thường xuyên phải đối mặt với những cám dỗ về vật chất và tinh thần, với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình công tác như: Sử dụng thẩm quyền không đúng mục đích; lợi dụng quyền hạn để trục lợi cá nhân hoặc “nhóm lợi ích”; nhận hối lộ để bao che, giúp đối tượng không bị xử lý hoặc giảm nhẹ khi xem xét xử lý kỷ luật... Và cũng vì thế, việc tạo nên bức “trường thành vững chắc” để ngăn ngừa những việc tiêu cực diễn ra trước, trong và sau quá trình công tác; đồng thời bịt kín những kẽ hở gây bức xúc trong dư luận đối với lĩnh vực công tác “nhạy cảm” này là rất cần thiết. Trên tinh thần đó, việc ban hành Quy định 131 đã thêm một lần khẳng định chủ trương, quyết tâm, biện pháp hữu hiệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với việc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

        Điều 4 của Quy định 131 chỉ rõ 22 mục (các hành vi tham nhũng, tiêu cực) bị nghiêm cấm trong quá trình công tác. Cụ thể là: “Hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm giảm nhẹ, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm; cung cấp, tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ của đối tượng kiểm tra cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là thông tin, tài liệu, hồ sơ đang trong quá trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng hoặc thanh tra, kiểm toán; nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí của đối tượng kiểm tra hoặc người có liên quan đến đối tượng kiểm tra…” và “lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của mình, người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với đối tượng kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm trục lợi hoặc động cơ cá nhân khác” cũng như việc “để người có quan hệ gia đình lợi dụng ảnh hưởng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm thao túng, can thiệp vào việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; chỉ đạo hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, chưa được phép công bố hoặc không thực hiện đúng kết luận, kiến nghị về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán”… Việc nhận diện đúng những hành vi tham nhũng, tiêu cực này chính là hành động quyết liệt của Đảng trong công tác giám sát để phòng, chống tham nhũng nói chung cũng như kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và bịt lại những kẽ hở trong hoạt động thanh tra, kiểm toán nói riêng.

        Đồng thời, Điều 5 của Quy định 131 cũng nêu rõ trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng trong quá trình công tác phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức Đảng thuộc thẩm quyền quản lý. Theo đó, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra của cấp ủy phải thực hiện nghiêm quy định của Đảng, chỉ đạo của cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp trên để không chỉ kịp thời chấn chỉnh hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, mà còn phải thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách kịp thời đi liền cùng với việc chủ động phát hiện, xử lý nghiêm vi phạm trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Cùng với đó là kịp thời xem xét, thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng đối với cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán… Toàn bộ những nội dung này cũng cho thấy, chừng nào những văn bản pháp luật và cả luật còn “kẽ hở” dễ bị lợi dụng, thì chừng đó còn phải rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung luật và các văn bản dưới luật, các quy định để phòng ngừa và nhất là không để đối tượng lợi dụng, lạm dụng quyền lực thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi cá nhân và cho nhóm lợi ích…

        Trên tinh thần đó, có thể thấy Quy định 131 khẳng định tính dân chủ, khách quan, khoa học và minh bạch của công tác chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị. Việc ban hành, thực thi Quy định 131 cũng đồng thời cho thấy rõ tính minh bạch của hệ thống các cơ quan công quyền ở Việt Nam và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam thực sự không có vùng cấm, không có vùng đặc biệt nào cần phải “né tránh”, góp phần xây dựng và hoàn thiện, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

        CHÚ TRỌNG LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ

        Để công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Đảng và Nhà nước không chỉ trao quyền và phát huy cao độ vai trò của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán (các cơ quan) cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức công tác tại các cơ quan này, mà còn chú trọng kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác. Một đội ngũ cán bộ luôn nỗ lực bảo đảm sự nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả khi thực thi nhiệm vụ sẽ góp phần tạo dựng và củng cố lòng tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

        Từ những vụ án đã và đang được đưa ra xét xử (vụ án nguyên Chánh Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông Ðặng Anh Tuấn cản trở hoạt động đoàn kiểm tra trong vụ án “đánh bạc nghìn tỷ” do Nguyễn Văn Dương cầm đầu (2019); nhóm cán bộ thanh tra Bộ Xây dựng lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Vĩnh Phúc (2019) và Nguyễn Kiên Cường, nguyên Chánh Thanh tra Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình làm lộ bí mật nhà nước (2021) và các vụ án đưa/nhận hối lộ giữa cán bộ thanh tra tỉnh Lai Châu và cán bộ các ban quản lý dự án rừng phòng hộ tỉnh Lai Châu; Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Ðồng nhận hối lộ; vụ án đưa/nhận hối lộ của 4 cán bộ thanh tra giao thông tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu…) mới đây được đăng tải trên các phương tiện thông tin truyền thông, có thể thấy việc cần phải “bịt kín” những “kẽ hở” của pháp luật để kiểm soát quyền lực nói chung, khống chế, ngăn chặn/kiểm soát quyền lực trong các cơ quan và đội ngũ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng là yêu cầu tất yếu trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước. Vì thế, Quy định 131 đã ra đời và việc triển khai thực hiện nghiêm Quy định này sẽ hạn chế đến mức thấp nhất và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong quá trình công tác của những tổ chức, cá nhân có trọng trách kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán…. Từ đó, không chỉ hạn chế tối đa việc thông cung, chạy tội, chạy án của người có vi phạm, mà còn khắc phục được tình trạng tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong chính các cơ quan chống tham nhũng, tiêu cực khi cán bộ có thẩm quyền đã dùng quyền lực, chức vụ của mình kéo bè, kéo cánh đe dọa người không cùng quan điểm hay người phát hiện ra những khuất tất của mình trong quá trình công tác…

        Đặc biệt, Quy định 131 sẽ góp phần ngăn chặn và xử lý những cách thức tham nhũng tập thể; hối lộ tập thể như vụ Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB...; cũng chính là nhằm khống chế các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân (hống hách, cửa quyền, độc quyền, lợi dụng quyền lực để o ép, áp đảo, đe dọa…) nhằm trục lợi của những người được giao nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; nhất là để phòng và tránh được oan sai hay bỏ lọt khuyết điểm, tội lỗi…

        Vì thế, những nội dung của Quy định 131 chính là liều “vaccine” đủ mạnh để đội ngũ cán bộ, đảng viên tại hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan hành pháp soi vào, tự răn mình, tự sửa mình, chú trọng việc nêu gương, thống nhất giữa nói và làm, nhất là đối với người đứng đầu tại hệ thống các cơ quan công quyền trong quá trình kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng phải “chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước” cũng như phải chịu “trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm quy định về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán”. Để đảm bảo khách quan, công tâm và nhất là phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong quá trình công tác, người đứng đầu cần phải “triệu tập đầy đủ, đúng thành phần, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong thảo luận và quyết định các vấn đề theo thẩm quyền; không được vận động, dẫn dắt, thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, quyết định theo ý mình. Báo cáo kịp thời, trung thực, khách quan, đầy đủ ý kiến của tập thể lãnh đạo với cấp có thẩm quyền, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau”... như Điều 5 của Quy định.

        Điều 7 của Quy định nghiêm cấm các hành vi “can thiệp trái quy định vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán; lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán. Thiết lập quan hệ để hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm mục đích chạy tội, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người có thẩm quyền quyết định hoặc tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết về kết luận, quyết định kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán không đúng bản chất sự việc”… cũng chính là minh chứng cho thấy Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền, thiết thực bảo vệ chế độ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh của các quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền, góp phần củng cố niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

        Từ thực tiễn công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã cho thấy rằng tham nhũng, tiêu cực không chỉ là nguy cơ mà đã hiện hữu trong hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng và những người làm nhiệm vụ tại các cơ quan này. Cho nên, nếu đã vi phạm các nội dung nêu trong điều 4 Quy định 131, thì những người đang công tác sẽ bị đình chỉ công tác, chức vụ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, thanh tra, kiểm toán cũng như không quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu bầu cử, ứng cử chức vụ tương đương hay phong tặng danh hiệu, khen thưởng theo quy định… theo Điều 8 và Điều 9.

        Cuối cùng, có thể khẳng định rằng: Trên cơ sở cập nhật đường lối, chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Ðảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, thanh tra, kiểm toán; về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực phù hợp chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy định 131 đã tập trung quy định về nguyên tắc; các hành vi tham nhũng, tiêu cực; biện pháp phòng ngừa; chế tài xử lý răn đe… để làm cơ sở để xác định trách nhiệm, thủ tục tiến hành. Nội dung của Quy định thể hiện rõ tinh thần kết hợp giữa xây và chống; trong đó xây là chính, chống phải kiên quyết và lấy chống để xây rất nhân văn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc ban hành Quy định 131 góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để mọi quyền lực được kiểm soát “trong lồng cơ chế”; đồng thời và việc thực thi Quy định này chính là để quyền hạn phải gắn với trách nhiệm; công khai, minh bạch, nghiêm minh phải gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, hoạt động thanh tra, kiểm toán, đảm bảo làm trong sạch đội ngũ và bảo vệ các cơ quan công quyền./.

Sưu tầm