Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Thanh Hóa thamg gia chiến dịch Điện Biên Phủ

Theo thống kê, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Thanh Hóa huy động 30% số người trong độ tuổi lao động tham gia dân công hỏa tuyến, với tổng số gần 179.000 lượt người, 27 triệu ngày công.

Đặc biệt, Thanh Hóa còn huy động hơn 10.000 xe đạp thồ; 1.300 thuyền nan, thuyền ván; 47 xe ngựa thồ, 31 ô tô, 180 xe trâu vận chuyển lương thực tiếp tế cho tiền tuyến.

Tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ hiện nay có nhiều tư liệu, hiện vật thể hiện vai trò của người nông dân trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong đó, chiếc xe cút kít của ông Trịnh Đình Bầm là hiện vật hết sức tiêu biểu, minh chứng cho tinh thần yêu nước, kiên quyết đấu tranh, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc của người nông dân Việt Nam.

                                                                                                          

 

Người chở hàng nổi tiếng cả huyện, đi đêm không cần đèn

Ông Tân chia sẻ, vốn là con cả trong gia đình có 5 anh em, vì gia cảnh nhà nông nghèo khó nên từ nhỏ ông Bầm đã có đức tính cần cù, chịu khó. "Khi bố mẹ mất, một mình cha tôi lam lũ làm việc để nuôi các em khôn lớn. Tôi cảm thấy rất tự hào, xúc động trước quá khứ vẻ vang do ông để lại", ông Tân tâm sự.

Sau khi hòa bình lập lại, đất nước được thống nhất, ông Bầm trở về quê hương làm công việc vận chuyển hàng ở nhà máy chuyên về thực phẩm. Với thân hình to cao, khỏe mạnh, ông Bầm được mọi người nể phục bởi biệt tài chở hàng. Thậm chí, khi nhắc đến tên ông Bầm, ai cũng tấm tắc khen vì ông chở hàng khỏe. 

"Thời gian đi chở hàng ở nhà máy thực phẩm, ông khiến nhiều người nể phục bởi sức khỏe và độ dẻo dai. Trung bình mỗi chuyến đạp xe chở hàng của ông có trọng lượng 1,5-2 tạ. Điều đặc biệt, mặc dù bị dị tật một mắt nhưng ông rất giỏi khi chở hàng ban đêm mà không cần dùng đến đèn pin", ông Tân nói.

Làm ở nhà máy thực phẩm được ít năm, ông Bầm trở về kinh doanh cửa hàng thực phẩm tại nhà. Theo ông Tân, không chỉ có sức khỏe, cần cù, chịu khó, ông Bầm còn được nhiều người yêu quý vì tính tình hiền lành và thương người.

Ông Tân nhớ lại kỷ niệm năm 1984, có cặp vợ chồng sinh đôi nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên nhờ ông Bầm nuôi hộ một bé trai. Mặc dù gia đình có tới 8 người con, nhưng ông Bầm vẫn vui vẻ nhận lời, đưa cậu bé đó về làm con nuôi.

"Cả cuộc đời cha tôi vất vả, lam lũ, hy sinh vì đất nước, vì con cháu. Năm 1994, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời. Trong số 8 người con của ông, có anh trai tôi là Trịnh Đình Nhân cũng từng nối tiếp truyền thống yêu nước của bố, tham gia chiến đấu và hy sinh ở chiến trường Campuchia. Nhiều năm qua, chúng tôi vẫn thường xuyên căn dặn các cháu phát huy tinh thần và đức tính của ông để góp phần xây dựng quê hương, đất nước", ông Tân chia sẻ.

Chị Trịnh Thị Nhàn (SN 1984, cháu nội ông Bầm) chia sẻ, từ thời đi học đến nay, mỗi khi nghe nhắc đến chiến công, thành tích của ông nội, chị Nhàn cảm thấy bồi hồi xúc động và tự hào. "Trong ký ức của tôi, ông là một người lao động cần cù, chịu khó. Là thế hệ con cháu của ông, chúng tôi rất đỗi tự hào và xúc động. Mong rằng thế hệ sau này, các con của tôi cố gắng phát huy được tinh thần đó để cống hiến sức mình vào sự phát triển của đất nước".

 

Dỡ bàn thờ làm bánh xe cút kít

Những ngày tháng 5 lịch sử, căn nhà nhỏ của gia đình ông Trịnh Đình Tân (SN 1969, con trai ông Trịnh Đình Bầm) ở thôn Duyên Thượng 2, xã Định Liên, huyện Yên Định đón đông đảo người dân, các sở, ban, ngành ghé thăm.

"Mỗi dịp cận kề ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, gia đình vinh dự được mời tham gia các sự kiện, hội nghị tại địa phương. Không chỉ vậy, để tưởng nhớ đến cụ thân sinh ra tôi, nhiều người dân thường đến tận gia đình để thắp hương, trò chuyện cùng gia đình. Chúng tôi rất vinh dự, tự hào trước những công lao to lớn mà cha để lại", ông Tân bày tỏ.

Ông Tân kể, từ khi còn nhỏ đã nhiều lần được nghe cha kể về "chiến tích" hào hùng, cùng hàng trăm dân công Thanh Hóa vận chuyển lương thực tiếp tế vào chiến trường Điện Biên Phủ. Trong đó có câu chuyện cha ông mạnh dạn dỡ bàn thờ chế tạo xe cút kít làm phương tiện tải lương.

Thời điểm đó, Thanh Hóa huy động sức người, sức của, dốc toàn lực, trở thành một trong những hậu phương vững chắc cho tiền tuyến Điện Biên Phủ. Tại nhiều địa phương, người dân, thanh niên trai tráng trong làng xung phong tình nguyện tham gia vào đoàn dân công để vận chuyển lương thực tiếp tế vào chiến trường.

Nông dân Trịnh Đình Bầm khi đó ngoài 20 tuổi, mặc dù đã có vợ con nhưng vẫn hăng hái tham gia dân công. Tuy nhiên, trước ngày chuẩn bị lên đường đi tải lương, do gia đình nghèo khó, không có xe đạp, nếu vận chuyển bằng quang gánh không được bao nhiêu, ông Trịnh Đình Bầm băn khoăn chưa biết làm cách nào.

Sau những trăn trở, ông nghĩ đến việc chế tạo chiếc xe đẩy bằng gỗ (xe cút kít) để có thể vận chuyển được nhiều lương thực.

"Để làm chiếc xe cút kít, bố tôi bắt đầu đi tìm những mảnh gỗ, ván trong nhà làm vật liệu. Nhưng đến khi chuẩn bị hoàn thành thì phần bánh xe lại thiếu một mảnh nhỏ, ông đi tìm khắp nhà nhưng chẳng còn miếng gỗ nào. Sau khi ngước nhìn lên bàn thờ gia tiên, ông nảy ra ý nghĩ táo bạo: lấy ván bàn thờ.

Sau đó ông bàn với bố mẹ để xin phép lấy tấm ván bàn thờ làm bánh xe, nhưng ai cũng lo sợ. Cuối cùng, sau nhiều đắn đo, ông quyết tâm thắp hương xin gia tiên được lấy bàn thờ làm bánh xe cút kít", ông Tân kể.

Chiếc xe cút kít được sáng chế với chiều dài hơn 200cm, càng xe làm bằng gỗ, có hai chân chống bằng tre và bánh xe được ghép từ 3 mảnh gỗ khác nhau, trong đó có một mảnh gỗ được lấy từ một phần bàn thờ gia tiên.

Sau khi chế tạo thành công chiếc xe cút kít, ông Bầm tham gia vận chuyển lương thực trên đoạn đường từ kho lương Sánh - Lược (huyện Thọ Xuân) lên Phố Cống - Trạm Luồng (huyện Ngọc Lặc).

Trong vòng 4 tháng, trung bình 3 ngày một chuyến, người nông dân ưu tú của xứ Thanh vượt những con dốc, đèo núi dài hơn 20km, vận chuyển lương thực phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ.

Sau này, qua thống kê của cơ quan chức năng, ông Trịnh Đình Bầm đã vận chuyển khoảng 12.000kg lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hiện chiếc xe cút kít nguyên bản của ông Trịnh Đình Bầm được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

 

Câu chuyện từ những số phận khác nhau trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Từ nguồn tư liệu sống thu thập được, hai nhà sử học đã giúp người đọc giải đáp được nhiều câu hỏi liên quan tới chiến dịch Điện Biên Phủ. Những câu trả lời đến từ những cựu binh đã có mặt tại "chảo lửa" Điện Biên Phủ năm 1953-1954.

Họ đã chia sẻ hồi ức của mình về những điểm khác biệt muôn hình vạn trạng của "cứ điểm" Điện Biên Phủ, công tác chuẩn bị của người Pháp, những thất bại trong cuộc chiến đấu, "cơn đại hồng thủy ngày 30/3/1954 và trận chiến ở năm quả đồi".

Những tiết lộ về kỳ tích làm nên chiến thắng hay những gì diễn ra sau cuộc chiến, lòng cảm kích với sự nhân văn của phe chiến thắng… cũng được các cựu binh người Pháp kể lại chi tiết.

Theo PGS. TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hồi ức Điện Biên Phủ - Những nhân chứng lên tiếng đã đưa ra góc nhìn mới mẻ của các tác giả về một sự kiện đã được nhiều người thể hiện trong các công trình đã xuất bản.

Đó là góc nhìn từ các nhân chứng, những người có vị trí khác nhau trong cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ năm 1954, và sau cuộc chiến, số phận họ cũng rất khác nhau.

Trả lời phóng viên Dân trí, TS. Trần Xuân Trí, giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ trì dịch và hiệu đính cuốn sách cho biết, đây là một cuốn sách quý giá và đáng đọc bởi nhiều giá trị: Giá trị sử liệu, mang đến cho người đọc góc nhìn đa chiều về Điện Biên Phủ, giúp giáo dục về chính trị tư tưởng, lòng yêu nước tự hào tự tôn dân tộc, giáo dục lòng yêu chuộng hòa bình.

"Qua những câu chuyện mà người lính Pháp kể, tôi thực sự xúc động và tự hào trước chiến thắng của cha ông trong cuộc chiến.

Người Pháp đã nhìn nhận đúng sức mạnh của dân tộc Việt Nam, từ người dân bình thường đến những dân công hỏa tuyến hay những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên mặt trận. Họ ca ngợi những người dân công đó là "những đội quân bóng đêm", "đội quân ngựa sắt" - vượt hàng trăm cây số đã tải được nhiều tấn lương thực, đạn dược cho chiến trường…

Người Pháp cũng đã nhìn nhận, khen ngợi chính sách nhân văn của Chính phủ, quân đội và người dân Việt Nam đối với hơn 10.000 tù binh bị bắt tại Điện Biên Phủ", TS. Trần Xuân Trí chia sẻ về những điều ấn tượng nhất khi chủ trì dịch và hiệu đính cuốn sách.

Chia sẻ tại sự kiện ra mắt sách chiều 3/5, PGS. TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho biết, Hồi ức Điện Biên Phủ - Những nhân chứng lên tiếng là một trong những cuốn sách hay nhất ông từng đọc.

"Cuốn sách giúp tôi hiểu hơn suy nghĩ của phía Pháp về cuộc chiến. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với suy nghĩ của những người lính Pháp đã chiến đấu tại chiến trường, điều này giúp cho chúng tôi có cái nhìn toàn diện và cân bằng hơn về cuộc chiến.

Những câu chuyện cụ thể tác giả cung cấp giúp cho hai dân tộc có thể hòa giải được với nhau, hố ngăn cách về suy nghĩ và quan điểm về cuộc chiến sẽ thu hẹp lại rất nhiều", PGS. TS Nguyễn Mạnh Hà nói.

Hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), đồng thời tiếp tục phát triển Tủ sách Sử học và thực hiện các dự án hợp tác quốc tế trong xuất bản sách, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm giới thiệu bản tiếng Việt cuốn sách Hồi ức Điện Biên Phủ - Những nhân chứng lên tiếng được dịch và xuất bản từ nguyên bản tiếng Pháp.

Cuốn sách không chỉ là lời chia sẻ của những người có vai trò chủ chốt trong trận chiến mà còn là câu chuyện cá nhân, những lá thư viết cho người thân, những cảm xúc khi thất bại, nỗi ám ảnh trước cái chết,... của những binh sĩ bình thường - những nhân vật khiêm tốn nhất.

 

"Người Pháp đã bị đánh lừa bởi sự nghi binh khéo léo của đối phương"

 

"Chúng tôi nhận ra rằng mọi chuyển động, cử chỉ nhỏ nhất của chúng tôi đều được theo dõi từ đầu đến cuối và chúng tôi không thể thực hiện bất cứ điều gì mà không bị phát hiện", cựu binh Pháp Louis kể về phân khu Nam - Hồng Cúm thuộc Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954.

Còn Pierre Bonny, cựu binh người Pháp thuộc Trung đoàn du tiêm kích số 1 tham gia trận Điện Biên Phủ cũng ngạc nhiên nhớ lại: "Băng qua đèo Pha Đin, chúng tôi bắt gặp một đoàn dân công dài tới tận cuối chân trời. Họ đẩy những chiếc xe đạp do nhà máy Saint-Étienne sản xuất, trên bàn đạp, yên xe cho tới tay lái chất đầy những bao gạo và thùng đạn.

Còn vô số người khác nhún nhẩy bước đi với đôi quang gánh quẩy nặng trên vai. Đó là hình ảnh nổi bật về hệ thống hậu cần phương Đông!

Và các cơ quan tình báo Pháp hiển nhiên đã thất bại ước tính trước khi trận chiến bùng nổ rằng quân Việt Nam không có khả năng cung cấp lương thực và đạn từ các căn cứ nằm ở vùng đồng bằng cách Điện Biên Phủ 400km và huy động 40.000 quân chính quy cần thiết để bao vây một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Các cơ quan của Pháp đã không tính đến số lượng đông đảo người dân của đất nước châu Á này: Họ đã không tưởng tượng được rằng tất cả người dân đều chăm chỉ và cùng tham gia đóng góp…

…Công việc tỉ mỉ, kiên trì như loài kiến chỉ có trong một thời đại khác từ xa xưa là điều không thể tưởng tượng được đối với tư tưởng đương đại của người phương Tây, nhưng điều đó đã khiến cho sức mạnh cơ bắp chiến thắng được động cơ đốt trong và chiếc xe đạp cổ của nhà máy Saint-Étienne đã chiến thắng được máy bay!".

 

HOAN HÔ CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN (TỐ HỮU)

 CON XIN MƯỢN LỜI CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU - ĐỂ TRI ÂN CÁC ÔNG, CÁC BÁC, CÁC BẬC ANH HÙNG CÁCH MẠNG, THƯƠNG BỆNH BINH, DÂN CÔNG HỎA TUYẾN VÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ LÀM NÊN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ- SỨC MẠNH VIỆT NAM, TẦM VÓC THỜI ĐẠI:

Tin về nửa đêm

Hoả tốc hoả tốc
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa
Làng bản đỏ đèn đỏ lửa...

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Vinh quang Hồ Chí Minh, cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại!

Kháng chiến ba nghìn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!

Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin về chắc cũng chan hoà vui chung.

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Những đồng chí, thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm.
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện.

Và những chị, những anh, ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây, gió lớn mưa to
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn, xương tan thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh.
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống!
Máu của anh chị, của chúng ta, không uổng:
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng.

Lũ chúng nó phải hàng, phải chết,
Quyết trận này quét sạch Điện Biên!
Quân giặc điên
Chúng bay chui xuống đất
Chúng bay chạy đằng trời?
Trời không của chúng bay
Đạn ta rào lưới sắt!
Đất không của chúng bay
Đai thép ta thắt chặt!
Của ta trời đất đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta!
Chúng bay chỉ một đường ra:
Một là tử địa, hai là tù binh.
Hạ súng xuống, rùng mình run rẩy
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm!
Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy
Trên đầu bay, thác lửa hờn căm!
Trông: Bốn mặt, luỹ hầm sập đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng!
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!

Tiếng reo núi vọng sông rền
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ
Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo...
Từ khi vượt núi qua đèo
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày
Tin về mừng thọ đêm nay
Chắc vui lòng Bác, giờ này đợi trông.

Đồng chí Phạm Văn Đồng
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành.
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh
Nhìn xuống mặt bọn 
Bi-đônSmít
Anh sẽ nói: “Thực dân, phát-xít
Đã tàn rồi!
Tổ quốc chúng tôi
Muốn độc lập, hoà bình trở lại
Không muốn lửa bom đổ xuống đầu con cái
Nước chúng tôi và nước các anh.
Nếu còn say máu chiến tranh
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa.
Và trận thắng Điện Biên
Cũng mới là bài học đầu tiên!”