Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Cử tri và nhân dân lo lắng giá cả vẫn cao trong khi tiền lương chưa tăng

Ngày 20-5, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV, Quốc hội nghe Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp.

Cử tri và nhân dân đồng tình việc để cán bộ cấp cao vi phạm thôi đảm nhiệm trọng trách được giao

Trình bày Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV, đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, cử tri và nhân dân đánh giá cao Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kịp thời chỉ đạo toàn diện các vấn đề quan trọng của đất nước, đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực.

Kinh tế tiếp tục được phục hồi và phát triển, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống của nhân dân ổn định, từng bước được cải thiện; công tác đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được kết quả quan trọng, uy tín và vị thế nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; giữ vững kỷ cương, kỷ luật; xử lý các vụ án, vụ việc vừa bảo đảm tính nghiêm minh, vừa có tính nhân văn, tính giáo dục và sức thuyết phục cao. Hoạt động của Quốc hội và các cơ quan dân cử ngày càng đổi mới, thiết thực, hiệu quả, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy mạnh mẽ. 

Cử tri và nhân dân lo lắng giá cả vẫn cao trong khi tiền lương chưa tăng

Đồng chí Đỗ Văn Chiến trình bày Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV. Ảnh: TRỌNG HẢI 

Hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và các ngày lễ lớn năm 2024 thiết thực, hiệu quả, lan tỏa được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, qua đó động viên được các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng lòng, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được củng cố và tăng cường.

Cử tri và nhân dân đánh giá rất cao công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục đạt được kết quả quan trọng, toàn diện, “nói đi đôi với làm”, thật sự không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Cử tri và nhân dân đồng tình, ủng hộ Đảng và Nhà nước đã kịp thời giải quyết để một số đồng chí cán bộ cấp cao vi phạm những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương thôi đảm nhiệm trọng trách được giao. 

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân còn băn khoăn, lo lắng khi số doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động chưa có chiều hướng giảm, công nhân lao động bị ngừng việc, nghỉ việc, rút bảo hiểm xã hội một lần tăng; giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giá điện, vé máy bay tiếp tục tăng; tiêu thụ nông, lâm, thủy sản còn khó khăn, kinh tế du lịch phục hồi chưa vững chắc, thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia vẫn còn chậm; giá các mặt hàng thiết yếu vẫn cao trong khi tiền lương chưa tăng, phần nào ảnh hưởng đến đời sống của những người làm công, ăn lương và lao động thiếu việc làm, thu nhập không ổn định.

Giải quyết kịp thời bất cập để chính sách tiền lương mới thực sự động viên cán bộ, công chức, viên chức

Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiến nghị, Đảng, Nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền; kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, xuyên tạc sự thật, làm “nhiễu” thông tin, nhất là các thông tin “xấu, độc”, “bôi nhọ” làm giảm sút uy tín của tổ chức và cá nhân lãnh đạo, ảnh hưởng đến sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Kiến nghị Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia, nhất là Chương trình giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; sớm giải quyết khó khăn về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, sinh kế, an sinh xã hội… Tháo gỡ khó khăn để hạn chế các doanh nghiệp rời khỏi thị trường, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phục hồi sản xuất, tạo việc làm cho người lao động.

Cử tri và nhân dân lo lắng giá cả vẫn cao trong khi tiền lương chưa tăng
Quang cảnh phiên họp của Quốc hội tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV. Ảnh: TRỌNG HẢI 

Cùng với đó, kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan chức năng rà soát các văn bản hướng dẫn, các điều kiện cần và đủ để triển khai thực hiện chính sách tiền lương mới từ ngày 1-7-2024. Trong đó, cần quan tâm giải quyết kịp thời bất cập, vướng mắc phát sinh để chính sách tiền lương mới thực sự động viên cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp...

Nguồn : Báo QĐND- MẠNH HƯNG

PHÁT HUY TỐT VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ NHÂN DÂN TRONG GIÁM SÁT VIỆC NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 


Để nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao, phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; đồng thời, kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Trong công tác này, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân có vai trò rất quan trọng, vì “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay. Phải làm tốt công tác báo công, bình công ngoài nhân dân”. Mọi ưu điểm, hạn chế của cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống, đều được bộc lộ thông qua công tác, sinh hoạt và giao tiếp với nhân dân. Qua đó, nhân dân sẽ phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp về những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, giúp cho tổ chức đảng, cơ quan chức năng nhận xét, đánh giá và có biện pháp giáo dục, uốn nắn, rèn luyện cán bộ, đảng viên.

Để phát huy tốt vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện tốt những quy định của Trung ương về dân chủ cơ sở; giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền…, với những hình thức và cách làm cụ thể, sáng tạo, nhằm phát huy đầy đủ vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

NÊU GƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Để góp phần phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, đi đầu trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khoá XII, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết số 35-NQ/TW) đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Quan điểm trên khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người đứng đầu phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương sẽ tạo ra hiệu ứng to lớn trong việc tuyên truyền, động viên cán bộ, đảng viên, cấp dưới noi theo. Sự nêu gương của người đứng đầu chính là nhân tố bảo đảm cho “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Người đứng đầu phải thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy trong công việc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sắc bén, có uy tín chuyên môn, luôn thực hành dân chủ, sâu sát cơ sở, nói đi đôi với làm, quan tâm, chăm lo đến những lợi ích chính đáng của nhân dân, của cấp dưới,... từ đó truyền cảm hứng và lôi cuốn, thúc đẩy cán bộ, đảng viên noi theo. 

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở, phải nắm vững quan điểm, nguyên tắc, nội dung, giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 35-NQ/TW; các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được xác định trong các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trên cơ sở đó, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ vào tình hình, đặc điểm và thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình để xác định phương hướng, mục tiêu, nội dung, biện pháp thực hiện cho phù hợp và triển khai thực hiện sâu rộng đến các tổ chức, các lực lượng. 

Chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện các quy định về nêu gương với thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. 

Trong quá trình thực hiện, cấp ủy các cấp phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, đánh giá đầy đủ thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được, linh hoạt chỉ đạo, đề xuất những nội dung, biện pháp mới theo sự phát triển của tình hình. Trong từng giai đoạn, cần lãnh đạo, chỉ đạo sơ, tổng kết rút kinh nghiệm nghiêm túc, kịp thời nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu.

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Chất lượng, hiệu quả, mức độ chuyển biến trong việc nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phụ thuộc trước hết vào nhận thức, trách nhiệm chính trị của từng cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, nơi nào mà cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của việc nêu gương thì vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên sẽ được phát huy tốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu trong tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành và thực hiện nghiêm túc Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước. Để tạo chuyển biến về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc nêu gương, cần quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị về ý nghĩa, mối quan hệ của việc nêu gương của cán bộ, đảng viên với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần những quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nêu gương để trên cơ sở đó thực hành đạt hiệu quả. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết phải từ nội bộ Đảng, thông qua những tấm gương sáng, người thật, việc thật trong hàng ngũ của Đảng để tạo sức thuyết phục và lan tỏa mạnh mẽ đến nhân dân.

 

 

BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG - NỘI DUNG CƠ BẢN, HỆ TRỌNG VÀ CÓ Ý NGHĨA SỐNG CÒN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định xây dựng Đảng về tư tưởng có ý nghĩa quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của Đảng. Việc thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng về tư tưởng sẽ góp phần nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất ý chí và hành động trong từng tổ chức đảng. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng ta bằng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc nhằm phản bác nền tảng tư tưởng của Đảng. Để chống lại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc đó, cần phát động phong trào trong toàn Đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên bảo vệ, phát triển hệ tư tưởng của Đảng, sẵn sàng đấu tranh hiệu quả, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch ở mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt trên không gian mạng.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng hiện nay là nhiệm vụ trọng yếu, để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Càng ngày, hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch diễn ra với quy mô, cường độ ngày càng lớn; các thủ đoạn lừa đảo người dân ngày càng tinh vi, đa dạng... Những hoạt động đó đã tác động tiêu cực tới tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ, làm suy giảm lòng tin vào đất nước, vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cần phải phát huy cao độ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của đội ngũ đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng trên không gian mạng xã hội trong thời gian tới.

PHƯƠNG THỨC ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG XÃ HỘI

 


Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW là vấn đề cấp thiết hiện nay. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Vận dụng truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam và chiến lược quốc phòng toàn dân trong đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông ta, cần phát động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn xấu độc của các thế lực thù địch. Trong đó, cần phát huy vai trò, trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên, nhất là những đảng viên có trình độ, tri thức cao để đấu tranh hiệu quả đối với những thông tin độc hại nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt là trên không gian mạng xã hội hiện nay.

Tăng cường xây dựng thế trận an ninh thông tin nhân dân trên không gian mạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị. Nâng cao khả năng tự phòng, chống “diễn biến hòa bình”, tự phòng, chống “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Lấy giáo dục góp phần nâng cao nhận thức và báo chí, truyền thông làm nền tảng, trụ cột để xây dựng thế trận trong bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng. Lấy báo chí, truyền thông làm phương tiện nòng cốt để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; từ thông tin chính thống đã được kiểm chứng mà tuyên truyền, lan tỏa rộng rãi trên không gian mạng và trong dư luận xã hội đến các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xây dựng và bảo vệ môi trường thông tin xã hội lành mạnh góp phần phát triển bền vững đời sống chính trị, tinh thần của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vì Đảng, vì đất nước và sự phồn vinh của dân tộc Việt Nam.

 

 

Luôn tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ Bộ đội Trường Sơn

Cùng đi với Thủ tướng Phạm Minh Chính có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương.

Ngày 19-5-1959, Bộ Chính trị và Thường trực Tổng Quân ủy triệu tập Ban cán sự chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (Đoàn 559) mở đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngày 19-5-1959 trở thành Ngày truyền thống của Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh và Binh đoàn 12.

Luôn tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ Bộ đội Trường Sơn
Luôn tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ Bộ đội Trường Sơn
Luôn tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ Bộ đội Trường Sơn

Đường Hồ Chí Minh là tuyến đường chi viện chiến lược, cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa với chiến trường miền Nam. Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, Đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch, với tổng chiều dài gần 17.000km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài hơn 3.000km; đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc... Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.


Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trước yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, nhiều đơn vị của Bộ đội Trường Sơn chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Binh đoàn 12 được thành lập trên cơ sở các lực lượng của Bộ đội Trường Sơn. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng, với nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 12 luôn có mặt ở những nơi gian khó, các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, trên khắp mọi miền của đất nước và nước bạn Lào, Campuchia. 

Đến nay, Binh đoàn 12 đã trở thành một trong những đơn vị mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông cầu đường, thủy điện, thủy lợi; có đủ khả năng xây dựng các công trình trọng điểm có quy mô lớn trong nước và quốc tế. Nhiều công trình tầm vóc trọng điểm quốc gia trên khắp mọi miền Tổ quốc được Binh đoàn 12 thi công. Giá trị sản xuất hằng năm tăng khá, đặc biệt năm 2023 tăng 87% so với năm 2022, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2019.

Kế thừa truyền thống Bộ đội Trường Sơn anh hùng, với tình cảm, trách nhiệm sâu sắc, Binh đoàn 12 gắn bó, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh Việt Nam trong tổ chức hoạt động nhằm tham gia xây dựng Hội vững mạnh, phát triển; giữ gìn, phát huy truyền thống và tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ Bộ đội Trường Sơn.


Dấu ấn của Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch giai đoạn 1971 - 1975

Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, ngày 19-5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) tổ chức “Ðoàn công tác đặc biệt” (sau là Ðoàn 559, đến tháng 7-1970 đổi tên thành Bộ tư lệnh Trường Sơn), có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cho chiến trường miền Nam; đưa bộ đội, cán bộ cơ quan dân-chính-đảng từ miền Bắc vào miền Nam và từ miền Nam ra miền Bắc chiến đấu, công tác, thực hiện các nhiệm vụ khác.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhất là để lại dấu ấn đậm nét trong thắng lợi của các chiến dịch từ năm 1971 đến 1975.

Đơn vị binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất, hoạt động trên địa bàn rộng nhất với phương thức đa dạng nhất

Về tổ chức, biên chế, đầu năm 1974, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã phát triển đến đỉnh cao về quy mô tổ chức binh chủng hợp thành, gồm 9 sư đoàn binh chủng, 12 trung đoàn binh chủng cơ động và 1 sư đoàn cao xạ, 1 trung đoàn tên lửa do Bộ phối thuộc; toàn tuyến có hơn 10.000 xe vận tải các loại và hơn 1.500 xe-máy phục vụ các binh chủng. Tổng quân số kể cả lực lượng phối thuộc và thanh niên xung phong là 120.000 người.

Dấu ấn của Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch giai đoạn 1971 - 1975
Về địa bàn hoạt động, đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trở thành mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 trục dọc, 21 trục ngang nối Đông và Tây Trường Sơn, tổng chiều dài hơn 17.000km; một tuyến đường kín dài 3.140km; hệ thống đường sông dài 500km; hệ thống đường ống xăng dầu gần 1.500km xuyên Đông và Tây Trường Sơn vào đến Bù Gia Mập (Bình Phước); hệ thống đường dây thông tin gồm 4.000km dây trần, 11.569km dây bọc, 384km dây cáp... từ miền Bắc đến các chiến trường miền Nam, Trung-Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, đi qua 20 tỉnh của 3 nước Đông Dương.


Hoạt động của Bộ đội Trường Sơn diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ sửa chữa, làm mới, ngụy trang, chiến đấu bảo vệ cầu, đường; tổ chức vận tải đường bộ, đường sông bằng phương tiện thô sơ, cơ giới, cả ngày lẫn đêm; tổ chức và bảo vệ hệ thống bến, kho, trạm, binh trạm; tiếp nhận, cất trữ, cấp phát vật chất, vũ khí, trang bị; đưa đón cán bộ, bộ đội vào Nam, ra Bắc; chiến đấu chống địch tiến công đường bộ, đường sông và đường không; phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực của Bộ và LLVT hai nước bạn; đào tạo cán bộ; tổ chức giao liên, văn hóa-văn nghệ; thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh; sửa chữa, khôi phục xe-máy, khí tài, trang bị; phối hợp với cấp ủy, chính quyền, vận động nhân dân các địa phương trên tuyến vận tải chiến lược đi qua... hợp thành tổng thể thống nhất mang tính đa dạng, đặc thù riêng biệt.

Với tầm vóc của một đơn vị binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất, hoạt động trên địa bàn rộng nhất với phương thức đa dạng nhất, Bộ đội Trường Sơn là lực lượng chiến lược góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược, chiến dịch, trong đó có các chiến dịch từ năm 1971 đến 1975.

Lực lượng chi viện chiến lược, hậu phương chiến lược trực tiếp của các chiến trường, chiến dịch

Với thế trận đường vận tải, cơ động như “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”, cùng với lực lượng hùng mạnh của Bộ đội Trường Sơn, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trở thành căn cứ chiến lược, nơi đứng chân của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật. Từ Trường Sơn, các binh đoàn chủ lực xuất phát tham gia nhiều chiến dịch lớn, như: Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Chiến dịch Đường 14-Phước Long cuối năm 1974 đến đầu năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bằng sự nỗ lực cao độ của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn, sức người, sức của chi viện các chiến trường ngày càng tăng. Suốt 16 năm dưới sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển hơn một triệu tấn vật chất, vũ khí giao cho các chiến trường; bảo đảm hành quân cho hơn hai triệu lượt người; vận chuyển 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đoàn binh khí kỹ thuật tham gia các chiến dịch, tiếp sức cho các chiến trường đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch. Khi ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lượng hàng vận chuyển tới các mặt trận lên tới 66.500 tấn. Trong năm 1973 và 1974, lượng hàng giao cho các chiến trường là hơn 403.300 tấn, gấp 3,8 lần giai đoạn 1969-1972. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ đội Trường Sơn làm nên kỳ tích cơ động 3 quân đoàn chủ lực thần tốc từ miền Bắc vào tham gia giải phóng miền Nam.

Bộ đội Trường Sơn thực hiện tốt nhiệm vụ chăm lo sức khỏe cho các đơn vị trên tuyến vận tải chiến lược và các đơn vị hành quân vào Nam, ra Bắc. Từ năm 1966 đến 1975, quân y Bộ đội Trường Sơn đã thu dung gần 430.000 thương binh, bệnh binh; điều trị khỏi về đơn vị tiếp tục chiến đấu gần 325.000 đồng chí (hơn 75,5%), không cứu được 2.518 đồng chí (0,58%), số còn lại chuyển về tuyến sau. Trong các chiến dịch, nhất là Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào năm 1971, quân y Bộ đội Trường Sơn đã cứu chữa hàng nghìn tù binh, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, chính sách tù, hàng binh của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.

Lực lượng tác chiến tại chỗ, đạt hiệu quả cao

Đến giữa năm 1964, khi Bộ đội Trường Sơn phát triển phương thức vận tải cơ giới, đế quốc Mỹ tập trung lực lượng, sử dụng nhiều vũ khí, trang bị hiện đại nhất lúc bấy giờ để tiến hành cuộc “chiến tranh ngăn chặn” với cường độ ngày càng cao. Tính đến khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27-1-1973), Mỹ và tay sai đã huy động 733.000 lần chiếc máy bay đánh phá 152.000 trận; ném xuống các tuyến đường của ta gần 4 triệu tấn bom đạn, vượt xa số bom đạn mà “khối trục” phát xít sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đồng thời, địch mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét, đánh phá, nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta.

Phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu 2.500 trận bộ binh, loại khỏi vòng chiến đấu 18.740 tên địch, bắt 1.190 tên; thu, phá hủy hơn 100 xe quân sự và hàng nghìn súng các loại; bắn rơi 2.455 máy bay các loại, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược. Riêng 6 tháng đầu năm 1972, lực lượng phòng không Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 194 máy bay các loại, trong đó có 71 chiếc rơi tại chỗ; lực lượng bộ binh liên tục chiến đấu, diệt 1.924 tên địch, làm bị thương 1.515 tên, bắt 55 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

Bộ đội Trường Sơn là lực lượng phối hợp tác chiến quan trọng với bộ đội chủ lực trong các chiến dịch. Trong Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 346 máy bay, diệt 8.105 tên địch, bắt 1.160 tên, phá hủy 136 xe tăng, xe cơ giới và 86 khẩu pháo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là một hướng chính của chiến dịch. Cuối năm 1972, Bộ đội Trường Sơn phối hợp với Bộ đội Pathet Lào tiến công giải phóng một vùng rộng lớn từ ngã ba các đường 11, 13 đến Đồng Hến và từ Saravane, Bolaven đến Attapeu ở Hạ Lào. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, nhiều đơn vị của Bộ tư lệnh Trường Sơn trực tiếp tham gia các chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung. Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ đội Trường Sơn sử dụng 6 sư đoàn binh chủng tham gia chiến đấu. Trong đó, 2 sư đoàn ô tô chiến đấu của Bộ đội Trường Sơn đã trở thành lực lượng cơ động bộ binh đi cùng xe tăng, thiết giáp của các quân đoàn chủ lực đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa, Bộ Tổng Tham mưu ngụy và Dinh Độc Lập.

Lực lượng trực tiếp góp phần tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia

 Những năm 1970, 1971, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Ðông Dương. Ở Campuchia, Mỹ tiếp tay cho tập đoàn phản động Lonnon Xirich Matắc đảo chính lật đổ chính phủ trung lập Sihanouk, phong tỏa cảng Sihanoukville, cắt đứt tuyến chi viện đường biển của ta. Ở Lào, chúng sử dụng tay sai tiến công Cánh Đồng Chum, Sảm Thông, Loong Chẹng, Mường Phìn... Bộ đội Trường Sơn đã phối hợp với LLVT và nhân dân hai nước bạn đẩy mạnh tiến công địch ở Trung-Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, giải phóng các khu vực Attapeu, Saravane, Kengcốc, Pha Lan, mở rộng vùng giải phóng đến Tây Nguyên và miền Ðông Nam Bộ, tạo thế và lực mới cho cách mạng 3 nước. Sau cuộc đảo chính của Mỹ và ngụy Lonnon (năm 1970), đường vào cảng Sihanoukville bị cắt, toàn bộ vật chất chi viện cho LLVT Giải phóng Campuchia đều do Bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm. Tháng 2-1973, Bộ đội Trường Sơn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt đưa Quốc trưởng Sihanouk và Hoàng hậu về thăm vùng giải phóng Campuchia theo Đường Trường Sơn.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Bộ đội Trường Sơn tích cực, tận tình giúp đỡ bạn xây dựng, củng cố cơ sở chính trị và LLVT, ổn định đời sống và sinh hoạt cho khoảng 250.000 bà con các dân tộc trên địa bàn hoạt động. Đáp lại tình cảm của Đảng, nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam mà Bộ đội Trường Sơn là đại diện tiêu biểu, trực tiếp, LLVT và nhân dân hai nước bạn đã góp công sức, máu xương xây dựng, chiến đấu bảo vệ tuyến vận tải chiến lược; chở che, giúp đỡ bộ đội và các lực lượng chiến đấu, công tác; tự nguyện dời bản, chuyển nhà để tuyến vận tải chiến lược ngày càng mở rộng, vươn xa...

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, sức mạnh của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa 3 nước Đông Dương được phát huy cao độ, trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần quốc tế vô sản vô tư, trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc vai trò là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa thành công chủ trương của Đảng về xây dựng, củng cố, tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu của 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung.

Chiến tranh ngày càng lùi xa, nhưng dấu ấn Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ năm 1971 đến 1975 sẽ không phai mờ trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử xây dựng, phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.

 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

Ngày 11- 6- 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng mới của toàn dân.

Nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước.

Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.

Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”(1). Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước
 

Tuy thi đua có tính khách quan như vậy nhưng để có phong trào và đạt được những thành tích cao, không hình thức, lãng phí sức người sức của, không đầu voi đuôi chuột, thì “một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua”, nhưng một mặt nữa phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, “sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện”(3). Sự thiết thực và toàn diện của lãnh đạo là ở chỗ tính toán đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua theo yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương, đơn vị, cơ quan, được cụ thể hóa cho mọi đối tượng lao động trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, vừa quan tâm lãnh đạo chính trị tư tưởng, không để chủ nghĩa thành tích chi phối, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện kế hoạch thi đua cá nhân và tập thể.

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thuần túy nghiên cứu trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc năm 1948, cũng không chỉ nghiên cứu trong các bài nói bài viết của Người về thi đua yêu nước, mà còn cần phải nghiên cứu hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong quá trình cách mạng Việt Nam do Người và Đảng ta lãnh đạo. Có như thế mới có thể hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.

Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

Mục đích của thi đua yêu nước là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai; bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều phải trở nên một người chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”(4).


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cánh mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người chỉ rõ: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”(5).

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cánh mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.

Thi đua, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác, khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bởi nó vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ đi sâu vào cuộc sống, lại vừa sâu sắc, toàn diện và hệ thống. Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.

Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều là việc tốt hơn, nhiều hơn và “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng to lớn, thiết thực động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, công cuộc đổi mới của đất nước đang đứng trước cả những thuận lợi và khó khăn. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng của Người về thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần chú ý một số nội dung sau:


Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển điển hình tiên tiến tạo nên phong trào rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở.

Hai là, tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tự lực tự cường, gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… tạo nên sự đồng thuận trong toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phát động các phong trào thi đua.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo ra môi trường lành mạnh, trong sạch để nhân dân yên tâm phấn khởi, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, đồng thời tích cực gắn phong trào thi đua yêu nước với việc phát động toàn dân tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Bốn là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng, thường xuyên đấu tranh phê phán, lên án những hành vi không lành mạnh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.


NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Việc nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu cơ bản, nhân tố quan trọng và là phẩm chất chính trị quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Bản lĩnh chính trị của đội ngũ đảng viên được thể hiện ở sự kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Muốn có bản lĩnh chính trị vững vàng, người đảng viên phải có tri thức, hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng để xây dựng niềm tin khoa học, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Phải thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén, đảm bảo vừa sáng tạo vừa giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của người đảng viên, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện xét lại, phủ nhận, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong điều kiện hiện nay, người đảng viên chân chính phải tự ý thức, trách nhiệm góp phần quan trọng vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch và xây dựng đời sống mới. Trong sinh hoạt đảng phải tích cực tuyên truyền, tôn vinh lối sống có lý tưởng tốt đẹp, tinh thần năng động sáng tạo, đồng thời chống lại tư tưởng thụ động, trì trệ, chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác đang cản trở công cuộc đổi mới, cản trở cái mới tiến bộ.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi đội ngũ đảng viên phải tích cực, chủ động học tập, nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, chủ tr­ương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà n­ước. Đảng viên cần nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin; nắm vững quy luật phát triển, vận động của hiện tượng, sự vật diễn ra hằng ngày để nhận định, đánh giá, xử lý đúng bản chất vấn đề. Mỗi người đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có thái độ bình tĩnh trước mọi vấn đề mới nảy sinh để tìm ra giải pháp giải quyết.

Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện Điều lệ và Quy định kỷ luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu trong tiếp thu thông tin và đấu tranh trên mạng xã hội để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tinh hóa văn hóa mà các thế hệ cha ông chúng ta đã dày công gây dựng.