Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

Đề cao tự trọng, hình thành văn hóa công vụ

Miễn nhiệm, từ chức không phải là phạm trù mới, bởi đã được thể chế hóa bằng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước từ nhiều nhiệm kỳ trước. Trên thực tế, Bộ Chính trị đã đưa ra những căn cứ cụ thể để xem xét cho cán bộ thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức tại Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009. Tuy nhiên, suốt thời gian dài thực hiện, câu hỏi khi nào miễn nhiệm, từ chức trở thành việc làm bình thường, cán bộ tự giác rời vị trí khi không còn đủ năng lực, uy tín trong hệ thống cơ quan Đảng, Nhà nước, vẫn chưa có lời đáp thỏa đáng.

Kết quả hơn 2 năm thực hiện Quy định số 41 củng cố niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về việc nói đi đôi với làm, làm nghiêm từ trên xuống, không có vùng cấm, không có vùng trống, không ngoại lệ, không đặc quyền, bất kể người đó là ai. Hiệu lực thi hành của Quy định số 41 trong thực tế thêm khẳng định mạnh mẽ quyết tâm và quan điểm nhất quán của Ðảng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực; phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời đáp ứng mong mỏi của cán bộ, đảng viên và nhân dân về một chính đảng trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính trị liêm chính, là ghi nhận sự chuyển biến mới về tác phong, văn hóa lãnh đạo, quản lý.

Việc nêu gương của Trung ương trong thực hiện Quy định số 41 đã lan tỏa thông điệp về giá trị của lòng tự trọng trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, thúc đẩy nét văn hóa mới, ứng xử văn minh trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ, gắn trách nhiệm của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tập thể lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị. Với bộ “công cụ” hữu hiệu này, nhiều cấp ủy, lãnh đạo địa phương, đơn vị có căn cứ cụ thể để thay thế nhanh hơn, sàng lọc ra khỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, mà không phải chờ hết nhiệm kỳ hoặc hết thời hạn bổ nhiệm, để việc cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm trở thành bình thường trong công tác cán bộ, như Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII đề ra.

Khẳng định niềm tin và kỳ vọng vào những điểm đột phá mới, đồng chí Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng tư vấn các vấn đề văn hóa xã hội cho biết, song hành với quá trình phát triển đất nước luôn tiềm ẩn những nguy cơ, có tác động tiêu cực dẫn đến biểu hiện suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, Đảng xác định, cái gốc của tham nhũng, tiêu cực là ở sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tài sản mất có thể thu hồi, nhưng mất tư cách đạo đức, phẩm chất chính trị là mất tất cả.

Việc Trung ương và một số cấp ủy triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định số 41 đã thể hiện rõ tinh thần song hành giữa xây và chống. Mục đích cao nhất như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn nhấn mạnh, đó là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; từ đó để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính, nên cần phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu; phải tăng cường giáo dục kỷ luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, dùng kỷ luật nghiêm minh và giám sát nghiêm khắc để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, nhớ điều cấm, giữ giới hạn…

Giải pháp nào để miễn nhiệm, từ chức trở thành việc bình thường, để mục tiêu xây dựng môi trường công vụ liêm chính đạt hiệu quả tối ưu, theo đồng chí Nguyễn Túc, trong bối cảnh hiện nay, nếu giáo dục, rèn luyện đảng viên không đạt được cần, kiệm, liêm chính thì khi biết mắc sai lầm, khuyết điểm, không phải cán bộ nào cũng sẵn sàng từ chức. Trong một số trường hợp, trách nhiệm thuộc về tổ chức. Khi cán bộ được giao trách nhiệm, thẩm quyền về công tác cán bộ còn nghĩ đến lợi ích cá nhân thì công tác miễn nhiệm, từ chức còn gặp khó...

Do đó, muốn quy định của Đảng đi vào cuộc sống, trước hết cần quan tâm trọng dụng người tài, đức ngay từ đầu. Lựa chọn cán bộ trước hết phải chọn người toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Song song quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, cần coi trọng kiểm tra, thanh tra, giám sát, để người không đủ phẩm chất năng lực, uy tín không muốn cũng buộc phải miễn nhiệm, từ chức.

Nhìn vào kết quả công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua, nhiều ý kiến bày tỏ vừa mừng, vừa lo. Mừng vì Đảng đã quyết tâm, tập trung và làm thật. Lo là bởi sự suy thoái đã “leo cao, trèo sâu”, với biểu hiện ngày càng tinh vi, mức độ thiệt hại ngày càng lớn. Vì đâu nên nỗi là câu hỏi xót xa thường được đặt ra trước mỗi quyết định miễn nhiệm hay thi hành kỷ luật đảng. Bởi nhiều cán bộ, đảng viên đã trải qua quá trình rèn luyện, phấn đấu, nỗ lực không ngừng, nhưng đã không giữ nổi bản thân trước cám dỗ tầm thường.

Quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là “vòng kim cô” để nắn chỉnh các biểu hiện, hành vi vi phạm của cán bộ, đảng viên. Nhưng cũng chẳng thể nào có biện pháp triệt để nếu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền không tự ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không nhận rõ trách nhiệm, bổn phận, tự đánh mất mình./.

 

 

HỒ CHÍ MINH ĐẸP NHẤT TÊN NGƯỜI

 Xuyên tạc, vu khống nhằm bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch. Vẫn cách làm cũ, hoặc là lộng giả thành ngôn của mấy nhà “khoa học” bán linh hồn cho quỷ; hoặc chửi đổng, cắn càn của mấy tay “bí từ”, “ít chữ” lại “chăm chỉ” trích dẫn “thâm ý” của mấy nhà “khoa học” kia. Mới đây “Kỳ Cốc Tử” đã thể hiện đúng bản chất “bí từ”, “ít chữ” qua bài “Những cái “tài” của HCM” đăng trên mạng xã hội. Bài viết không có gì mới, bọn chúng chỉ nhai đi nhai lại nội dung cũ rích.

“Hồ Chí Minh không phải là tác giả tập Ngục Trung Nhật Ký”. Riêng vấn đề này chúng tôi đã có bài viết rất cụ thể trên trang blog Nhanvanviet. Mời mọi người cùng tìm hiểu và tham khảo thêm cho tỏ tường. Chỉ bấy nhiêu thôi để thấy rõ cái sự xảo ngôn, bất tín của “Kỳ Cốc Tử”, nên không có lý do nào để tin, nghe bọn chúng nữa.
Nói thêm rằng, trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có rất nhiều tên gọi, bí danh hay bút danh khác nhau. Mỗi tên gọi, bí danh hay bút danh của Người đều có một ý nghĩa riêng, đều phục vụ lợi ích cách mạng. Hiện nay, chúng ta đã có điều kiện sưu tầm, xác thực 175 tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ, ngoài ra vẫn còn khoảng 30 tên gọi, bí danh, bút danh được cho là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cơ sở để khẳng định chắc chắn hoặc chứng minh cụ thể Bác đã dùng vào thời gian nào, trong trường hợp nào, nên vẫn chưa thể công bố chính thức. Trong đó 175 tên gọi, bí danh, bút danh đã xác thực nổi bật nhất là hai cái tên “Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh”.
Nguyễn Ái Quốc - Người viết cáo trạng thực dân Pháp và vạch đường, chỉ lối cách mạng cho quốc dân đồng bào.
Nguyễn Ái Quốc - Tên này có khi Nguyễn Tất Thành ở Pháp cùng sinh hoạt chung với nhóm người gồm các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Nguyễn Tất Thành là người đến gia nhập nhóm sau cùng. Song tên mới Nguyễn Ái Quốc thực sự được nhiều người biết đến khi Người thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, ngày 18/6/1919 gửi lên Hội nghị Véc xây bản yêu sách 8 điều của nhân dân Việt Nam, đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người viết hàng trăm bài phục vụ sự nghiệp tuyên truyền cách mạng. Trong khoảng thời gian từ 1919 đến 1926, bút danh Nguyễn Ái Quốc được sử dụng nhiều nhất, với hai tác phẩm quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925); “Đường cách mệnh” (1927). Với “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của thực dân Pháp nói riêng và chủ nghĩa đế quốc nói chung để thức tỉnh đồng bào Việt Nam và các dân tộc bị áp bức. Còn “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã vạch đường, chỉ lối định hướng hành động cách mạng cho quốc dân đồng bào Việt Nam đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến giành lại độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh - Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.
Danh xưng “Hồ Quang” hay “Hồ Chí Minh” ban đầu được Bác sử dụng như là một bí danh. Vào thời điểm cuối năm 1938, từ Liên Xô trở lại Trung Quốc hoạt động, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng cái tên “Hồ Quang”. Ngày 13/8/1942, Người quay lại Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam. Lúc này, cái tên “Hồ Chí Minh” đã lần đầu tiên đã được Bác chính thức sử dụng trong các giấy tờ cá nhân. Đến ngày 2/9/1945, trong phần cuối bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chữ ký “Hồ Chí Minh” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức sử dụng cùng với chữ ký của 13 người khác là những vị Bộ trưởng đầu tiên trong Chính phủ mới, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bằng đường lối kháng chiến đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lèo lái con thuyền cách mạng vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi hoàn toàn thực dân, phong kiến, đế quốc, tay sai thu non sông về một mối, đưa cả nước vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam, mà còn cho cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì lương tri và phẩm giá con người, vì hòa bình trên thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.
Trong khóa họp lần thứ 24 (từ 20/10 - 20/11/1987) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam".
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 11/2013, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã viết trong sổ lưu niệm: “nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai... Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân."
Những ngày tháng 5 lịch sử, kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), kỷ niệm 134 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2024), là dịp để mỗi chúng ta thêm phần khắc sâu công ơn to lớn của Người, từ đó, tiếp tục nỗ lực, phấn đấu lao động, học tập, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị./.
St

Bước tiến trong nhận thức về phòng chống tham nhũng

Kết quả thực hiện đồng bộ một số quy định được Trung ương ban hành từ đầu nhiệm kỳ đến nay cho thấy những bước tiến mới trong nhận thức về đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ tập trung các hành vi tham ô, nhận hối lộ, đưa hối lộ, làm trái quy định, thất thoát tài sản nhà nước mà đã gắn phòng chống tham nhũng với phòng chống tiêu cực, trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; không chỉ khu vực nhà nước mà đã mở rộng tới khu vực ngoài nhà nước. Theo đó, Trung ương nhất quán quan điểm song hành giữa xây và chống để xử lý nghiêm hành vi sai phạm, đồng thời khuyến khích người có sai phạm tự giác nhận khuyết điểm, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, từ chức…

Qua một số kỳ họp từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã xem xét, đồng ý để một số cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước thôi giữ các chức vụ đương nhiệm, một lần nữa ghi nhận hiệu lực thi hành Quy định số 41 sau hơn 2 năm đi vào cuộc sống. Các quyết định của Trung ương được đưa ra căn cứ theo các quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước và xem xét nguyện vọng cá nhân của cán bộ; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thể hiện trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu trong việc miễn nhiệm, từ chức, đồng thời kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ.

Điều 7, Chương II tại Quy định số 41 quy định rõ trách nhiệm người đứng đầu, khi cấp có thẩm quyền kết luận để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Đối với các trường hợp cán bộ bị miễn nhiệm thời gian gần đây, các đồng chí đều phải chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để xảy ra nhiều vi phạm tại cơ quan, đơn vị, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự, xử lý kỷ luật đảng, hành chính. Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan chức năng đã kết luận về những vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và trách nhiệm người đứng đầu. Những vi phạm, khuyết điểm của các đồng chí đã gây dư luận xấu, ảnh hưởng uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân cán bộ dẫn đến hệ quả tất yếu đối với mỗi người, đồng thời, để lại những bài học sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền nhưng thiếu rèn luyện, tu dưỡng, mất khả năng tự “đề kháng” trước cám dỗ tầm thường của danh lợi.

Đánh giá về hiệu quả thi hành Quy định số 41, nhiều ý kiến tâm huyết của cán bộ, đảng viên bày tỏ sự đồng tình và khẳng định niềm tin vào bước đột phá trong tư duy “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trong công tác cán bộ và nhất là sự nghiêm minh trong kỷ luật đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Quy định đi vào cuộc sống đã góp phần quản lý, sàng lọc đội ngũ cán bộ, từng bước xây dựng và hình thành văn hóa từ chức trong các cơ quan công quyền./

 

HOÀI BÃO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, NHÂN DÂN ĐƯỢC SỐNG HẠNH PHÚC

 Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Nhân dân sống trong cảnh lầm than, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp thu tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, dành trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để Nhân dân ta được sống hạnh phúc.

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin
Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lên con tàu Amiral La Touche De Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng, khởi đầu hành trình tìm đường cứu nước kéo dài suốt 30 năm, để rồi sau đó mang về ánh sáng tự do cho dân tộc. Sau hành trình đầy gian khổ qua nhiều nước như Pháp, Anh, Mỹ…, năm 1917, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quay trở lại Pháp.
Tại đây, Bác Hồ kính yêu của chúng ta tham gia thành lập Hội Những người An Nam yêu nước và trở thành nòng cốt của hội với tên gọi Nguyễn Ái Quốc. Thời gian này, Bác soạn thảo Bản yêu sách 8 điểm của Nhân dân An Nam gửi tới lãnh đạo các cường quốc dự Hội nghị Versailles năm 1919.
Trên suốt chặng đường gian khổ ấy, với hành trang là lòng yêu nước vô bờ bến và khát vọng mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc, đó là cách mạng vô sản.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Qua luận cương, Người đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.
Sau 30 năm bôn ba, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo để làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Tự do, độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ…”. Quan điểm đó của Người khẳng định rằng, quyền độc lập, tự do của các dân tộc là những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm, là quy luật khách quan của xã hội loài người mà tất cả các dân tộc đều được hưởng.
Và công cuộc đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền độc lập, tự do của dân tộc được đánh đổi bằng xương máu thiêng liêng của các thế hệ, của cả dân tộc. Vì vậy, mọi sự xâm phạm liên quan đến quyền độc lập, tự do của dân tộc đều trái với đạo lý và lẽ phải, đều xâm phạm một cách nghiêm trọng quyền thiêng liêng vốn có của các dân tộc.
Trên cơ sở nghiên cứu các cuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra những bài học kinh nghiệm đối với cách mạng Việt Nam, rằng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi…”. Có nghĩa, đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của dân tộc thì đó phải là độc lập, tự do thực sự, hoàn toàn, triệt để.
Người khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”; “Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập, “có Quốc hội riêng”, “Chính phủ riêng”, “quân đội riêng”, “ngoại giao riêng”, “kinh tế và tài chính riêng””.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, dân tộc ta phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Thực hiện lời Bác Hồ dặn trước lúc đi xa, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, lần lượt đánh cho Mỹ cút (năm 1973), đánh cho ngụy nhào (năm 1975), giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Giải phóng Tổ quốc phải đem lại hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân
Đấu tranh giành lại quyền độc lập, tự do cho dân tộc là mục tiêu, lẽ sống, khát vọng của dân tộc Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, mục tiêu và khát vọng đó chỉ thật sự có được khi mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phồn vinh thật sự cho Nhân dân.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Với trí tuệ hơn người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy mục tiêu của con đường đấu tranh vì quyền độc lập, tự do của dân tộc là tiến lên CNXH, có nghĩa là phải gắn độc lập dân tộc với CNXH.
Bởi theo Người, chỉ có CNXH, Chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, đấu tranh giành lại quyền độc lập, tự do cho dân tộc mới chỉ là giai đoạn đầu tiên, là tiền đề, cơ sở vững chắc để tiến lên CNXH, để xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.
Để hiện thực hóa hoài bão đó, Người nhấn mạnh: Chúng ta phải thực hiện ngay là làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do, độc lập.
Và CNXH là con đường để củng cố và bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của dân tộc; là điều kiện cơ bản, quyết định đối với dân tộc, góp phần tạo ra sức đề kháng có khả năng loại trừ và chống lại mọi âm mưu xâm chiếm đe dọa đến quyền độc lập, tự do của dân tộc./.
St

ÂM MƯU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH KINH TẾ TẠI VIỆT NAM

 


          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mượn cớ “ sự quan tâm”, “phản biện xã hội” nhiều kẻ cơ hội, thù địch đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng thường xuyên tạc về tình hình kinh tế ở Việt Nam, bài viết “Thành quả của chính sách “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa” của Nguyễn Văn Chử đăng trên “doithoaionline” gần đây cho thấy sự trơ trẽn, lố bịch của một kẻ thù địch với giọng điệu hằn học, thù địch, chống phá nước nhà. Bbài viết đã xuyên tạc trắng trợn nền kinh tế tại Việt Nam như “tài nguyên quốc gia qua chính sách công hữu đã bị cạn kiệt”, “tham nhũng, bất công xã hội đầy rẫy và khủng khiếp”… Qua đó, cho thấy tính chất nguy hiểm trong âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nếu không nâng cao cảnh giác và chủ động ngăn chặn, đối phó có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thử hỏi lại Nguyễn Văn Chử , nếu tham nhũng, bất công xã hội đầy rẫy và khủng khiếp như Y nói thì việc Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay không?

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “ ĐẠO TRÍCH ” CỦA PHẠM TRẦN

 


          Mới đây, trên trang “Doithoaionline” đăng tải bài viết với tựa đề “Hiện tượng chống Đảng từ bên trong”. Đây là bài viết có rất nhiều thông tin sai trái, phản động, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trước thềm Đại hội XIV của Đảng.

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN

 


          Với chủ trương, chính sách đúng đắn, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài của nước ta đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, vẫn còn những tiếng nói lạc điệu, cố tình phớt lờ thực tế đó, ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, cũng như kết quả về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Trong bài viết “Nghị quyết 36 về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, một mốc son trong đời công tác của tôi” đăng trên các trang mạng xã hội, Nguyễn Đình Bin đã đưa ra những quan điểm phiến diện, không khách quan, phủ nhận thành tựu trong hòa hợp, đoàn kết dân tộc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng khi cho rằng “đất nước ta chưa hòa giải, hòa hợp được dân tộc”, “nguyên nhân của những hạn chế đó.. là do Đảng không đổi mới, độc quyền”… Đây là những luận điệu sai trái hòng cản trở quá trình hòa hợp, đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta.

BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC CHO RẰNG CHÚNG TA KHÔNG CÓ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP TRONG XÂY DỰNG CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


          Vừa  qua, trên trang “Boxitvn” Chu Hồng Quý đăng tải bài viết “Tăng cường phản biện xã hội để Đảng tiến bộ, Chính phủ hoạt động hiệu quả, Đất nước văn minh hơn”. Quý cho rằng: “chúng ta không có phản biện độc lập”; rằng: “Vì không nghe lời phản biện của giới chuyên gia cảnh báo nên 528 triệu USD mà PVEP/PVN mất trắng đầu tư sang Venezuela như đổ sông đổ biển”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm thực hiện âm mưu kích động quần chúng nhân dân, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Những âm mưu, thủ đoạn này đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội, mà chính là gây phức tạp tình hình xã hội; chúng đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội.

HIỆU QUẢ 10 NĂM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHIẾN SĨ NGHĨA VỤ TRONG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH CAO BẰNG” ĐÃ GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

 

Phát triển đảng viên mới là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của Đảng ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Mình vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người sáng lập Đảng ta đã từng căn dặn “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”. Qua các kỳ đại hội và thực tiễn chứng minh, công tác phát triển đảng viên có vai trò cực kỳ quan trọng, là nhiệm vụ thường xuyên, có tính quy luật, đảm bảo sự kế thừa, phát triển của Đảng ta. Thực tiễn từ hiệu quả 10 năm thực hiện đề án “phát triển đảng viên là chiến sĩ nghĩa vụ trong bộ đội biên phòng tỉnh cao bằng”đã góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng về công tác xây dựng đảng hiện nay.

QUÂN ĐỘI LÀ CHỖ DỰA VỮNG CHẮC, TIN CẬY CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN

 

“Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xoá đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh.


Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất."


Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch Covid-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.”


✍Tổng Bí thư Nguyễn Phú TrọngQUÂN ĐỘI LÀ CHỖ DỰA VỮNG CHẮC, TIN CẬY CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN


“Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xoá đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh.


Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất."


Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch Covid-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA LÍNH NGỤY VÀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 ✨️SỰ KHÁC BIỆT GIỮA LÍNH NGỤY VÀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Nguyễn Văn Chung, cựu đại tá Biệt Cách dù của quân Ngụy Sài gòn từng kể câu chuyện bị Cộng Sản bắt:

"Hồi năm 1970, nghe nói có nhiều Phi Công Mỹ bị bắt và t-r-a t-ấ-n d-ã m-an lắm, nên trên phòng tác chiến có ra lệnh cho anh em chúng tôi cải trang thành bộ đội Bắc Việt rồi nhảy dù xuống Thái Nguyên, rồi từ đó lần về Hà Nội tìm cách cứu tù binh Mỹ, ngày 28 tháng 3 chúng tôi đổ bộ thuận lợi không ai biết, từ đó đi theo bản đồ hơn 4 ngày đường thì về tới Vĩnh Phúc, phần vì để giữ bí mật, phần vì để thám thính nên chúng tôi cứ đi lặng lẽ tắt qua các cánh đồng.


Đến hôm 1/4 thì chúng tôi mệt và đói, chúng tôi mò vào nhà một cụ già xin cơm ăn, vì chúng tôi biết ở Bắc Việt quân với dân sống lẫn với nhau.


Cụ già đó đón tiếp bọn tôi rất nhiệt tình vì tưởng bọn tôi là bộ đội, bà lúi húi nấu cơm tụi tôi tranh thủ ngả lưng, một lát sau, cơm chín bà cụ gọi tụi tôi dậy ăn cơm, ăn cơm xong tụi tôi đi tiếp được gần 1 đoạn đến đầu làng thì bị bắt, chúng tôi lúc đó rất hoang mang, không biết sao bị lộ, một lính Bắc Việt tỏ ra khá bất ngờ hỏi cụ già là: trông chúng nó không khác gì bộ đội thực thụ, sao cụ biết là Biệt kích.


Bà ấy thành thực trả lời:

- Bu sống từng tuổi này rồi mà chưa thấy chú bộ đội nào ăn xong lại để bu phải rửa bát cả. Thế nên, tụi nó chỉ có là lính Ngụy thôi.


- Nguồn: Sưu tầm

💫Câu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng - Đến thăm trường thiếu nhi miền Nam

 💫Câu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng - Đến thăm trường thiếu nhi miền Nam


Nghe tin Bác đến thăm trường thiếu nhi miền Nam, các cô chú phụ trách trường tíu tít chuẩn bị, trang hoàng hội trường đón Bác.

Khi Bác đến, tất cả mọi người ùa ra đón Bác và đưa Bác đến hội trường đã được chuẩn bị cờ, hoa lộng lẫy. Nhưng Bác đề nghị dẫn Bác đến nhà bếp và phòng ngủ xem các cháu có được ăn no, ngủ ấm và chăm sóc chu đáo không. Sau đó Bác lấy ra một gói kẹo lớn chia đều cho các cháu. Đang nhìn các cháu ăn kẹo, Bác chợt nhận ra có 1 cháu đang đứng ở góc phòng, nét mặt buồn xo. Bác gọi lại hỏi:

- Cháu tên là gì? Vì sao lại đứng ở đây?

- Cháu tên là Tộ. Vì cháu phạm lỗi, tay bẩn không rửa nên các cô chú phạt, không cho nhận kẹo của Bác.

Bác cười bảo bạn Tộ đi rửa tay rồi chia kẹo cho Tộ, sau đó Bác dạy:

- Từ nay, cháu phải luôn giữ gìn đôi tay cho sạch nhé. Bàn tay con người rất đáng quý.

Bạn Tộ rất cảm động trước sự chăm sóc ân cần của Bác. Từ đấy, bạn luôn giữ đôi tay sạch sẽ và rửa tay sạch trước khi ăn.

Bài học kinh nghiệm từ câu chuyện về Bác:

Biết sai mà nhận đã đáng quý, biết sai còn biết sửa càng đáng quý hơn. Vì tấm lòng bao dung của Bác, Tộ không chỉ cảm động mà còn tự rèn thói quen tốt cho bản thân mình.

KỲ TÍCH ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

 💫KỲ TÍCH ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH


Việc mở đường Hồ Chí Minh là một sáng tạo chiến lược độc đáo của Đảng ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần tạo nên những kỳ tích trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tuyến vận tải quân sự chiến lược


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng về nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách. Trước tình hình đó, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. 


Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây cũng là ngày truyền thống của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.


Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng, vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000 km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000 km; đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400 km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc. Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.


Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ đội Trường Sơn, qua tuyến đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu. Cùng với vận chuyển hàng quân sự, tuyến giao thông vận tải Trường Sơn đã bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đi vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận lớn, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh. Không chỉ là tuyến vận chuyển sức người và hàng hóa từ hậu phương ra tiền tuyến, Trường Sơn còn có một vị trí chiến lược quan trọng như là “xương sống” ở bán đảo Đông Dương, là nơi “đứng chân” của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật; là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng.


Trong suốt 16 năm, Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, góp phần to lớn làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Phát huy kỳ tích đường Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần có một tuyến đường hoàn chỉnh, thống nhất, xuyên suốt nhằm đáp ứng cho hoạt động phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm 1996, Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu quy hoạch tuyến đường để hình thành trục dọc đường bộ thứ hai ở phía Tây đất nước với tên gọi ban đầu là Xa lộ Bắc Nam (nay là đường Hồ Chí Minh).   


Ngày 24/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 789/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể Xa lộ Bắc Nam với điểm đầu tại Hòa Lạc (Hà Tây, nay là Hà Nội), điểm cuối tại ngã tư Bình Phước (TP. Hồ Chí Minh), tổng chiều dài xấp xỉ 1.800 km, cơ bản bám theo hướng tuyến của các Quốc lộ 21A, 15A, 15B, 14 và 13. Đồng thời, Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu nhánh phía Tây từ Khe Gát (Quảng Bình) đến Thạnh Mỹ (Quảng Nam).


Ngày 3/12/2004, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38/2004/QH11 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh là công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến là 3.167 km (trong đó tuyến chính dài 2.667 km, tuyến nhánh phía Tây dài 500 km); điểm đầu là Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), điểm cuối là Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Ngày 15/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể đường Hồ Chí Minh.


Ngày 5/4/2000, tại bến phà Xuân Sơn, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Chính phủ đã phát lệnh khởi công xây dựng; đến ngày 21/3/2008, Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng đã tiến hành nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 (đoạn từ Thạch Quảng tới Ngọc Hồi).


Không phải đến khi nghiệm thu cấp nhà nước, đường Hồ Chí Minh mới được đưa vào khai thác, mà ngay từ năm 2003, rất nhiều tuyến trên đường Hồ Chí Minh sau khi nghiệm thu cơ sở đã phát huy hiệu quả, tạo ra diện mạo mới cho nhiều vùng quê từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và từ Bắc chí Nam. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đường Hồ Chí Minh trở thành trục giao thông chính, nối thông phía Bắc Tây Nguyên với các tỉnh miền Trung và liên thông sang nước bạn Lào và Campuchia.


Đường Hồ Chí Minh là một công trình to lớn, mang theo ý nguyện của Đảng, mong ước của nhân dân, là một công trình có tính chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đến nay, mặc dù chưa hoàn thành 100%, nhưng đường Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả thực tế. Trong những năm tới, nhất là khi hoàn thành nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau), đường Hồ Chí Minh sẽ càng đóng góp to lớn hơn, làm nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.



Đấu tranh chống chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước - Nhìn từ cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 💫Đấu tranh chống chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước - Nhìn từ cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng


Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu, làm rõ thực trạng cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; đồng thời vạch ra những nhiệm vụ, giải pháp để phòng trị, ngăn chặn thực trạng này. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn rất quan trọng để đấu tranh với những chiêu trò, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù định, lợi dụng hiện tượng một bộ phận CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta; đồng thời là cẩm nang quý để xây dựng đội ngũ CBCCVC toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.


Nhận diện, đấu tranh với chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ, công chức, viên chức sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta


Trách nhiệm của CBCCVC là thực hiện đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó để phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng. Thời gian qua, nhiều địa phương, đơn vị xuất hiện tình trạng một bộ phận CBCCVC không thực hiện hoặc chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp, địa phương, đất nước. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu xuyên tạc để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vì thế, cần vạch rõ bản chất của âm mưu, thủ đoạn đen tối này để có giải pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.


Thứ nhất, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.


Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm không phải mới có mà đã tồn tại từ lâu, mang tính bản chất của chế độ ta, từ đó, quy chụp bộ máy nhà nước ta biến chất, cần phải xây dựng một bộ máy nhà nước khác (?!).


Sự thật là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó, hàng triệu đảng viên và CBCCVC trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thậm chí có người đã hy sinh cả tính mạng của mình vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng. “Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng chăm lo đời sống nhân dân. Đảng luôn luôn coi việc bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân là trách nhiệm to lớn thường xuyên của mình”(1). Nhưng, bên cạnh những CBCCVC luôn giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, cũng có một bộ phận CBCCVC thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngại khó, ngại khổ, sợ trách nhiệm, nên không dám làm mà né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà lấy hiện tượng để đánh giá bản chất, khi cho rằng CBCCVC trong hệ thống chính trị của chúng ta đều xấu, rằng “cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất” của nhà nước ta, bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “nếu xấu như vậy thì tại sao những năm qua chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn mà cả thế giới thừa nhận, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao?”(2). Đảng ta sẵn sàng nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh những thành tựu trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên, CBCCVC, thời gian qua, vẫn còn một bộ phận đảng viên, CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm và đặt ra yêu cầu phải đấu tranh không khoan nhượng với những hạn chế, khuyết điểm đó. “Chiến đấu ở đây không phải chỉ hiểu đơn thuần là chiến đấu với kẻ thù, mà chiến đấu với tình trạng trì trệ, không phát triển; chiến đấu với việc làm sai trái; chiến đấu với chính bản thân mình để vượt lên những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; chiến đấu chống lại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”(3).


Thứ hai, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do chế độ một đảng lãnh đạo.


Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, do ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo nên quyền lực chính trị tập trung, hạn chế sự sáng tạo của các cá nhân, dẫn đến nhiều CBCCVC thụ động, không dám có sáng kiến, coi “ý đảng” đứng trên pháp luật. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng, cần thực hiện đa nguyên, đa đảng, để quyền lực không còn tập trung, để có pháp luật bảo vệ (?!)


Sự thật là, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4), “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5). Do đó, không có chuyện Đảng đứng trên pháp luật hay không theo pháp luật để lãnh đạo đất nước; nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn với nhau, bởi pháp luật chính là sự thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm được thể hiện trong nghị quyết của Đảng và nghị quyết của Đảng cũng không thể trái pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không can thiệp vào công việc cụ thể của Nhà nước mà chỉ định hướng hoạt động thông qua nghị quyết, đường lối của Đảng; thông qua tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; thông qua đội ngũ đảng viên trong bộ máy nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu của đảng viên. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân công quyền lực, nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kế thừa những nhân tố hợp lý của mô hình nhà nước pháp quyền của nhân loại với mục tiêu bảo đảm cho pháp luật trở thành tối thượng, được thực thi trên thực tế. Điều đó thể hiện ở việc Đảng ta chỉ đạo thể chế hóa tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(6). Như vậy, quyền lực nhà nước vẫn bảo đảm được vận hành hiệu quả “trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(7). Ở Việt Nam, dù một đảng lãnh đạo, dù chúng ta không thực hiện tam quyền phân lập, song vẫn bảo đảm Hiến pháp là tối thượng thông qua nguyên tắc pháp quyền. Không có cá nhân, tổ chức nào hoạt động đứng ngoài hay đứng trên pháp luật. Pháp luật ở nước ta đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC trong hoạt động công vụ(8) và đó cũng là cơ sở để xác định rõ trách nhiệm của CBCCVC. Vì vậy, để khắc phục tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, vấn đề cốt yếu không phải là “thay đổi thể chế chính trị” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc, mà chính là cần phải hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán.


Thứ ba, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng, cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá quyết liệt.


Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ nhằm “đấu đá nội bộ, triệt phe cánh đối lập”; do Đảng ta xử lý kỷ luật mạnh tay những đảng viên, CBCCVC tham nhũng, tiêu cực, cả những cán bộ đã nghỉ hưu, lật lại những vụ tham nhũng, tiêu cực cách đây nhiều năm, nên nhiều CBCCVC sợ trách nhiệm vì mang tâm lý “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm thì không sai”, né tránh trách nhiệm để bảo đảm “an toàn”(?!).


Phát biểu tại Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”(9). Tổng Bí thư khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh”(10).


Ngoài ra, thực tế cho thấy, tình trạng sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém của một bộ phận CBCCVC do hạn chế về năng lực, về phẩm chất, đạo đức hay đã từng mắc phải sai phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nay sợ bị phát hiện và bị xử lý, nên không dám làm hoặc làm “cầm chừng”, “đối phó”, né tránh trách nhiệm để mong được “an toàn”. Cần nhận thức rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt thời gian qua là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển đất nước, “chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”(11). Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, giảm bớt sự nhũng nhiễu của một bộ phận CBCCVC đối với người dân, doanh nghiệp, qua đó, ngày càng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Như vậy, rõ ràng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mang lại nhiều lợi ích, không hề “làm cản trở sự phát triển của đất nước” như các thế lực thù địch xuyên tạc.


Giải pháp phòng, trị bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm


Tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như một căn bệnh đã và đang gây nhiều tác động tiêu cực đối với sự phát triển đất nước. “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”(12). Trước hết, bệnh sợ trách nhiệm làm cho nhiều CBCCVC thụ động trong công việc, đùn đẩy trách nhiệm. Vì vậy, nhiều nhu cầu thiết thực, chính đáng của người dân, doanh nghiệp không được giải quyết kịp thời, dẫn đến sự suy giảm niềm tin đối với bộ máy công quyền. “Người sợ trách nhiệm thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn. Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm về những việc sẽ xảy ra, cho nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Vì sợ trách nhiệm mà đi đến bảo thủ”(13). Đáng lo ngại hơn, bệnh sợ trách nhiệm còn làm cho những khuyết điểm trong thực thi công vụ không được chỉ ra, vì “Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới. Lấy cớ phải có tác phong “thận trọng, chín chắn”, phải “giữ gìn đoàn kết”, các đồng chí đó không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”(14).


Để phòng, trị có hiệu quả những tác hại nghiêm trọng của căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm của một bộ phận CBCCVC, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp:


Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân là do hệ thống pháp luật hiện hành còn những bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, có thể cùng một vấn đề nhưng có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, dễ sai phạm, nên nhiều CBCCVC né tránh việc thực hiện. Vì vậy, cần quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật, đặc biệt là các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ, dễ hiểu, dễ triển khai thực hiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để CBCCVC tự tin thực thi trách nhiệm công vụ trong chức trách, thẩm quyền của mình.


Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể trong hoạt động công vụ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Hiện nay còn có những cơ quan, đơn vị vì phân công không rõ ràng, quy định không rành mạch về trách nhiệm và quyền hạn của từng người cho nên không thể đánh giá đúng ai làm tốt, ai làm không tốt; khi xảy ra việc làm sai gây tổn hại cho Đảng và Nhà nước thì chỉ có thể kiểm điểm tập thể chung chung, không biết quy trách nhiệm cụ thể về ai”(15). Do đó, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương một người có thể làm nhiều việc nhưng công việc nào cũng phải có người phụ trách, quy định và phân biệt rạch ròi trách nhiệm cá nhân và tập thể, tránh trường hợp “tranh công đổ lỗi”, khi thành công thì nhận thành tích cá nhân, khi thất bại, kém hiệu quả lại đổ lỗi cho tập thể. Đặc biệt, cần có những quy định xác định rõ trách nhiệm cá nhân không chỉ khi thực hiện sai quy định pháp luật mà còn cả khi không thực hiện đầy đủ theo thẩm quyền được giao, để công việc bị chậm trễ. Khi trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công vụ rõ ràng sẽ hạn chế được tình trạng CBCCVC không dám làm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.


Thứ ba, phát huy dân chủ trong thực thi công vụ. Tình trạng cấp trên bao biện, không chú ý lắng nghe ý kiến và trao quyền cho cấp dưới đã và đang xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, tạo ra một đội ngũ CBCCVC thụ động, không dám làm, không dám quyết định và né tránh trách nhiệm. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Có những cán bộ cấp trên không tôn trọng chức trách, quyền hạn của cấp dưới, đã không chú ý đề cao, phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ cấp dưới, rồi tự cho mình là đi sâu đi sát, là có tác phong cụ thể. Cách làm việc như vậy thường khiến cho những cán bộ vốn ỷ lại, thụ động dễ dàng lẩn tránh trách nhiệm. Cũng có trường hợp người lãnh đạo ở cấp trên không khách quan lắng nghe ý kiến của cán bộ cấp dưới, chỉ muốn nghe những lời khen và đồng tình với mình, không thích những cán bộ có ý kiến trái với mình, cho nên không cổ vũ, khuyến khích cán bộ cấp dưới độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo trong công việc và thẳng thắn phát biểu, đề đạt ý kiến. Thái độ đó của cấp trên thực tế là ủng hộ những cán bộ sợ trách nhiệm, những người “chỉ làm những việc mà người ta bảo làm””(16). Do đó, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền nhiều hơn cho cơ quan cấp dưới, cán bộ cấp dưới để họ có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phong cách lãnh đạo và làm việc dân chủ, luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cấp dưới, khuyến khích cấp dưới phát biểu, đối thoại, đề ra sáng kiến, kể cả trái với quan điểm của mình, từ đó sẽ tạo ra một đội ngũ CBCCVC dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.


Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ làm rõ nguyên nhân khách quan, bên ngoài của căn bệnh CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như thể chế, pháp luật…, mà còn nêu ra nguyên nhân chủ quan, bên trong. “Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh,… không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền”(17). Do đó, để trị tận gốc căn bệnh này, phải đổi mới toàn diện công tác cán bộ, trước hết là phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi đã một lòng, một dạ vì đất nước, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng phấn đấu thì họ sẽ không ngại đương đầu với khó khăn, thử thách, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện mục tiêu, lý tưởng mà mình đã lựa chọn. Từ đó, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm sẽ khó có đất để tồn tại.


Cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá CBCCVC theo hướng bổ sung tiêu chí cụ thể đối với những CBCCVC dám nghĩ, dám làm, có nhiều đổi mới, sáng kiến được tập thể, lãnh đạo cơ quan, đơn vị công nhận, đánh giá tốt, là tấm gương để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm thay đổi thái độ, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Gắn việc đánh giá với công tác khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, thay thế, điều động, luân chuyển CBCCVC. Những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi công vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo cần được đánh giá khách quan, khen thưởng kịp thời, được đề bạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn. Ngược lại, những cán bộ làm việc cầm chừng, cố tình đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cần có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí điều chuyển hoặc truy cứu trách nhiệm chính trị, pháp lý, kỷ luật, thay thế kịp thời. Nâng cao chất lượng của công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các quy trình là giải pháp vừa cấp bách trước mắt, vừa căn cơ lâu dài để phòng, trị căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.


Để khắc phục tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, cần vừa đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng hạn chế này để chống phá Đảng và Nhà nước ta, vừa phải quyết liệt đấu tranh với chính những tiêu cực, hạn chế từ trong nội bộ đội ngũ CBCCVC của Đảng và hệ thống chính trị. Ngăn chặn, hạn chế tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết để thực hiện thành công chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ “7 dám” (dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung), mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.


NGUYỄN THANH SƠN - TRỊNH XUÂN THẮNG

Tạp chí Cộng sản - Học viện Chính trị khu vực IV


--------------------------


(1), (2), (3), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 229, 305, 293, 204 - 205, 100, 99, 468, 466, 467 - 468, 470, 470, 469

(4) Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

(5) Khoản 3, Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

(6) Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 175

(8) Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019

Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Quảng Trị

 Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Đại tướng Phan Văn Giang làm Trưởng đoàn, đã đến dâng hoa, dâng hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị, hai Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 và Trường Sơn...

Nhân kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và 65 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh-Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn, ngày 19/5, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Đại tướng Phan Văn Giang-Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng đoàn, đã đến dâng hoa, dâng hương tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị.

Trong không khí thành kính, trang nghiêm, các đại biểu đã dành phút mặc niệm, tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã hiến trọn tuổi thanh xuân, dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước, vì hòa bình và hạnh phúc của nhân dân.

Cùng ngày, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng do Đại tướng Phan Văn Giang dẫn đầu, đã viếng, dâng hương các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn; tặng quà gia đình chính sách, gia đình khó khăn ở Quảng Trị; trao tiền hỗ trợ Tỉnh ủy Quảng Trị 1,6 tỷ đồng xây dựng 20 nhà tình nghĩa (80 triệu đồng/nhà); gặp mặt, giao lưu kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn; tham dự Chương trình nghệ thuật đặc biệt Kỷ niệm 65 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh-Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn diễn ra tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. 

Trước anh linh các Anh hùng liệt sĩ, các đại biểu nguyện đoàn kết một lòng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; quyết tâm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. TL


HÌNH ẢNH ĐẸP, THIÊNG LIÊNG TẠI HÀ NỘI TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ LỊCH SỬ

 

Vào những ngày Lễ, Tết cổ truyền của dân tộc, chúng ta thấy hình ảnh rất đẹp khi người người, nhà nhà treo cờ Tổ quốc để thể hiện tinh thần yêu nước, lòng biết ơn, sự tự hào sự hy sinh hào hùng, dũng mạnh của toàn bộ người con dân Việt Nam. Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng, là niềm tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam và đã được cộng đồng Quốc tế công nhận và tôn trọng.

Tại Thủ đô Hà Nội những ngày này, không chỉ các khu phố, nhà riêng của người dân mà rất nhiều chung cư, các tòa nhà cao tầng đều trang hoàng cờ hoa rực rỡ chào mừng Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm Châu, trấn động địa cầu.

Nhìn những hình ảnh này, chắc chắn các bạn đọc cũng như hàng triệu người dân cả nước cảm thấy xúc đông, thôi thúc mong muốn thể hiện sự yêu nước, chào mừng ngày thống nhất đất nước bằng cách treo cờ đỏ sao vàng tại tư gia của mình.

Hà Nội là trung tâm của đất nước, những ngày này chúng ta cảm thấy Hà Nội đẹp hơn với những đường phố, các tòa chung cư rực màu cờ đỏ tung bay trong gió, trở thành điểm nhấn, tạo nên những hình ảnh đẹp và trang trọng, làm tăng thêm ý nghĩa các sự kiện.

Theo đó, nhiều năm qua, việc treo cờ Tổ quốc đã trở thành văn hóa, thói quen của người dân Hà Nội. Với cách làm thiết thực này đã và đang góp phần xây dựng nếp sống văn minh tại khu dân cư, cũng như nâng cao hơn giá trị giáo dục giúp cho mỗi người thêm yêu, thêm gắn bó, từ đó nỗ lực hăng say thi đua lao động sản xuất, xây dựng Thủ đô Hà Nội ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Hà Nội dù hiện đại, phát triển đến đâu, nhưng mỗi khi khi nhìn những lá cờ tung bay thẳng tắp dọc các con đường, góc phố, rực đỏ trên các tòa nhà chung cư sẽ khiến mỗi người chúng ta càng thêm yêu và tự hào về tổ quốc, quê hương mình và biết ơn những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.

 


HÃY LUÔN GIỮ VỮNG LÒNG TIN!!

 

Gần đây, thông tin liên quan đến phiên xét xử vụ án lớn của Vạn Thịnh Phát cũng như việc cơ quan chức năng khởi tố 3 lãnh đạo của Tập đoàn Thuận An đã trở thành đề tài được một số trang mạng mang tính chất phản động như Tiếng dân, Thoibao.de, Chân Trời Mới, Việt Tân, Quyenduocbiet, và các trang tương tự khai thác triệt để. Họ đã tạo ra một "mạng lưới gây nhiễu" thông tin rộng lớn nhằm bóp méo và suy diễn sai lệch nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta.

Những luận điệu không căn cứ như "Phe đom đóm chuẩn bị phản công phe Lâm – Chính", "Tô Đại – Thủ Chính kẻ tung người hứng quyết đưa Huệ Vương vào lò", "Trụ thứ 2 trong 'tứ trụ' sắp bị đốn, trụ đó là ai?" hay "Đảng Cộng sản dựng lên vụ Mỹ Lan SCB để trộm tiền của dân" chỉ là một phần nhỏ trong số những thông tin sai lệch mà những "radar phản động" này đang rầm rộ tuyên truyền, nhằm kích động và tạo ra dư luận tiêu cực. Nếu không sáng suốt và lựa chọn thông tin một cách cẩn trọng, chúng ta có thể dễ dàng bị lừa bởi những thông tin gây nhiễu này.

Cần phải khẳng định rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên quyết thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng một cách quyết liệt, không để sót bất kỳ ai, không phân biệt người đó là ai, dù đang giữ chức vụ hay đã nghỉ hưu, nếu có vi phạm thì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh. Mục tiêu của việc này là để làm trong sạch Đảng và bộ máy chính trị, không phải là để "thanh trừng" hay "đốn trụ" như những thông tin xuyên tạc mà một số tổ chức đang lan truyền.

Thêm vào đó, mọi quyết định xét xử, bắt giữ hay khởi tố đều được công bố một cách công khai và minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo chí, để người dân có thể nắm rõ. Tuy nhiên, những nhóm chống phá lại cố tình cắt ghép và kết nối các sự kiện một cách không có cơ sở, thiếu tính khoa học để gây nhiễu thông tin và làm xấu hình ảnh của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. Do đó, mỗi người chúng ta cần giữ vững tinh thần cảnh giác trước những thông tin có tính chất xuyên tạc, suy diễn cũng như những âm mưu độc hại của các thế lực thù địch và luôn giữ vững lòng tin vào Đảng, Nhà nước!!