Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đòi phủ nhận vai trò của giai cấp công nhân


Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đó là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới.

Trải qua quá trình hoạt động, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để và là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Giai cấp công nhân cũng là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại.

Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang sử dụng một số luận điệu xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam.

Vẫn là những chiêu trò cũ nhưng được sử dụng lại, đặc biệt là trước, trong và sau Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam nhằm tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm của giai cấp công nhân Việt Nam.

Đầu tiên là những xuyên tạc, bóp méo vào hệ tư tưởng. Các thế lực phản động, cơ hội, thế lực thù địch thường xuyên có các chiêu trò xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong đó, chúng rêu rao rằng, Chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thời kỳ hưng thịnh của động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)… nên Chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp nữa.

Chúng cũng đưa ra những luận điệu hết sức lạc lõng rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay.

Mặt khác, trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa robot (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa.

Tất nhiên, đây chỉ là những luận điệu, quan điểm không có cơ sở khoa học, thiếu căn cứ thực tiễn về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thực tế quá trình cách mạng đã khẳng định, giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người.

Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đều được đề cập tới trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII.

Đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X đã khái quát: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X khẳng định: “Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Trong bài viết: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” nhân dịp 94 năm kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.

Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, có thể thấy, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là không thể phủ nhận. Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn như Đảng ta đã khẳng định: “Trong thời kỳ đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”./.

 

NHẬN DIỆN CÁCH MẠNG MÀU TRONG TÔN GIÁO

 Thời gian qua, với sự chung tay, đồng lòng của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội và đồng bào các tôn giáo, khối đại đoàn kết các tôn giáo ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu. Tại nhiều cộng đồng dân cư, đồng bào theo hay không theo các tôn giáo tích cực chung tay, phấn đấu để xây dựng quê hương, đất nước, giáo hội ngày càng giàu mạnh. Chính sự gắn kết trong khối đại đoàn kết các tôn giáo đã, đang góp phần tạo nên sức mạnh chung của toàn dân tộc, là động lực giúp đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức để hội nhập và phát triển.

Thế nhưng, lạc lõng và đứng ngoài những xu hướng nói trên, vẫn còn đó một bộ phận chức sắc, tín đồ các tôn giáo vì những động cơ riêng và bị chi phối, điều khiển bởi những thế lực xấu nên đã có những hành vi gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra những xáo trộn, mâu thuẫn từ bên trong và làm tiền đề chống phá ở mức độ cao hơn, nguy hiểm hơn. Từ lâu, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức khai thác, lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng gây chia rẽ chính tôn giáo đó với nhà nước, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo hoặc giữa chính các tôn giáo với nhau. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, với đặc trưng là một quốc gia đa tôn giáo, đất nước Việt Nam chúng ta đã bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng từng sự việc cụ thể, bóp méo bản chất, đẩy sự việc thành cao trào hòng khiến khối đại đoàn kết tôn giáo bị chia rẽ. Đây là thời cơ để các thế lực thù địch mưu đồ gây bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu” như đã diễn ra tại nhiều nước. Nhận diện được vấn đề này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tại sao dù thời cuộc đã khác nhưng chiêu bài “tự do tôn giáo” vẫn là tâm điểm, mũi nhọn của các thế lực thù địch trong mục tiêu làm chia rẽ, làm suy yếu Việt Nam, gián tiếp ngăn cản, làm chậm tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.
Có thể nhận diện các chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo trên những dạng thức cụ thể sau:
Một là, chia rẽ các tôn giáo với nhau, bên trong từng tôn giáo và giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trên thực tế, nhiều ý kiến còn chủ quan cho rằng, việc các thế lực thù địch, phản động chia rẽ các tôn giáo với nhau ít hoặc không tác động đến khối đoàn kết dân tộc, không ảnh hưởng tới sức mạnh chung của đất nước, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Đây là một quan điểm sai lầm. Một dân tộc không thể nói là đoàn kết nếu như các bộ phận cấu thành trong đó riêng rẽ, nghi kỵ, công kích, chống phá lẫn nhau và một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng như Việt Nam thì điều đó càng phải được nhận thức rõ. Bằng chứng là lịch sử dân tộc thời kỳ 1955 – 1975 cho thấy, để bình định, thâu tóm miền Nam Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ tấn công ra miền Bắc, bằng những chiêu thức ngấm ngầm và công khai, chính quyền Việt Nam cộng hòa khi đó, đặc biệt là dưới thời kỳ cai trị của Mỹ - Diệm đã sử dụng triệt để chiêu bài chia rẽ, phân hóa các tôn giáo với nhau, giữa người theo và không theo tôn giáo. Theo đó, Việt Nam cộng hòa đã chủ trương thúc đẩy, hình thành tại các giáo phái (các tổ chức tôn giáo) khi đó như Cao Đài, Hòa Hảo (có những lực lượng quân sự bên trong); sự xuất hiện, ra đời của cái gọi là “Quân đội Hòa Hảo”, “Quân đội Cao Đài”, “Bình Xuyên” có căn nguyên từ đó.
Ngày nay, trong bối cảnh mới, sự chia rẽ giữa các tôn giáo với nhau hòng phá hoại khối đại đoàn kết không còn diễn ra như trước đây. Tuy có sự khác nhau về cách thức, cường độ song đây vẫn được xem là một vấn đề trọng tâm, được các thế lực xấu triệt để thực hiện với sự đan xen giữa phương thức cũ và mới. Theo đó, các đối tượng triệt để sử dụng những tiện ích của các trang mạng xã hội, phương tiện truyền thông đại chúng thiếu thiện chí với Việt Nam như VOA, RFA, RFI…, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, tạo sự đối lập các tôn giáo với luận điệu “nhà nước đang ủng hộ, hậu thuẫn, coi trọng cho tôn giáo này, bóp nghẹt tôn giáo kia”. Đồng thời, chúng phủ định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.
Với thủ đoạn này, chúng nhằm “một mũi tên trúng hai đích”: Vừa xuyên tạc, tố cáo chính quyền, làm cho mối quan hệ giáo hội với chính quyền trở nên xấu đi, thậm chí rơi vào bế tắc, đối kháng, vừa gây chia rẽ nhằm làm các tôn giáo đối lập, đối đầu với nhau. Tại một số địa phương, một số chức sắc tôn giáo cực đoan đã công khai so sánh về quỹ đất mà chính quyền cấp cho. Chúng tung ra luận điệu: “Tôn giáo nào biết nghe lời, bị khuất phục thì tôn giáo đó muốn gì, đòi gì cũng được và ngược lại”. Với thủ đoạn này, dù không trực diện nhưng về lâu dài, các đối tượng mưu đồ làm cho bà con các tôn giáo tại cơ sở đối lập, mâu thuẫn với nhau. Chúng xuyên tạc, thổi phồng các luận điệu rằng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam “hà khắc” với tôn giáo này, ưu ái tôn giáo kia trong sinh hoạt và giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng, nhất là về đất đai, xây dựng... Đồng thời lên án, chỉ trích sự đồng hành của các tôn giáo đối với một vấn đề, sự vụ cụ thể, qua đó khoét sâu làm cho giữa các tôn giáo với nhau và trong từng tôn giáo có sự phân hóa sâu sắc về mặt đường hướng, thái độ và cách thức ứng xử.
Những năm qua, trước sự tàn phá của thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19, Giáo hội các tôn giáo đều đồng hành, chung tay ứng phó, khắc phục hậu quả xảy ra và phòng ngừa những vấn đề tương tự. Rất nhiều những hình ảnh các tín đồ, chức sắc tôn giáo không quản ngại khó khăn, vất vả, nguy hiểm đến các vùng tâm dịch để hỗ trợ người dân… Song với thái độ thiếu thiện chí, các thế lực thù địch đã bỉ bôi, cho rằng điều đó là không cần thiết, kích động rằng “Giáo hội Phật giáo có lí do để dấn thân vì dù sao Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng xem đó là Quốc giáo”, còn người Công giáo “nên lo cho mình, người đồng đạo của mình trước”!
Để tạo ra sự đối lập, gia tăng các mâu thuẫn, bất đồng, chúng đã triệt để khai thác những vấn đề tồn tại trong lịch sử, bịa đặt, xuyên tạc về quá trình hình thành, phát triển của từng hệ phái trong mỗi tôn giáo cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một số nhà lãnh đạo Phật giáo đóng vai trò tập hợp, quy tụ chức sắc, tín đồ Phật giáo trong nước và miệt thị đường hướng mục vụ “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Chúng xuyên tạc rằng, đó là tinh thần lệ thuộc Nhà nước của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ra sức cổ xúy, quảng bá về đường hướng của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, bất chấp tổ chức này đã bị vạch trần bản chất tay sai, chống phá nhà nước và đi ngược lại quyền, lợi ích của dân tộc. Hình ảnh, hoạt động của các đối tượng chống phá như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh được tâng bốc, xem như đó là những “đấng chân tu chân chính”. Chính điều này đã ngăn cản và làm cho lộ trình thống nhất trọn vẹn Phật giáo Việt Nam đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Hai là, chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước.
Với âm mưu làm suy giảm tiềm lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, gây mất ổn định tình hình ANTT, các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn, trong đó có chiêu bài chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng mưu đồ gây nên những bất ổn từ bên trong, tiến tới những cuộc “cách mạng màu”, bạo loạn, lật đổ. Chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước ta gần đây diễn ra dưới các dạng thức sau:
(1). Tìm cách gieo rắc, thổi phồng mâu thuẫn, tranh chấp, qua đó tuyên truyền rằng, tôn giáo không thể đồng hành với chế độ XHCN tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, chúng cố tình xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Chúng tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, tự cho rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tuyệt đối và không chịu bất cứ sự ràng buộc, chế tài xử phạt nào, kể cả khi xâm phạm quyền, lợi ích của các chủ thể khác được pháp luật bảo hộ. Bịa đặt việc Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo. Thủ đoạn này được thực hiện phổ biến từ giai đoạn năm 1995 trở đi, khi Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các hoạt động giao lưu, đối ngoại quốc tế được mở rộng. Nhiều vụ việc đã được truyền thông quốc tế thù địch với Việt Nam khai thác tối đa khiến dư luận quốc tế hiểu sai về tình hình tôn giáo, tự do tôn giáo trong nước. Vụ việc Thái Hà – Nhà Chung (Hà Nội) năm 2008, 2009 và chuỗi các hoạt động, vụ việc phức tạp tại Giáo phận Vinh (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), nhất là sau vụ ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải là những ví dụ điển hình.
(2). Trong vụ ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vụ việc này để “gia công”, đẩy sự việc lên thành điển hình, thiết lập sự đối kháng giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo. Chúng kích động, xúi giục để một số chức sắc Công giáo có cái nhìn phiến diện, lệch lạc về vấn đề trên. Sau đó, núp bóng dưới danh nghĩa “đòi khiếu nại bồi thường” thiệt hại sự cố môi trường biển để kích động, tụ tập hàng ngàn giáo dân, mang băng rôn, khẩu hiệu kéo lên bao vây trụ sở UBND huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh (xảy ra tháng 4/2017). Thay vì cùng nhau ngồi đối thoại, đưa ra những ý kiến trên tinh thần xây dựng với chính quyền địa phương thì các đối tượng lại hô hào, kích động hòng tạo ra xung đột. Từ đó, chúng lu loa, vu vạ rằng, Đảng, Nhà nước ta đang “can thiệp thô bạo vào quyền tự do tôn giáo” của người dân!
Thời điểm năm 2021, 2022 khi đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, trong khi người người, nhà nhà đều chấp hành các quy định đưa ra để đưa đất nước an toàn, vượt qua đại dịch, giảm thiểu tối đa thương vong về con người, vật chất thì một số cá nhân chức sắc tôn giáo đã kích động người dân tụ tập, không chấp hành các quy định phòng, chống dịch, gây phức tạp tình hình. Khi bị lên án, với sự kết hợp “nội công ngoại kích”, các đối tượng cực đoan, bất mãn chính trị trong nước và các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã xuyên tạc việc Nhà nước, chính quyền địa phương cấm đoán, không cho các tổ chức tôn giáo hành lễ, sinh hoạt tôn giáo. Chúng lu loa rằng, Đảng và Nhà nước ta đang “đàn áp tôn giáo”.
Ba là, song song với thủ đoạn tạo dựng sự đối lập giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo, các thế lực thù địch, phản động cổ xúy, hình tượng hóa những đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo.
Những đối tượng này là mạng lưới, chân rết được các thế lực thù địch, phản động khoác lên những ngôn từ mỹ miều rằng, “nhân tố đủ sức, đủ tầm để thiết lập nên một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được thực hiện đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Sự tô vẽ có chủ đích từ mạng xã hội cùng sự hậu thuẫn từ các đối tượng chống phá bên ngoài khiến nhiều đối tượng trong cuộc ngộ nhận về vị trí của bản thân. Chúng xây dựng một thế lực để hòng đối trọng với Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo, quy tụ nhân dân của Đảng, Nhà nước ta.
Với sự giúp sức của nhóm người Việt chống phá lưu vong từ bên ngoài, một số chức sắc cực đoan dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường đã khởi kiện chủ thể trực tiếp gây ô nhiễm và đòi đền bù thiệt hại, họ vận động chính giới, nghị viện các nước châu Âu “cùng đồng hành với bà con giáo dân” trong hành trình kiện công ty Formosa. Nhưng thực chất là nhằm thổi phồng bản chất vụ việc, làm phức tạp vấn đề, tạo cớ để các tổ chức dân chủ, nhân quyền, chính giới một số nước nhân sự việc nói trên để ngợi ca, vinh danh, xướng tên một số chức sắc cực đoan trong các giải thưởng có tính thường niên, đột xuất. Để đánh bóng tên tuổi, cổ súy, hình tượng hóa một số chức sắc cực đoan, các thế lực thù địch, phản động đã hậu thuẫn cho các đối tượng có thêm “thành tích”. Đơn cử như linh mục Đặng Hữu Nam (Giáo phận Vinh) liên tiếp nhận nhiều giải thưởng như “giải thưởng Nhân quyền năm 2017” hay “giải thưởng Lê Đình Lượng năm 2021”.
Từ những vấn đề được chỉ ra có thể thấy, dù thời kỳ, giai đoạn lịch sử nào thì âm mưu, ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo đều được các thế lực thù địch, phản động chú trọng thực hiện. Việc nhận diện, lật tẩy những chiêu trò chống phá giúp quần chúng nhân dân, dư luận xã hội thấy được tính chất nguy hiểm, phản động, từ đó có những định hướng cụ thể, tránh bị các đối tượng dẫn dắt, lợi dụng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển đất nước./.
St

Khoa học là con đường ngắn nhất để đạt được các mục tiêu

Sáng 15.5, Bộ Khoa học Công nghệ (KHCN) tổ chức lễ kỷ niệm ngày khoa học công nghệ Việt Nam; kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Bộ và trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2024.

Dự và phát biểu chúc mừng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ghi nhận sự đóng góp to lớn của KHCN cho đất nước trong những năm qua và khẳng định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là con đường ngắn nhất để đạt được các mục tiêu. khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại để phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải tiến đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi.

hủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận sự hiện diện của khoa học và công nghệ tại các công trình lớn của quốc gia như Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu... Tất cả đều nhờ các nhà khoa học dám dấn thân thực hiện cùng sự đóng góp của nhiều người.

Theo Thủ tướng, sự quyết tâm của các nhà khoa học và sự quản lý của các nhà lãnh đạo đã giúp "biến cái không thể thành có thể", "biến khó thành dễ"…Thủ tướng cũng cho rằng đóng góp của đội ngũ nhà khoa học trong kháng chiến cứu quốc đã đóng góp vào chiến thắng lịch sử của dân tộc Việt Nam. Thành công ấy không chỉ có sự đóng góp của khoa học kỹ thuật với việc chế tạo vũ khí, nghiên cứu y học, mở đường... mà còn có khoa học xã hội nhân văn với những câu chuyện viết nên bài ca chiến thắng, thể hiện tinh thần bất diệt thông qua các tác phẩm.

Thủ tướng chia sẻ, đất nước, xã hội đang rất cần sự dấn thân, vượt qua khó khăn, trở ngại của các nhà khoa học để thực hiện thành công các nhiệm vụ KHCN&ĐMST, góp phần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mang lại niềm vinh dự, tự hào cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân, doanh nghiệp, phương châm đúc kết từ thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước sẽ tiếp tục lan toả, tạo động lực cho sự phát triển nền KHCN nước nhà.

Thủ tướng mong muốn và tin tưởng rằng, với truyền thống tốt đẹp 65 năm qua của ngành KHCN, đội ngũ các nhà khoa học sẽ đồng hành cùng cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, chung sức, đồng lòng, tinh thần vượt khó, sự say mê, đam mê trong nghiên cứu KHCN để có những đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng hùng cường, thịnh vượng, nhân dân Việt Nam ngày càng ấm no, hạnh phúc./.

 

 

ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN CẦN LÀM GÌ ĐỂ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG BÁC HỒ

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song cuộc đời, sự nghiệp của Người luôn là tấm gương cho các thế hệ noi theo. Người luôn khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là nhu cầu tự thân, đồng thời là yêu cầu tất yếu đối với mỗi người. Người không chỉ nêu ra, yêu cầu mỗi người phải rèn luyện đạo đức cách mạng, mà suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức mà “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Với quan điểm đạo đức là gốc của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Người thường xuyên động viên tuổi trẻ tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập vươn lên để xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà. Trong lần nói chuyện với thanh niên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II ngày 7-5-1958, Người nhấn mạnh: Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài.
Trong Di chúc thiêng liêng của mình, ngay sau phần nói về Đảng, Người đã căn dặn: Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.
Ngay từ tháng 1-1946, trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Là một lãnh tụ vĩ đại, có tầm nhìn xa trông rộng, hơn ai hết, Người thấu hiểu vai trò vô cùng to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Muốn thực hiện được vai trò của mình, mỗi thanh niên cần cố gắng thực hiện tốt những điều sau:
1. Đoàn viên, thanh niên sống phải có lý tưởng, có mục tiêu phấn đấu, hoàn thành mục tiêu của bản thân là tiền đề cho việc hoàn thành mục tiêu lớn của đất nước. Đó chính là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ đó mà Lý Tự Trọng đã từng nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác!”.
2. Đoàn viên, thanh niên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc: Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.
3. Đoàn viên, thanh niên phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không ít lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như dưới thời thực dân phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”… Người đoàn viên, thanh niên phải luôn cố gắng hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động.
4. Đoàn viên, thanh niên phải góp phần tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Muốn thế, phải “chuyên”. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể chỉ biến thành hiện thực trong cuộc sống, ngoài yêu cầu về việc đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng đắn, còn có việc phải tổ chức thực hiện tốt. Không như thế thì đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy.
5. Đoàn viên, thanh niên phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, học nữa và học mãi,…đó là những điều mà Hồ Chí Minh đã luôn thực hiện trong cuộc sống của chính bản thân mình và là tấm gương giáo dục, rèn luyện cho mỗi đoàn viên, thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: “Thanh niên phải chuyên tâm học hành và công tác, nhưng cũng cần có vui chơi. Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng”.
Học tập Người, mỗi đoàn viên, thanh niên chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần thấm nhuần khẩu hiệu: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi rằng ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay nhằm xứng đáng hơn nữa với tinh thần thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh: Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.
Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân... Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; là cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư... Phong cách Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng; là ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn; nói đi đôi với làm; là giản dị, gần gũi quần chúng... Để thực hiện được mong ước của Bác Hồ kính yêu và kỳ vọng, quan tâm, chăm lo của Đảng, nhân dân và toàn xã hội đã dành cho thanh niên, mỗi thanh niên Việt Nam phải luôn không ngừng học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng, luôn “Dưỡng tâm trong - Rèn trí sáng - Xây hoài bão lớn”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giữ vững các thành quả cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả: Xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu./.
ST

Kỳ vọng đội ngũ doanh nhân là đại diện cho sức mạnh sản xuất mới trong nền kinh tế

Việt Nam hiện có gần 900.000 doanh nghiệp và đặt mục tiêu tăng lên hơn 1 triệu vào năm 2025. Song hành với số lượng doanh nghiệp lớn mạnh là tầm quan trọng của đội ngũ doanh nhân trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời đã vạch ra chiến lược phát triển đội ngũ doanh nhân quốc gia, đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề không hình sự hoá các quan hệ kinh tế.

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong phân tích, Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh đây là một trong những lực lượng “nòng cốt” góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Chắc chắn sẽ mở đầu cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ tiếp theo của các doanh nhân nước ta, góp phần để xây dựng đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, đủ sức gánh vác nhiệm vụ tiên phong thực hiện mục tiêu và khát vọng đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Nói về nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh như Nghị quyết 41, Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa - (đoàn Đồng Tháp) cho rằng, nhiệm vụ đầu tiên đó là phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước. Bởi nhận thức là bước khởi đầu cho quá trình hành động. Thống nhất được nhận thức thì mới có thể hành động nhất quán, vươn tới những mục tiêu đề ra.

Ông Hòa nêu rõ cần hoàn thiện chính sách, pháp luật, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, an toàn, bình đẳng cho doanh nhân, doanh nghiệp phát triển và cống hiến.

Đồng thời, xây dựng đạo đức, văn hoá kinh doanh, phát huy tinh thần dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều rào cản đặt ra, chưa tạo được môi trường lành mạnh, động lực để doanh nhân, doanh nghiệp cống hiến.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không “dám” hoặc không “thích” lớn theo Chủ tịch VCCI Phạm Tấn Công là do ở đâu đó còn có cách xử lý không phù hợp với mong muốn của doanh nhân, doanh nghiệp, nhưng cũng không phù hợp với những quy tắc của kinh tế thị trường. Ông cho rằng, nội dung mà doanh nhân doanh nghiệp rất hào hứng, ủng hộ khi Nghị quyết 41 được ban hành đó là “bổ sung chế tài kinh tế phù hợp để xử lý vi phạm, không hình sự hóa quan hệ kinh tế”.

Đồng quan điểm, Đại biểu Phạm Văn Hoà cũng tin rằng, việc không hình sự hoá quan hệ kinh tế là một nội dung rất quan trọng, là “liều thuốc” để doanh nhân an tâm hơn trong quá trình làm ăn kinh doanh./.

 

 

Doanh nhân nỗ lực đưa thương hiệu Việt ra toàn cầu

Những tháng đầu năm 2024, đội ngũ lãnh đạo và nhân viên FPT liên tiếp đón tin vui khi trở thành doanh nghiệp công nghệ đầu tiên của Việt Nam đạt doanh thu tỉ USD từ việc xuất khẩu phần mềm, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

“Chúng tôi luôn ý thức được là không bao giờ bỏ cuộc. Bởi chúng tôi luôn có niềm tin, có khát vọng điền tên Việt Nam lên bản đồ công nghệ thế giới" - ông Trương Gia Bình - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn FPT - chia sẻ với phóng viên.

Sau 25 năm, từ nhóm 17 nhân sự ban đầu, quy mô nhân sự trong lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin cho thị trường nước ngoài của FPT hiện đã cán mốc 30.000 người thuộc 70 quốc tịch. Từ Việt Nam, FPT đã vươn ra toàn cầu với sự hiện diện tại 30 quốc gia, bao gồm những thị trường phát triển nhất như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, châu Âu. Từ không khách hàng, FPT đã trở thành đối tác tin cậy của gần 100 công ty thuộc Top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới (Fortune Global 500).

Ngoài FPT, năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp Việt đã viết nên các kỳ tích, với các khát vọng đưa thương hiệu Việt ra quốc tế, khát vọng làm giàu cho bản thân và cho đất nước. Với Viettel Global, năm 2009, doanh nghiệp này bắt đầu “xuất khẩu” hai mạng viễn thông thương hiệu Metfone tại Campuchia và Unitel tại Lào. Tại thời điểm đó, đây là những doanh nghiệp đầu tiên cung cấp đa dịch vụ viễn thông với quy mô hạ tầng mạng lưới và vùng phủ lớn nhất tại hai quốc gia này. Tính đến nay sau hơn một thập kỷ, Viettel Global đang vận hành 10 nhà mạng tại 10 quốc gia, có tổng quy mô thị trường lên tới 270 triệu dân với gần 100 triệu khách hàng. Viettel Global cũng nắm vị trí dẫn đầu tại 6/10 thị trường mà doanh nghiệp này góp mặt. Nhìn lại chặng đường đã qua, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel Tào Đức Thắng nói: “Năm 2006, Viettel mới là tân binh trên thị trường viễn thông Việt Nam và vẫn còn vô danh với thế giới. Đến năm 2022, giá trị thương hiệu của chúng tôi đạt 9 tỉ USD, đứng thứ 17 thế giới và số 1 Đông Nam Á về viễn thông. Việc cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài cũng là bài học quan trọng để chúng tôi tự tin hơn, góp phần thúc đẩy sự đổi mới tại Việt Nam”.

Còn theo Forbes, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam mà tiêu biểu là VinFast với việc niêm yết thành công trên sàn chứng khoán Mỹ, xây dựng nhà máy tại Bắc Carolina, mở cửa hàng ở Pháp, Đức, Hà Lan… đang là hình mẫu năng động cho các doanh nghiệp toàn cầu đến từ Đông Nam Á./.

Không hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế giúp làm lành mạnh môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp. Ảnh: Anh Kiệt