Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

NHỮNG TƯ TƯỞNG LỚN TỪ MỘT BỨC THƯ NHỎ CỦA BÁC

 Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20/9/1951 gửi Hội nghị Mậu dịch sau hơn 70 năm đọc lại khiến chúng ta không khỏi xúc động trước tình cảm của vị lãnh tụ.

Bối cảnh của thư Người gửi cho hội nghị Mậu dịch khi đó rất đáng chú ý. Nó ra đời chỉ 4 tháng ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21/SL (ngày 14/5/1951) đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công Thương cho thấy quan tâm đặc biệt trong chỉ đạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác mậu dịch khi mà điều kiện của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chưa cho phép xây dựng nền thương mại mang tính chính quy, quy mô rộng khắp.
Khung cảnh kháng chiến không cho phép nói dài, viết dài. Thư của Bác gửi hội nghị mậu dịch tháng 9/1951 cũng nằm trong khung cảnh đó. Với độ dài chỉ 279 chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung đề cập đến một vấn đề cốt tử lúc bấy giờ. Đó là vị trí, vai trò của người cán bộ ngành Công Thương.
Người khẳng định, các cấp cán bộ phải thấm nhuần chính sách, đồng tâm nhất trí trong thực hiện nhiệm vụ, biết lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân, đồng thời tuyên truyền để người dân hiểu rõ và cùng đồng thuận giúp đỡ ngành hoàn thành nhiệm vụ.
Đặc biệt Bác lo lắng cán bộ mậu dịch nắm nhiều tiền bạc và hàng hóa rất dễ hủ hóa, sa ngã bởi vậy Người không quên cảnh báo cán bộ mậu dịch hàng ngày phải trau dồi đức tính cần kiệm liêm chính.
Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dành phần lớn nội dung bức thư của mình để nói về công tác cán bộ. Đó là thời gian mà Đảng ta chính thức ra hoạt động công khai, đảm nhận vai trò lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho nền kinh tế mới của nước Việt Nam mới.
Làm gì để cán bộ hiểu rõ vị trí, nhiệm vụ, đòi hỏi của tình hình để làm tốt công tác trên mọi cương vị, mọi chức trách hẳn là nỗi trăn trở lớn của vị Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bởi, với Người, cán bộ là gốc của công việc mà khi đã có chủ trương, đường lối, chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ và kiểm tra.
Không chỉ đưa ra những chỉ dạy để giúp đội ngũ cán bộ hoàn thành nhiệm vụ, Bác còn luôn luôn lo lắng cũng như không ngừng quan tâm uốn nắn cán bộ, tránh cho họ khỏi đi vào con đường tham ô, lãng phí, quan liêu, những thứ giặc nội xâm.
Một nét đặc biệt nữa trong thư của Bác là Người không quên lưu ý nhắc nhở cán bộ ngành Công Thương nhiệm vụ giúp đỡ tư nhân kinh doanh để cùng ổn định vật giá, thúc đẩy sản xuất và đảm bảo cung cấp. Đây là nét rất mới trong tư tưởng về phát triển của Người trong bối cảnh bấy giờ khi Người đã nhìn thấy một đặc trưng của kinh tế Việt Nam vẫn sẽ là nhiều thành phần, để từ đó huy động tối đa mọi nội lực để đưa kinh tế phát triển.
Lĩnh vực thương mại là lĩnh vực mang nhiều tính đặc thù trong các không gian phát triển thế nên thư của Bác gửi hội nghị Mậu dịch không chỉ thể hiện tầm nhìn, trách nhiệm của nhà lãnh đạo cao nhất đất nước mà còn thể hiện tình cảm, sự kỳ vọng lớn lao của Bác với đội ngũ cán bộ các cấp của ngành Công Thương khi đó và cả về sau này.
Đọc lại thư của Bác đến hôm nay, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thời gian trôi qua đã gần ba phần tư thế kỷ, bối cảnh phát triển của thời đại của đất nước đã nhiều biến đổi nhưng những tư tưởng lớn lao của Người về xây dựng một nền thương mại thực sự phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước vẫn vẹn nguyên giá trị. Đi cùng đó là những bài học sâu sắc về công tác cán bộ ngang tầm nhiệm vụ cũng như luôn đáp ứng được đòi hỏi của tình hình.
Nền thương mại đó ở khung cảnh hội nhập hôm nay vẫn không tách rời các đặc trưng bảo đảm cân đối cung cầu trên thị trường, ổn định giá cả và sản xuất được thúc đẩy. Không những thế cán bộ trong ngành Công Thương hôm nay hoàn toàn có thể tìm thấy từ lời chỉ dạy của Bác hơn 70 năm trước những suy ngẫm giản dị mà hết sức sâu sắc, làm nền cho đạo đức công vụ, tư duy sâu sắc, trách nhiệm lớn lao trong hoạt động, quản lý để không chỉ đưa chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực Công Thương đi vào cuộc sống mà còn tạo được sự đồng thuận của công luận với các chủ trương chính sách đó.
Cũng giống như bức thư gửi giới Công Thương Việt Nam 6 năm trước đó (ngày 13/10/1945), tình cảm, trách nhiệm, kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành Công Thương trong thư gửi hội nghị Mậu dịch tháng 9/1951 vẫn luôn là tài sản tinh thần quý giá, vẫn là nguồn cổ vũ người Công Thương, ngành Công Thương không ngừng phấn đấu để cùng đất nước hướng tới những mục tiêu lớn trong phát triển./.
St

KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI BÁC HỒ TẠI PHÚ QUỐC

 Ngày 19-5, công trình tượng đài Bác Hồ tại TP Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang chính thức được khánh thành đúng dịp kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Chủ tịch nước gửi lẵng hoa kính dâng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các Anh hùng liệt sĩ.
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương dự và phát biểu tại buổi lễ.
Cùng dự còn có các đồng chí: Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Lê Hồng Anh, nguyên Thường trực Ban Bí thư; Trần Quốc Vượng, nguyên Thường trực Ban Bí thư.
Đồng chí Đỗ Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang tham dự buổi lễ.
Công trình Quảng trường Trung tâm và Tượng đài Bác Hồ được xây dựng tại phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc với quy mô 7,45ha. Tượng đài Bác Hồ cao 20,7m, trong đó thân tượng cao 18m, đế tượng cao 0,3m và bệ tượng cao 2,4m, được tạo bằng hợp kim đồng nặng hơn 93 tấn. Bên trong tượng và đế tượng có khung thép không gỉ. Bề mặt bệ tượng ốp đá granite màu đen, bên trong là lõi bê tông cốt thép. Mẫu trang phục tượng được chọn là kiểu áo khoác không cài khuy với tà áo bay nhẹ theo gió, cho thấy sự giản dị, gần gũi của Bác Hồ với người dân.
Phía sau lưng Tượng đài Bác Hồ là bức phù điêu hai mặt, chạm nổi, dài 63m. Phù điêu gồm 484 tấm đá trắng ghép lại với nhau. Mặt trước giới thiệu hình ảnh các danh thắng, địa danh lịch sử tiêu biểu từ Vĩ tuyến 17 trở vào Nam. Mặt sau thể hiện hình ảnh các danh thắng, địa danh lịch sử tiêu biểu gắn liền với Kiên Giang và các địa danh khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam từ mũi Sa Vĩ (Quảng Ninh) đến quần đảo Thổ Chu (Kiên Giang).
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa tin tưởng và mong rằng, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Kiên Giang và TP Phú Quốc sẽ luôn tự hào, quan tâm gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị của công trình thật tốt. Đồng thời, cần thực hiện hiệu quả hơn nữa Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tập trung vào 3 nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Sau Lễ khánh thành, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa cùng các đại biểu dâng hương, ghi sổ lưu bút tại Đền thờ Bác Hồ và tham quan Nhà trưng bày về Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
St

TRUYỀN THÔNG ARGENTINA CA NGỢI NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Theo bài viết đăng trên trang điện tử Acercandonos Cultura của Argentina, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân và sự bóc lột.

Nhân kỷ niệm 134 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2024), trang điện tử Acercandonos Cultura của Argentina đã đăng bài viết với tiêu đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng của Thế giới thứ ba trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân."
Bài viết xuất bản ngày 19/5 tóm lược về con đường cách mạng và những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho công cuộc giải phóng dân tộc của Việt Nam cũng như cho toàn thế giới, đồng thời nhấn mạnh Người là một nhân vật chính trị lỗi lạc mang tầm vóc toàn cầu.
Bài viết nêu rõ với khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do cho dân tộc, ngay từ khi còn rất trẻ, Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.
Trang Acercandonos Cultura khắc họa rõ nét các sự kiện quan trọng thời khắc mang tính quyết định sau khi Người thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2/1930.
Theo bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của cách mạng và cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 4/1975.
Bài viết khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân và sự bóc lột.
Tên tuổi của Người đã vượt ra ngoài biên giới Việt Nam và nổi bật trong số các nhà lãnh đạo của giai cấp vô sản trên thế giới./.
St

NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI - TÌM KIẾM CỨU NẠN CỦA QUÂN ĐỘI

  Do đặc điểm địa lý, khí hậu phức tạp, nên Việt Nam thường xuyên phải gánh chịu những thiệt hại do thiên tai. Để hạn chế thấp nhất những hậu quả về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam xác định công tác phòng, chống thiên tai - tìm kiếm, cứu nạn (PCTT-TKCN) là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, bằng tinh thần tích cực, chủ động, trách nhiệm cao, những năm qua, các đơn vị trong toàn quân đã lập nhiều chiến công xuất sắc trên mặt trận đầy cam go này.

Theo thống kê của Ủy ban Quốc gia TKCN, năm 2023 cả nước đã xảy ra hơn 1.135 trận thiên tai với 21 trên tổng số 22 loại hình thiên tai. Thiên tai đã làm 166 người chết, mất tích, thiệt hại về kinh tế ước tính khoảng 8.228 tỷ đồng… Có thể thấy những hậu quả mà thiên tai, tai nạn, cháy nổ… gây ra là hết sức nặng nề, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhằm giảm thiểu những đau thương, mất mát của Nhà nước và nhân dân, hằng năm các đơn vị Quân đội đã chủ động phối hợp với các địa phương, cơ quan chức năng triển khai đồng bộ việc lập kế hoạch, lường trước các tình huống để có phương án sẵn sàng lực lượng, phương tiện xử lý. Để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng xử lý tình huống PCTT-TKCN, các đơn vị đã làm tốt công tác huấn luyện, diễn tập cho các lực lượng. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, các cơ quan chức năng đã trực tiếp chỉ đạo chặt chẽ, chỉ huy kịp thời ứng phó khi có tình huống xảy ra. Cán bộ, chiến sĩ không ngại gian khổ, hy sinh, kịp thời có mặt ở những nơi, những vùng khó khăn, nguy hiểm nhất để sát cánh cùng nhân dân chống chọi với thiên tai và khắc phục hậu quả.
Trong 5 năm gần đây, toàn quân đã huy động hàng trăm ngàn lượt cán bộ, chiến sĩ; hàng nghìn chuyến máy bay trực thăng, tàu, xuồng các loại; hàng nghìn ô tô tham gia PCTT-TKCN, giúp di rời hàng trăm ngàn hộ dân đến nơi phòng tránh thiên tai an toàn. Đồng thời, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các đơn vị tham gia có hiệu quả công tác TKCN trên sông, trên biển; huy động lực lượng làm nhiệm vụ ứng cứu sập đổ công trình và phòng, chống cháy nổ, cháy rừng, khắc phục các sự cố thảm hoạ môi trường... Những kết quả đó càng khẳng định vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam trên mặt trận PCTT-TKCN, tô thắm thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; củng cố, tăng cường tình đoàn kết quân dân.
Thực tế việc thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN của Quân đội cũng có những vấn đề đặt ra. Để tiếp tục nâng cao khả năng PCTT-TKCN trong mọi tình huống, trước hết các đơn vị trong toàn quân phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Cần coi đây là nội dung quan trọng, xuyên suốt, có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ PCTT-TKCN của Quân đội trong tình hình hiện nay. Công tác tuyên truyền phải hướng vào làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về sự tàn phá khủng khiếp và hậu quả nặng nề do thiên tai, thảm họa gây ra; thấy rõ hơn vai trò nòng cốt, trách nhiệm nặng nề, nhưng vô cùng vinh quang của Quân đội với nhiệm vụ quan trọng này.
Mặt khác, cần tiếp tục đổi mới công tác huấn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết, kỹ năng thực hành trong PCTT-TKCN cho bộ đội, nhất là đối với lực lượng chuyên trách tại các khu vực địa bàn. Trên cơ sở chỉ lệnh của Tổng Tham mưu trưởng, các đơn vị cần chủ động xây dựng kế hoạch huấn luyện PCTT-TKCN cho phù hợp. Chương trình, nội dung, thời gian, hình thức và phương pháp huấn luyện cho từng đối tượng cần xác định cụ thể, từ kiến thức phổ thông, cách thức chằng chống nhà cửa, kho tàng, phương pháp sơ cứu, cấp cứu người bị nạn trong bão, lụt, thảm họa; kỹ thuật, kinh nghiệm đi lại trên sông nước bằng các phương tiện thông thường như bè mảng, thuyền chèo tay... Có như vậy mới phát huy cao nhất khả năng thế mạnh của từng lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ. Đối với các lực lượng chuyên trách, cần nâng cao phương pháp điều khiển, sử dụng các phương tiện TKCN hiện đại, nhất là các phương tiện trên biển, trên sông, khắc phục sự cố tràn dầu, cứu sập đổ công trình, chống cháy nổ, cháy rừng tại các địa hình phức tạp...
Trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần hiệp đồng chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương và các lực lượng có liên quan, tổ chức luyện tập, diễn tập theo các phương án đã được phê chuẩn, nâng cao khả năng PCTT-TKCN trên từng địa bàn, nhất là những địa bàn trọng điểm có nguy cơ cao. Bộ Quốc phòng sẽ phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan chức năng nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện nội dung giáo trình, tài liệu huấn luyện về PCTT-TKCN bảo đảm tính chuyên sâu phù hợp và đưa vào giảng dạy tại các trường trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn tổ chức, chuẩn bị lực lượng, trang bị, phương tiện hiên đại để chủ động đối phó có hiệu quả các tình huống. Hệ thống tổ chức TKCN của Quân đội cần được kiện toàn theo hướng thống nhất, đồng bộ, kiêm nhiệm và mang tính chuyên nghiệp, nhằm bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành cứu hộ, cứu nạn kịp thời. Ban chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống lụt bão, cháy nổ, cháy rừng, TKCN từ Bộ Quốc phòng đến các đơn vị phải thường xuyên kiện toàn, nâng cao trách nhiệm và trình độ. Chủ trương triển khai thành lập các cơ quan cứu hộ, cứu nạn ở một số đơn vị của Bộ Quốc phòng là rất cần thiết, nhưng cần phải ưu tiên đầu tư lựa chọn cả về con người và trang thiết bị nhằm nâng cao năng lực chuyên sâu, khả năng ứng phó với các tình huống, đặc biệt là trong những trường hợp khẩn cấp./.
St

Không để phai nhạt, xói mòn bản chất giai cấp công nhân của Đảng

Trải qua 94 năm xây dựng, hoạt động và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam đã minh chứng và khẳng định: Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là nguyên tắc cơ bản, chi phối toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là tiêu chuẩn cơ bản để nhận biết một Đảng mác xít chân chính; là nguồn sức mạnh của Đảng, nhân tố bảo đảm cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng thành công.

Mặc dù vậy, bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta có thể bị phai nhạt, xói mòn nếu không được thường xuyên củng cố, tăng cường và nâng lên một chất lượng mới. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng làm suy yếu Đảng ta về chính trị, tư tưởng và tổ chức; làm cho Đảng suy thoái, biến chất và dẫn đến tự tan rã giống như các Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Như Đảng ta đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”./.

 

 

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LẦN ĐẦU TIÊN ĐẾN THÀNH PHỐ VLADIVOSTOK

 Ngày 20/5, tại Hội trường khách sạn Versailles, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dừng chân trong những lần đến Vladivostok, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Vladivostok long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ lần đầu tiên đến thành phố này.

Tham dự sự kiện, có Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok Nguyễn Đăng Hiền, đại diện Bộ Ngoại giao Liên bang Nga tại Vladivostok Andrei Brovarest, Phó Chủ tịch Hội đồng lập pháp Vùng Primorye Sergey Alekseevich, Phó Thị trưởng Vladivostok, Chủ tịch Duma thành phố Vladivostok, đại diện Hội Hữu nghị Vùng Primorye, cùng đông đảo người Việt Nam sinh sống, học tập tại thành phố.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok Nguyễn Đăng Hiền đã ôn lại cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Đăng Hiền cho biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 3 lần đến Vladivostok vào các năm 1924, 1927 và 1934 để thực hiện nhiệm vụ của Quốc tế Cộng sản và tìm đường cứu nước.
Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.
Để ghi nhớ những lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Vladivostok, Chính quyền thành phố đã quyết định gắn biển lưu niệm tại nhà ga xe lửa và xây dựng Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại vườn hoa trên phố Borisenko.
Đây là tình cảm chân thành của nhân dân thành phố Vladivostok đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là nguyện vọng của cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại đây. Những công trình nói trên là minh chứng cho tình hữu nghị giữa Việt Nam và Liên bang Nga nói chung, giữa Vladivostok với Việt Nam nói riêng.
Trong thư chúc mừng gửi đến những người bạn Việt Nam, Thống đốc Vùng Primorye Oleg Kozhemyako đánh giá cao sự ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc phát triển lịch sử Việt Nam, đồng thời ông khẳng định, việc lưu giữ những ký ức về những sự kiện lịch sử quan trọng của hai nước là yếu tố bảo đảm tương lai ổn định và tin cậy.
Đại diện Bộ Ngoại giao Liên bang Nga tại Vladivostok Andrei Brovarest cho biết, Chính quyền và người dân thành phố Vladivostok cảm thấy rất tự hào khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 3 lần đến đây.
Quan hệ Việt Nam-Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng đã phát triển lên cấp Đối tác chiến lược toàn diện và không ngừng phát triển hơn nữa. Hai nước luôn có sự hiểu biết lẫn nhau và cùng mong muốn hòa bình, thịnh vượng.
Cùng ngày, Tổng Lãnh sự Việt Nam, cộng đồng người Việt tại Vladivostok, cùng những người bạn Nga đã đặt hoa bên Tượng đài Bác Hồ tại vườn hoa trên phố Borisenko.
Đứng trước Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người cùng nhau ôn lại công lao to lớn của Người, các dấu mốc lịch sử trong quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam và Liên bang Nga, ghi nhận tình cảm chân thành của nhân dân Nga nói chung và thành phố Vladivostok nói riêng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
ST

Nhận diện những âm mưu chống phá tổ chức Công đoàn


Về vai trò của tổ chức Công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, Công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức Công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp ...

Những luận điệu sai trái và xuyên tạc được chúng gieo rắc như: Công đoàn Việt Nam chỉ là bù nhìn; tổ chức Công đoàn Việt Nam không phải là để đại diện quyền lợi công nhân, mà là để theo dõi công nhân rồi đàn áp họ…

Đồng thời kích động, lôi kéo tham gia vào các hoạt động trái pháp luật và các cuộc tranh cãi, bày tỏ ý kiến, chia sẻ vụ việc, vấn đề cá nhân lên không gian mạng.

Đặc biệt, trong dịp Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội, chúng tấn công vào các vấn đề liên quan đến tài chính công đoàn; công khai, dân chủ trong hoạt động công đoàn…

Những hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gây chia rẽ, phân hóa giai cấp công nhân. Các thế lực thù địch cũng tiến hành nhiều phương thức tiếp cận để lôi kéo, liên kết, hợp tác để từng bước chuyển hóa, sử dụng thế lực phản động ngoài nước câu kết với nhóm phản động và những kẻ cơ hội trong nước để chống phá.

Sự thật là, qua quá trình hoạt động với bề dày truyền thống 95 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã và đang phát huy vai trò, sứ mệnh của mình, là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động. Thực tế đã chứng minh, không có tổ chức nào ngoài Công đoàn xứng đáng là đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động.

Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam.

Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - đã khẳng định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, quy mô của Công đoàn Việt Nam ngày càng được mở rộng, chất lượng nhiều mặt công tác được nâng lên, đã chủ động, linh hoạt trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện, xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hiệu quả, có sức lan tỏa, được đoàn viên, người lao động, cấp ủy, chính quyền và người sử dụng lao động ghi nhận… đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển và đổi mới đất nước.

Gần nhất, trong nhiệm kỳ vừa qua (2018-2023), như Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam đã khẳng định: “Các cấp Công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và hoạt động công đoàn; phát hiện, đề xuất nhiều kiến nghị, góp ý xây dựng luật để chăm lo, bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động. Vai trò của Công đoàn trong việc tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp tiếp tục được khẳng định…”.

Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức Công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết;

Đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức Công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn./.

 

 

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đòi phủ nhận vai trò của giai cấp công nhân


Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đó là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới.

Trải qua quá trình hoạt động, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để và là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Giai cấp công nhân cũng là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại.

Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang sử dụng một số luận điệu xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam.

Vẫn là những chiêu trò cũ nhưng được sử dụng lại, đặc biệt là trước, trong và sau Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam nhằm tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm của giai cấp công nhân Việt Nam.

Đầu tiên là những xuyên tạc, bóp méo vào hệ tư tưởng. Các thế lực phản động, cơ hội, thế lực thù địch thường xuyên có các chiêu trò xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong đó, chúng rêu rao rằng, Chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thời kỳ hưng thịnh của động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)… nên Chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp nữa.

Chúng cũng đưa ra những luận điệu hết sức lạc lõng rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay.

Mặt khác, trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa robot (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa.

Tất nhiên, đây chỉ là những luận điệu, quan điểm không có cơ sở khoa học, thiếu căn cứ thực tiễn về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thực tế quá trình cách mạng đã khẳng định, giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người.

Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đều được đề cập tới trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII.

Đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X đã khái quát: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X khẳng định: “Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Trong bài viết: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” nhân dịp 94 năm kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.

Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, có thể thấy, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là không thể phủ nhận. Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn như Đảng ta đã khẳng định: “Trong thời kỳ đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”./.